Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Việt Nam nằm trong top những nước có tham nhũng cao nhất thế giới

Việt Nam nằm trong top những nước có tham nhũng cao nhất thế giới

(ĐSPL) - Theo điều tra của một cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập ở nước ngoài thì Việt Nam là một trong những nước có tình trạng tham nhũng cao trên thế giới.
Sáng 31/12, đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến – Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội đã có buổi trao đổi với độc giả tại giao lưu trực tuyến do báo Tuổi Trẻ tổ chức.
Trước thắc mắc của một độc giả rằng không biết tham nhũng ở Việt Nam đang ở mức nào, và muốn phòng chống tham nhũng thì phải làm từ đâu, từ trên xuống hay từ dưới lên, có nhất thiết phải hy sinh cả một thế hệ cán bộ để làm lại từ đầu cho lớp cán bộ mới hay không, đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến cho rằng: “Theo điều tra của một cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập ở nước ngoài thì Việt Nam là một trong những nước có tình trạng tham nhũng cao trên thế giới”.
Vì thế, Đảng và Nhà nước ta mới xác định đây là quốc nạn cần phải kiên quyết trong việc phòng và chống. Chúng ta phòng chống tham nhũng không phải là hy sinh cả một thế hệ cán bộ để làm lại từ đầu mà là để loại bỏ những con sâu con mọt đục khoét tài sản quốc gia ra khỏi bộ máy.
Trong bộ máy công quyền của chúng ta còn có rất nhiều người tốt, hết lòng vì nước vì dân, nếu không như thế thì không thể có một xã hội ngày càng phát triển như hiện nay. Cũng như trong một ruộng lúa thì bao giờ cũng có cỏ dại, vấn đề là chúng ta phải nhổ cỏ dại để lúa tốt hơn.
Việt Nam nằm trong top những nước có tham nhũng cao nhất thế giới - Ảnh 1
Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến.
Trước đó, trong phần chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại kỳ họp Quốc hội, đại biểu Lê Như Tiến cũng bày tỏ mong muốn sẽ nhận được câu trả lời của thủ tướng về việc xử lý “quốc nạn” tham nhũng, ông thẳng thắn chất vấn Thủ tướng: “Thủ tướng đã đề nghị cắt bỏ hoặc trực tiếp cắt bỏ được bao nhiêu ung nhọt, quốc nạn tham nhũng?" Sao Thủ tướng im lặng mãi? Tôi hy vọng và chờ đợi Thủ tướng trả lời”. Tuy nhiên, ông cũng cho biết, cho đến thời điểm hiện tại ông vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của Thủ tướng và cũng chưa thấy câu trả lời trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ.
Bên cạnh đó, nhiều người thắc mắc, tham nhũng bắt nguồn từ việc lương thấp, vì lương thấp nên các cán bộ “nhũng nhiễu” dân, vậy nếu lương tăng thì tham nhũng có giảm hay không? Giải đáp thắc mắc ấy, ông Tiến thừa nhận rằng chính vì lương thấp, không đủ đảm bảo cuộc sống chính là một trong những nguyên nhân khiến cán bộ, công chức "chân ngoài dài hơn chân trong", lấy việc phụ, thu nhập phụ thành việc chính, thu nhập chính, như vậy thì việc phụ lại thành việc chính, rồi nhũng nhiễu, tham nhũng để bù đắp vào phần thiếu hụt trong đời sống.
Tuy nhiên, không phải cứ nâng lương cao lên thì sẽ hết tham nhũng. Bởi vì, trong thực tế những kẻ tham nhũng thường là những người có chức, có quyền,có địa vị và đồng lương thì không hề thấp chút nào, thậm chí còn là những người lãnh lương "khủng", nhưng họ vẫn là chủ thể của tham nhũng bởi lòng tham là vô đáy, không giới hạn. Khi lòng tham đã ngự trị trong những con người này thì không biết bao nhiêu là đủ.
Việt Nam nằm trong top những nước có tham nhũng cao nhất thế giới - Ảnh 2
Việt Nam là một trong những nước có tình trạng tham nhũng cao nhất thế giới. Ảnh minh họa.
Trong cuộc trao đổi với độc giả, ông Lê Như Tiến cho biết, đã từng nghe thông tin một cán bộ cấp phòng ở Hà Nội mà tài sản tăng thêm trong một năm có giá trị đến hàng tỷ đồng, thử hỏi với một cán bộ công chức cấp phòng có mức lương khoảng 4-5 triệu đồng/tháng thì lấy đâu ra số tiền "khủng" đó nếu không phải là tham nhũng. Nhưng vì không công khai cho nên không ai biết được, chỉ khi các cơ quan pháp luật vào cuộc thì mới lộ chân tướng. Thêm một ví dụ điển hình là Dương Chí Dũng do tham nhũng mà có hàng chục tỷ đồng để mua nhà nọ nhà kia cho "bạn gái".
Qua đó, ông khẳng định rằng: “Kê khai tài sản là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, kê khai phải đi liền với công khai và trách nhiệm giải trình để cơ quan, đơn vị, tổ chức, người dân giám sát”.
Hoài Thu/Báo Đời sống & Pháp luật
Đọc tin tức 24h sự kiện hay nhất trong ngày của Báo Đời Sống Pháp Luật

