Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Âm nhạc đánh sập bức tường Berlin ? 
    

Thursday, October 31, 2019

BM
Bức Tường Berlin, nhìn từ Đông Đức trước ngày sụp đổ. Jean-Claude Mouton

o lúc nước Đức chuẩn bị kỷ niệm 30 năm Bức Tường Berlin sụp đổ, nhiều nơi trên thế giới, thanh thiếu niên nắm lấy vận mệnh tương lai, RFI nhìn lại vai trò của giới trẻ tại Đông Berlin 30 năm trước đã góp phần dẫn tới sự tan rã của khối Xã Hội Chủ Nghĩa: Âm nhạc là nhát búa đầu tiên đánh sập Bức Tường Berlin.

BM
  
Ngày 09/11/1989 bức tường chia cách thành phố Berlin trong suốt 28 năm sụp đổ, chiến tranh lạnh chấm dứt. Trên thực tế bức tường tưởng chừng là kiên cố này đã rạn nứt từ lâu. Tháng Giêng 1989 chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức Erich Honecker tuyên bố bức tường Berlin còn đứng vững mãi cả ”trăm năm nữa”. Chỉ mười tháng sau, người dân Berlin với búa rìu đã đập tan nát biểu tượng của sự chia cắt và qua đó khép lại hơn 40 năm chiến tranh lạnh, khối Xã Hội Chủ nghĩa tan rã, Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản cáo chung.

Âm nhạc vũ khí lợi hại của phương Tây

BM
  
Những nhát búa đầu tiên giáng xuống bức tường thực ra đã được khởi động từ trước năm 1989. Mọi việc khởi đầu với buổi trình diễn của nam danh ca người Mỹ, Bruce Springsteen ngày 19/07/1988. Anh là nghệ sĩ Tây phương nổi tiếng đầu tiên đến Đông Berlin trình diễn. Trong vỏn vẹn bốn giờ đồng hồ, hơn 300.000 thanh niên Đông Đức khao khát tự do bị ca khúc Chimes of Freedom, nhạc và lời của Bob Dylan làm mê hoặc. Cho dù trước đó, Bruce tuyên bố với khán giả rằng anh đến diễn trên sân khấu Đông Berlin không để ủng hộ một chính quyền của ”phe này hay phe khác mà chỉ để đưa dòng nhạc rock’n roll đến với khán giả Đông Berlin”. Dù vậy, Spingsteen không quên nói lên nguyện vọng tự đáy lòng : Anh "hy vọng một ngày nào đó những rào cản sẽ được dỡ bỏ”.

BM
  
Vài tháng trước đó, tiếng hát của hai nhạc sĩ lớn của thế giới tự do là David Bowie và Michael Jackson từ phía bên kia bức tường vọng sang đã chinh phục con tim của giới trẻ đông Đức. Cũng chính vì tránh để cho giới trẻ cứ ”dán mãi tai vào bức tường” nghe lóm những buổi trình diễn ở phía Tây Berlin, mà chính quyền Cộng Hòa Dân Chủ Đức dưới thời đại của Honecker đã mời một vài nghệ sĩ ngoài khối xã hội chủ nghĩa đến biểu diễn.

BM
  
Một nhà nghiên cứu về lịch sử âm nhạc từng đánh giá đêm biểu diễn tại Đông Berlin của Bruce Springsteen là sự kiện âm nhạc ”quan trọng nhất trong thế kỷ 20”. Trong đêm diễn ấy, nam danh ca người Mỹ đã gieo vào 300.000 trái tim tiếng chuông tự do. Khán giả của anh đêm đó nhận thấy một làn gió thay đổi đang thổi tới Cộng Hòa Dân Chủ Đức.

Tiếng đàn Violoncelle của nhạc sĩ người Nga

BM
  
Hơn một năm sau, tháng 11 năm 1989, hình ảnh nhạc sĩ Mstislav Rostropovitch kéo đàn violoncelle dưới chân bức tường ngay tại trạm kiểm soát Checkpoint Charlie đi vòng quanh thế giới. Một người nghệ sĩ tóc bạc trắng, một cây đàn và bản Suites của Bach là biểu tượng hòa bình. Berlin đang hồi sinh.

Là một nhạc sĩ đàn violoncelle/cello bậc thầy của thế giới, Rostropovitch 30 năm trước đang sống yên bình tại một căn hộ sang trọng ở quận 16 Paris. Qua đài phát thanh ông hay tin bức màn sắt đang bị khai tử và thế là ông lập tức khăn gói lên đường đến Berlin. Cùng một người bạn thân, Rostropovitch với cây đàn đáp xuống sân bay Berlin. Ra khỏi phi trường, họ biết đi đâu ? Không ngần ngại, ông lấy tắc xi đến thẳng trạm kiểm soát Checkpoint Charlie, biểu tượng giữa hai thế giới Đông và Tây.