XEM THÊM TIN XÃ HỘI




HỌP MẶT ĐỒNG HƯƠNG LÀNG SIÊU QUẦN NĂM 2016


HỌP MẶT ĐỒNG HƯƠNG LÀNG SIÊU QUẦN
 NĂM 2016
.
 
Sáng ngày Chủ Nhật 17/7/2016 (nhằm ngày 14/6 năm Bính Thân), tại Nhà hàng Tano 2, số 24-26-28, Đường Tây Thạnh, Quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh, hội Đồng hương Làng Siêu Quần - Thừa Thiên Huế - tại T.p HCM đã tổ chức họp mặt hằng năm như định kỳ.
            Đến dự có đông đủ bà con xa quê Làng Siêu Quần đang làm ăn sinh sống tại 24 quận huyện Tp. HCM và các tỉnh lân cận. Về phía quan khách có đại biểu của hội đồng hương huyện Phong Điền cùng hơn 16 đơn vị đồng hương làng xã thuộc huyện  tại Tp. HCM. Ông Trần Văn Mây, phó chủ tịch thường trực hội đồng hương Phong Điền, thay mặt hội, đã trao tặng lẵng hoa và phát biểu chúc mừng.
            Nội dung họp mặt bao gồm nghi lễ dâng hương trước bàn thờ vọng hướng về tổ tiên, với đầy đủ hương, hoa, trà, bánh và các lễ vật  truyền thống. Vào phần diễn đàn họp mặt, mở màn với lời phát biểu khai mạc, chào mừng  và báo cáo hoạt động năm qua của Hội trưởng. Tiếp theo là phát phần thưởng khuyến học cho học sinh, con em của hội viên. Sau đó có thủ tục bầu lại ban chấp hành mới nhiệm kỳ 2016-2019. Kết quả ông Nguyễn Văn Phước vẫn được lưu nhiệm với đa số phiếu. Cuối cùng  là liên hoan mặn và xen kẻ phần văn nghệ giúp vui.

§  Vài nét về làng Siêu Quần
            Siêu Quần là một làng nhỏ thuộc xã Phong Bình của huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế,  Bắc giáp làng Vân Trình, Tây giáp Vĩnh An, Đông giáp xã Phong Chương, Nam giáp Phò Trạch và Đông Mỹ. Làng được thành lập vào nửa cuối thế kỷ 16, sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa (1558). Dân số gồm 203 hộ (số liệu năm 2003). Đây  là một làng quê nông nghiệp và cũng như bao ngôi làng khác của huyện Phong Điền, qua nhiều giai đoạn lịch sử, một số bà con đã phải rời xa quê nhà đi mưu sinh lập nghiệp ở xa xứ, trong đó có Tp. HCM.
           
Đặc biệt, đây là ngôi làng có cùng tên với làng Siêu Quần ờ xã Tả Thanh Oai, thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Đây là sự trùng họp ngẫu nhiên hay có một sợi dây liên quan với nhau nào đó chăng? Điều đáng lưu ý là hai ngôi làng cùng có một đặc điểm chung: đó là địa thế của làng, cả hai cùng tọa lạc trên hai nền đất cao và bao quanh là vùng trũng, nên làng Siêu Quần ở Thừa Thiên Huế xưa kia còn được gọi là làng Gò hay làng Cồn.
           
Về ý nghĩa tên Siêu Quần, nhiều người cho là hơi lạ, cần tìm hiểu sâu mới có lời giải đáp thỏa đáng. Cũng như tên làng Kế Môn – mà hiện nay vẫn còn tranh cãi, chưa nhứt trí về ý nghĩa thực sự vậy. Đây là những cái tên thuộc vào loại đặc biệt, không đơn giản và dễ hiểu như tên các làng khác, chẳng hạn như Phước Tích, Đại Lộc, Điền Hải, Vĩnh Xương hay Thanh Hương…Cũng bởi những tên này, xưa kia, tổ tiên  thường đặt bằng từ Hán Nôm nên muốn hiểu rõ cần tra cứu bằng Hán tự hay Nôm tự mới chính xác. Nói cách khác là phải biết hai từ "Siêu và Quần" viết theo Hán Nôm tự lúc khởi thủy ra sao.
            Tuy vậy, có thể nêu ra một vài giả thuyết, lấy từ nghiên cứu của chính người làng Siêu Quần hay cập nhật thông tin trên các trang mạng. Chẳng hạn như trên Google: “Tên làng Siêu Quần bắt nguồn từ tên Nôm là Kẻ Gùn. “Gùn” có nghĩa là “quần tụ”; còn “Siêu” ý chỉ làng là nơi sinh tụ của dân từ rất nhiều địa phương khác nhau”. Còn nếu vào Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh sẽ thấy hai từ “Quần” và “Siêu” mang rất nhiều nghĩa, nhưng ý nghĩa phổ quát của “Quần” vẫn là hội tụ, là tập hợp, tập thể (như trong các từ ghép: quần chúng, quần thể, quần cư, quây quần…). Còn “Siêu” là cao, là vượt lên trên. Còn nhớ lúc khởi thủy, làng Siêu Quần của Phong Điền, Thừa Thiên Huế còn có tên là “Siêu Loại” mang ý nghĩa là “vượt lên trên đồng loại”. Vậy thì ngoài ý nghĩa nhân văn như đã giải thích, chữ "siêu" ở đây có lẽ còn bao hàm cả ý nghĩa về địa lý chăng?
            Đặc biệt, ở vùng đất làng Siêu Quần có cây mưng (tức lộc vừng) là thổ sản quý. Mặc dầu ở đâu đó trong vùng Thừa Thiên Huế ta đều thấy có giống cây này, nhưng ở Siêu Quần, số lượng cổ thụ so ra vẫn áp đảo. Trước đây, vào thời điểm cây lộc vừng được ưa chuộng để làm cây cảnh, những cây với dáng đẹp đã được thương lái trả với giá hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu, nhưng dân làng Siêu Quần vẫn quyết định không  bán. Lý do là bởi lộc vừng, với lợi thế cành lá rậm rạp, tuổi thọ cao, lại dẽo dai, chịu nước, trong quá khứ đã hình thành như một bức tường chắn sóng, chắn gió, bảo vệ ngôi làng khi gặp sự cố lũ, bão.
Chính vì vậy mà cây lộc vừng từ lâu đã trở thành một di sản quý báu của tổ tiên, và nay xứng danh là một đặc sản văn hóa, là biểu tượng của làng Siêu Quần, mà người dân làng ai cũng tự hào và quyết tâm bảo tồn, gìn giữ.

           Sau đây là một vài hình ảnh tiêu biểu trong buổi họp mặt:


 

 

 

 
Bài và Ảnh: THAO MẠNH



Cập nhật ngày Thứ hai, 18/07/2016

Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc

Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc

Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) - “...Vụ Formosa là một thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, về quy mô cũng như về mức độ và tầm vóc của vấn đề... Tôi chưa xét đến di họa Formosa dưới góc độ môi trường, kinh tế, mà chỉ nói về văn hóa thôi, cũng đã thấy nó khủng khiếp thế nào! Nó ảnh hưởng đến văn hóa và công nghiệp du lịch của 4 tỉnh miền Trung, với hàng chục bãi biển đẹp và hàng triệu người dựa vào đó để sống. Giống nòi Việt Nam sẽ ra sao? Sẽ có bao nhiêu trẻ con đẻ ra sau những tháng năm này sẽ bị ảnh hưởng, còn hơn cả ảnh hưởng từ chất độc màu da cam. Người dân ngay bây giờ đã bị phù nề, lở loét mà mạng xã hội mấy hôm nay đã đưa hình ảnh. 

Cá chết, biển chết. Ngư dân trở thành người đi xuất khẩu lao động. Biển chết và bị bỏ trống, biển vô chủ vì thiếu vắng những “cột mốc sống”... - TS. Nguyễn Xuân Diện.

*

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện sinh năm 1970 tại Làng cổ Đường Lâm, xứ Đoài, một ấp sinh hai vua là những vị anh hùng dân tộc đó là Ngô Quyền và Phùng Hưng. 

Nguyễn Xuân Diện tốt nghiệp ngành Hán Nôm, ĐH Tổng hợp HN năm 1992; bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2007 về đề tài Ca trù. Đây cũng là luận án Tiến sĩ đầu tiên về Ca trù tại Việt Nam. 

Từ sở học và hiểu biết của mình, TS Nguyễn Xuân Diện đã cất lên tiếng nói phản biện về nhiều mặt trong đời sống văn hóa nước nhà. Ông tham gia phản biện với tinh thần “tự nhiệm” và đầy kiêu hãnh của kẻ sĩ. Ông hầu như không vắng mặt trong các cuộc tưởng niệm, biểu tình ôn hòa tại Hà Nội từ năm 2011 đến nay để bày tỏ lòng yêu nước, phản đối nhà cầm quyền Bắc Kinh gây hấn trên Biển Đông, tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ; hoặc các cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh Hà Nội, bảo vệ biển Miền Trung mới đây. 

TS. Nguyễn Xuân Diện là chủ trang Blog với hàng chục ngàn lượt truy cập mỗi ngày với tin bài phong phú, cập nhật, trung thực và khách quan, là nơi bạn đọc khắp trong và ngoài nước gửi gắm niềm tin tưởng và quý mến. 

Mới đây, ông đã tự ra ứng cử đại biểu Quốc hội với mong muốn đem trí tuệ và tâm huyết để thực thi “quyền lực” của một đại biểu Quốc hội trước các vấn đề lớn của đất nước hôm nay. Rất tiếc là đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Mặt trận – một tổ chức ngoại vi của đảng đã loại ông ngay sau vòng hiệp thương thứ hai. 

Phạm Thanh Nghiên có dịp trò chuyện cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện để thảo luận về một đề tài -rất tiếc, không nhiều người quan tâm, nhưng lại là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia: Văn hóa và tinh thần dân tộc. 

Phạm Thanh Nghiên: Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, xin cảm ơn ông đã vui lòng dành cho tôi cuộc trò chuyện hôm nay. 

Thưa ông, là một nhà nghiên cứu về Hán Nôm, về văn hóa và lịch sử, xin ông cho biết một cách khái quát về sự ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc đối với nước ta như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử? 

TS. Nguyễn Xuân Diện: Trước hết xin cám ơn cô Thanh Nghiên đã hỏi đến tôi, và lại hỏi về một vấn đề mà tôi có chút hiểu biết, có quan tâm. 

Về ảnh hưởng của văn hóa Phương Bắc, mà ở đây là văn hóa Trung Hoa, thì đây là vấn đề thuộc về quy luật. Các nền văn hóa lớn, lâu đời luôn ảnh hưởng lớn mạnh và sâu rộng ra chung quanh nó. Văn hóa Trung Hoa do vậy, có sức ảnh hưởng ghê gớm tới chung quanh như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Một trong những ảnh hưởng lớn nhất, mang tính quyết định là ảnh hưởng của chữ Hán đến các nước vừa kể, và từ đó người ta gọi chung các nước có sử dụng chữ Hán là các nước trong khối “chữ vuông”(tức mỗi chữ được trình bày trong một ô vuông). 

Chữ Hán là một văn tự lâu đời. Từ chữ Hán đã làm xuất hiện những đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa và thế giới như: Sở từ, Hán phú, Đường thi, từ Tống, tiểu thuyết Minh Thanh, nghệ thuật thư pháp... 

Do điều kiện lịch sử, chữ Hán đã được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, rồi từ đó lại tiếp tục được sinh sôi tạo nên các chữ viết mới mà chữ Nôm của người Việt Nam là một ví dụ (chúng ta có chữ Nôm - Việt, chữ Nôm - Tày, chữ Nôm - Dao…). Ngôn ngữ Hán văn khi truyền sang Việt Nam, đến nay vẫn còn giữ được âm đọc từ thời Đường, giàu có về âm sắc và thâm trầm về ý nghĩa. Cách sử dụng và cách đọc chữ Hán của người Việt tạo nên từ Hán Việt rất riêng của Việt Nam và từ đó dòng văn học chữ Hán và dòng văn học chữ Nôm hình thành và phát triển, tạo nên các tác phẩm và tác gia văn học lớn. 

Với hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam đã bị áp đặt hoặc tự áp đặt cho mình một mô hình nhà nước theo mẫu của Trung Hoa. Đó là điều khó tránh khỏi! 

Phạm Thanh Nghiên: Có nghĩa là tuy chịu sự ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, nhưng người phương Bắc đã không thể thống trị được người Việt. Vậy ông lý giải thế nào về sức đề kháng của văn hóa Việt trước sự xâm lăng của văn hóa Tàu? 

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Đúng rồi, thưa cô! Trong lịch sử, cứ mỗi lần có một triều đình, một nhà nước chủ trương xa rời và “ly khai” với ảnh hưởng Trung Hoa thì khi ấy tinh thần phi Hoa, giải Hoa mạnh mẽ lan tỏa trong lòng xã hội, và khi ấy đất nước được độc lập thực sự, văn hóa và tư tưởng khai phóng và nhiều thành tựu. 

Thời đại Lý - Trần (thế kỷ XI – XIII) nước Đại Việt học mô hình chính trị Trung Hoa, nhưng có nhiều sáng tạo, nhiều thành tựu, nhiều thành công là bởi vì Lý - Trần là thời đại của Đa nguyên và Khai phóng. 
Đa nguyên về chính trị (các thủ lĩnh tôn giáo Nho - Phật - Lão được vua mời vào cung bàn chính sự và tham khảo kế sách). Đa nguyên về tôn giáo (Nho - Thích - Đạo tịnh hành, cùng phát triển); Đa nguyên về văn hóa (Văn hóa Lý - Trần tiếp thu từ Trung Hoa - Ấn Độ và Chàm). 

Chính Đa nguyên và Khai phóng khiến cho thời đại Lý -Trần trở thành một thời đại hoàng kim trong lịch sử trung đại Việt Nam. 

Tóm lại, ảnh hưởng về văn hóa của Trung Quốc đối với ta là tất yếu. Nhưng tự thân sự ảnh hưởng này đã bao gồm sự tương tác qua lại, và sự tiếp biến văn hóa (tức là làm mới, làm khác). Chữ Nôm, thơ Nôm song thất lục bát, ẩm thực, ăn vận, điêu khắc đình làng…là những sáng tạo đặc biệt, riêng khác và độc lập với văn hóa Trung Hoa. Chính nhờ đó mà văn hóa Việt Nam giữ được bản sắc riêng, và tạo nên sức đề kháng và sức mạnh nội sinh mà văn hóa dân tộc ta không bị đồng hóa, thôn tính. Tức là có lúc mất nước, nhưng không mất văn hóa. 

Về thể chế, nếu triều đại nào có vua sáng, tôi hiền thì biết vực cả nước đứng lên độc lập, đối thoại với Trung Hoa không chỉ biên cương, bờ cõi mà còn cả về văn hóa, phong tục và ngôn ngữ. Thời đại Lý Trần thế kỷ XI – XIII và thời đại Lê – Trịnh thế kỷ XVII – XVIII là ví dụ. Thời Nguyễn thì ta rập khuôn theo Tàu, thậm chí còn “Tàu hơn cả Tàu” nữa, vì vua lú, tôi ngu nên cuối cùng đất nước mất vào tay thực dân Pháp. 

Phạm Thanh Nghiên: Có nhiều ý kiến cho rằng, kể từ khi đảng CSVN lên cầm quyền thì người Việt chúng ta đã trở nên lạc hậu về văn hóa và sa sút về tinh thần- cái tinh thần dân tộc vốn là niềm kiêu hãnh của chúng ta suốt chiều dài lịch sử. Tiến sĩ nghĩ sao về ý kiến này? 

TS Nguyễn Xuân Diện: Thưa cô, người cộng sản thì vô thần, và tinh thần dân tộc thì đặt dưới tinh thần quốc tế vô sản. Vô thần thì đền chùa, đình miếu, nhà thờ họ … phải đập bỏ vì tôn giáo và tín ngưỡng là “thuốc phiện” của nhân dân lao động. Tinh thần quốc tế vô sản học theo Trung Quốc và dưới sự bảo kê của Liên Xô nên mới có cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất. 

Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc để lại hậu quả vô cùng lớn đối với văn hóa cố truyền khi chính quyền hô hào đạp đổ tầng lớp địa chủ và trí thức cũ, quét bỏ những "tàn dư phong kiến". Về mặt văn hóa thì nhiều sách vở chữ Nho và chữ Nôm, hoành phi, câu đối của những gia tộc quyền thế bị đốt, đình, chùa, đền, miếu bị hủy hoại. Về giá trị truyền thống thì quan hệ trong nhiều gia đình, xóm giềng bị phá vỡ do những cảnh con cái tố khổ cha mẹ, láng giềng làm hại lẫn nhau khiến đạo lý cổ truyền suy sụp. Về nòi giống thì 220 ngàn người bị chết hoặc mất tích trong cải cách ruộng đất, sau các cuộc đấu tố tàn độc. Họ là những ai? Họ chính là những cá thể có trí tuệ và giàu kinh nghiệm trong việc làm giàu. Các cá thể ấy được như vậy là do họ được di truyền trong những dòng giống khoa bảng, những gia tộc nền nếp gia phong. Nghe theo Trung Quốc thực hiện cải cách ruộng đất là tiếp tục thực hiện chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” do Tổng bí thư Trần Phú (lúc 26 tuổi) đề ra, tiêu diệt hết tầng lớp tinh hoa, ưu tú của dân tộc. 

Cảnh đấu tố ấy, mấy năm gần đây cơ hồ quay lại, với việc đấu tố cô Nhã Thuyên, đấu tố các ứng viên đại biểu Quốc hội, và gần đây nhất là đấu tố MC Phan Anh… 

Tiêu thổ kháng chiến chống Pháp 9 năm đã khiến người dân đốt cháy biết bao đình chùa đền miếu. Đó chính là những bảo tàng sống động về văn hóa. Chúng ta mất bao nhiêu di sản khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được ban ra? 

Và rồi ngay sau đó là hợp tác hóa nông nghiệp. Người ta hùng hổ phá bỏ đền chùa, đình miếu, lấy hoành phi, câu đối làm bàn ghế, lấy bia đá để đập lúa, bắc cầu, v.v... Bài học cay đắng đó, đến nay còn hằn in trong ký ức nhiều người! 

Nhưng, đã có người thấy hân hoan khi chùa lớn, tượng to, nhà thờ khủng đang được xây dựng lại khắp nơi từ nam chí bắc. Xin thưa, những nơi to lớn ấy như Bái Đính, Đại Nam Lạc cảnh nơi thì như bản sao của Tàu, nơi thì quá phô trương, kệch cỡm, khác xa truyền thống Việt. 

Cách đây 10-15 năm, một số người giàu có kết hợp với các quan chức coi việc trùng tu hoặc nâng cấp mở ra các chùa chiền đấy là cách làm ăn, kinh doanh của họ. Họ chỉ mượn các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để kinh doanh, đây là mối lợi béo bở giữa các thế lực chức sắc tôn giáo, các doanh nghiệp giàu có và các quan chức từ trung ương đến địa phương. Ba thế lực chân vạc này nó tạo nên những cái khu du lịch Bái Đính ở Ninh Bình và Đại Nam Lạc Cảnh ở Bình Dương và sắp tới đây là khu tháp Phật ở Thái Nguyên… 

Phạm Thanh Nghiên: Còn các di sản phi vật thể thì sao, thưa ông? 

TS Nguyễn Xuân Diện: Xin đơn cử về lễ hội. Xuất hiện cả một phong trào sân khấu hóa lễ hội, đã làm biến dạng và tha hóa các giá trị của lễ hội. 

Nước ta đang dấy lên chuyện tâm linh, nhưng toàn cổ xúy cho những lệch lạc, mê lầm. 

Đáng lẽ đền Trần là nơi giáo dục hào khí Đông A và tinh thần yêu nước thì thành ra nơi cổ xúy chuyện ấn triện, thăng tiến và lợi lộc, mua quan bán chức. Ấn đền Trần Nam Định, Thái Bình, rồi ấn Hoàng thành Thăng Long, và vừa rồi là ấn đền Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa nữa. 

Đáng lẽ đền Trần Thương, đền Bà Chúa Kho là nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước thì thành ra nơi mặc cả vay mượn, mua bán quàng xiên. 

Đáng lẽ lễ Tịch điền, đàn Xã Tắc là nơi giáo dục lòng biết trọng nông thuần phác thì lại thành ra nơi lòe loẹt, cờ đèn kèn trống. 

Lễ hội đang dẫn cả dân tộc này đi lạc đường! Dân ta đang được dẫn vào bến lú sông mê. Và nhà cầm quyền không giải được các bài toán hiện tại, bất lực, đành để cho dân xuống con thuyền lễ hội và tín ngưỡng đi vào bến lú sông mê, quên hết... quên hết... 

Phạm Thanh Nghiên: Thưa Tiến sĩ, nếu cần lựa chọn một sự kiện thời sự cụ thể để “định hình” tinh thần Việt, tôi nghĩ đó là sự kiện Formosa. Liệu người dân VN có đủ sức để đẩy lùi thủ phạm gây ra nạn ô nhiễm môi trường mà hậu quả của nó ảnh hưởng lâu dài đến tương lai chúng ta và nòi giống Lạc Hồng? 

TS Nguyễn Xuân Diện: Cô làm tôi giật mình trở về với thực tại rồi đấy! Vụ Formosa là một thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, về quy mô cũng như về mức độ và tầm vóc của vấn đề. Tôi chưa xét đến di họa Formosa dưới góc độ môi trường, kinh tế, mà chỉ nói về văn hóa thôi, cũng đã thấy nó khủng khiếp thế nào! 

Nó ảnh hưởng đến văn hóa và công nghiệp du lịch của 4 tỉnh miền Trung, với hàng chục bãi biển đẹp và hàng triệu người dựa vào đó để sống. Giống nòi Việt Nam sẽ ra sao? Sẽ có bao nhiêu trẻ con đẻ ra sau những tháng năm này sẽ bị ảnh hưởng, còn hơn cả ảnh hưởng từ chất độc màu da cam. Người dân ngay bây giờ đã bị phù nề, lở loét mà mạng xã hội mấy hôm nay đã đưa hình ảnh. 

Cá chết, biển chết. Ngư dân trở thành người đi xuất khẩu lao động. Biển chết và bị bỏ trống, biển vô chủ vì thiếu vắng những “cột mốc sống”. 

500 triệu đô la Mỹ mà Chính phủ loan báo là Formosa bồi thường, đến nay ai đã trông thấy đồng nào? Có lẽ là Chính phủ và các bộ ngành cũng chưa dám thò tay nhận những đồng tiền này, vì mấy nhẽ: Thứ nhất: Dựa vào đâu, dựa vào đánh giá nào và căn cứ pháp lý nào để nhận số tiền đó. Nhận sẽ bị Formosa kiện thẳng thừng, và khi ấy chính phủ Việt Nam có đủ mo nang để che mặt không?; Thứ nhì: Cầm số tiền đó mà bán cả mấy trăm cây số biển Miền trung, là nồi cơm của hàng chục triệu con người, mà mạng sống của họ hiện nay còn chưa biết là sẽ ra sao, vì chất độc còn chưa phát tác ra thành ung thư, dịch bệnh, thương tật… thì có xứng và có dám cầm không? 

Tóm lại, mệnh lệnh của tổ tiên chúng ta là hãy giữ cho bằng được di sản của tổ tiên. Không có một món tiền nào có thể mua được sinh mệnh của mấy chục triệu người con đất Việt dải đất miền Trung. Không có một nhà máy thép nào có thể cho hàng triệu ngư dân cuộc sống như là biển cả. 

Vì vậy, chắc chắn người dân Miền Trung sẽ khước từ mấy triệu đồng gọi là bồi thường của Formosa vì cái họ cần là biển sạch, là tôm cá đầy khoang mỗi khi thuyền về bến. Và như vậy chỉ có cách là phải yêu cầu chính phủ Việt Nam đóng cửa và chấm dứt hoạt động của Formosa, yêu cầu Formosa phục hồi các miền biển chết cho đến khi trở lại bình thường. 

Phạm Thanh Nghiên: Thưa Tiến sĩ, xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện hôm nay. Mong rằng lại có dịp được gặp gỡ ông trong các chủ đề khác. Xin chúc ông dồi dào sức khỏe và bền chí trong công cuộc giữ gìn văn hóa dân tộc. 

21.07.2016

Đường 2.300 tỷ đồng thành sân phơi rơm sau 2 tháng thông xe

Đường 2.300 tỷ đồng thành sân phơi rơm sau 2 tháng thông xe


Thứ năm, 21/7/2016 | 01:00 GMT+7
Được thông xe cách đây hơn 2 tháng, tuyến đường nối khu đô thị Mê Linh (Hà Nội) với tỉnh Vĩnh Phúc dài gần 15 km, tổng đầu tư 2.300 tỷ đồng, lại bị rào chắn hai đầu, trở thành sân phơi rơm của nông dân.
Giữa tháng 5, dự án đường trục trung tâm khu đô thị mới Mê Linh đi vào hoạt động sau 4 năm thi công. Tuyến đường dài 15 km, trong đó đoạn qua Hà Nội dài 12 km, với điểm đầu là đường Bắc Thăng Long - Nội Bài thuộc xã Nam Hồng, huyện Đông Anh và điểm cuối tại xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
 
Sau hơn 2 tháng thông xe, tuyến đường này ngừng lưu thông, cả hai điểm đầu và cuối của dự án đều được chắn bởi hàng rào tôn.
 
Một số phương tiện từ trong các khu dân cư ven đường đi đến đây phải quay đầu tìm lối khác.
 
Theo thiết kế, đường có mặt cắt ngang rộng 100 m, mỗi bên có hai làn xe cơ giới lưu thông.
 
Dải phân cách giữa rộng 9 m, được trồng cỏ và cây cảnh.
 
Vỉa hè 13 m và mỗi bên đường gom rộng gần 7 m, phần lớn đã được hoàn thiện, do chưa có người đi lại nên nhiều đoạn cỏ mọc um tùm. Nhiều đoạn khác vật liệu xây dựng, cát, sỏi tràn ngập.
 
Một số đoạn dải phân cách giữa được bố trí những cột đèn chiếu sáng khá bắt mắt.
 
Nhiều đoạn có những đống đất che kín đường. Một số công nhân cho hay, do phải sửa một số hố ga nên phải đào lên để lắp đặt lại.
 
Vỉa hè đoạn đầu dự án giáp với quốc lộ 2 vẫn đang được hoàn thiện.
 
Đầu giờ chiều trời nắng 39 độ C, nhiều công nhân cầm ô quét dọn vệ sinh để chuẩn bị kẻ vạch sơn bên dải phân cách đoạn đường dẫn vào trục chính.
 
Trên vỉa hè của tuyến đường còn một ngôi nhà chưa được phá dỡ.
 
Một điểm khác tại đoạn qua huyện Đông Anh, lòng đường thành điểm phơi rơm.
 
Để phục vụ dự án, tổng diện tích đất thu hồi gần 142 ha, trong đó địa phận Hà Nội hơn 128 ha, Vĩnh Phúc trên 13,6 ha. Phần lớn diện tích đều là đất nông nghiệp.
Trước đó, phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Văn Trì khẳng định, dự án sau khi đi vào hoạt động là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế xã hội của 2 địa phương Vĩnh Phúc và Hà Nội, phục vụ cho mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, tạo thêm sự kết nối giữa thủ đô với các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp.
 
Trao đổi với VnExpress về việc thông xe cách đây hơn 2 tháng nhưng không cho phương tiện qua lại, lãnh đạo Ban quản lý dự án cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc (chủ đầu tư) cho biết, việc làm lễ thông xe là để thông báo dự án đã cơ bản hoàn thành, còn thực tế dự án vướng mắc trong thủ tục nghiệm thu bàn giao.
“Thông thường, căn cứ theo quy định của Chính phủ với công trình sử dụng vốn vay nước ngoài thì tính từ ngày hoàn thành đến thời điểm hoàn công, nghiệm thu là 84 ngày, hiện nay tuyến đường vẫn trong quá trình hoàn tất hồ sơ, nghiệm thu nên không thể đưa vào hoạt động ngay được”, vị này giải thích.
Trước mắt để đẩy nhanh tiến độ bàn giao, nghiệm thu, chủ đầu tư đã báo UBND tỉnh Vĩnh Phúc đề xuất phối hợp với Hà Nội và Bộ Xây dựng đi kiểm tra thực tế và nghiệm thu trước, sau đó có thể cho phương tiện lưu thông rồi làm thủ tục bàn giao sau. “Tuy nhiên việc này cũng có thể gặp khó vì còn phải chờ quyết định của Bộ Xây dựng”, đại diện chủ đầu tư nhấn mạnh.
Cũng theo vị này, hiện nay về cơ bản công trình đã hoàn tất phần đường chính, các hạng mục kẻ sơn và vạch kẻ đường đã hoàn thiện, chỉ còn một số hạng mục tu sửa nhỏ như các hố ga, vỉa hè. “Với tiến độ như hiện nay, dự kiến cuối tháng 8 sẽ bàn giao đường và đầu tháng 9 có thể cho các phương tiện lưu thông”, vị này khẳng định.
 

 
Bá Đô - Giang Huy