BM
  
Những nốt nhạc đầu tiên từ bản Suites của Johann Sebastian Bach được cất lên, tiếng búa rùi nện vào bức tường im bặt. Chính nhạc sĩ Mstislav Rostropovitch kể lại trong, buổi trình diễn ngẫu hứng đêm 11/11/1989, hai ngày sau làn sóng người Đông Berlin đầu tiên chính thức qua hàng rào biên giới dưới sự kiểm soát của lính biên phòng đôi bên, nhạc sĩ Rostropovitch đã tuyên bố đấy là “một ngày hạnh phúc”, bởi ông biết rằng kể từ giờ phút đó Berlin không còn bị phân chia, người Đức hòa vào một khối và những nốt nhạc của Bach là keo sơn hàn gắn lại hai nửa tâm hồn của những con người bị Đông và Tây giằng xé. Cũng Rostropovitch tâm sự rằng ông cần thấy phải có mặt dưới chân Bức Tường ở vào thời khắc kịch sử đó để tri ân những người đã nằm xuống cũng tại nơi này.

BM
  
Ở vào những năm 1950 Rostropovitch là một trong những tinh hoa của Liên bang Xô Viết. Ông là một nghệ sĩ tài hoa được đào tạo trong học viện âm nhạc quốc gia, là học viên hiếm hoi mới 23 tuổi đời đã đoạt giải thưởng mang tên Stalin. Nhưng bước vào đầu thập niên 1970 ông phạm phải hai điều cấm kỵ : một là tiếp xúc với nhà văn Soljennitsine, tác giả của Quần Đảo ngục Tù và hai là đứng về phía nhà bác học, nhà đấu tranh cho nhân quyền Sakharov. Gia đình Rostropovitch bị chính quyền Brejenev đưa vào danh sách đen.

BM
  
Năm 1974 nhạc sĩ Mstislav Rostropovitch rời Liên Xô sanh định cư hẳn tại Mỹ, rồi Pháp. Ông là nghệ sĩ bốn bể là nhà với những vòng lưu diễn bất tận. Đã nhiều lần đi vòng quanh trái đất, nhưng theo lời con gái người nhạc sĩ nổi tiếng này, dù bị Liên Bang Xô Viết tước quyền công dân năm 1978, ông luôn thầm mơ có được ngày trở về.

Làn gió cách mạng tại Đông Âu

Dù vậy tất cả các nhà sử học đều đồng ý trên một điểm đó sự sụp đổ của Bức Tường Berlin chỉ là hồi kết từ những vết nứt chính trị trước đó trong khối cộng sản. Ngay tại Liên Xô, lần đầu tiên thành trì của chế độ Cộng Sản này tổ chức bầu cử tự do vào tháng 3/1989. Hungrary tháng 2/1989 không còn là một quốc gia độc đảng. Lại cũng Hungary ngày 10/09/1989 mở cửa biên giới với Áo. Đây là cửa ngõ đầu tiên giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Tháng 6 cùng năm, tại Vacxava, công đoàn Solidarnosc của Lech Valesa đắc cử trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên từ kể từ sau Thế Chiến.

BM
  
Một lần nữa Hungary lại tiên phong, tuyên bố thoát khỏi vòng kềm tỏa của Matxcơva. Chỉ một tuần sau ngày Bức Tượng Berlin bị phá vỡ, đến lượt Tiệp Khắc tuyên bố độc lập. Tại Bulgari để tồn tại, đảng Cộng Sản phải chấp nhận mở cửa. Riêng tại Bucarest nhà độc tài Roumani Nicolae Ceausescu không cầm cự được thêm bao lâu trước khi nhận lấy cái chết thảm khốc đúng ngày lễ Giáng Sinh.

BM
  
Một cách ôn hòa hơn, ba quốc gia ven biển Baltic trong vòng từ tháng 3 đến tháng 5/1990 tuyên bố độc lập. Tại Nam Tư chế độ của Slobodan Milosevic bị chống đối. Tiếp theo đó là một cuộc xung đột kéo dài cho đến tận năm 1999.

Nước Đức thống nhất và sự hình thành của Liên Hiệp Âu Châu

Về phần hai miền nước Đức là Cộng Hòa Liên Bang Đức thuộc khối tư bản và Cộng Hòa Dân Chủ Đức cùng bị Bức Tường Berlin dồn vào chân tường. Đông Đức kiệt quệ về kinh tế và không còn có thể trông chờ vào Liên Xô. Tây Đức cũng lúng túng không kém vì phải cưu mang người anh em bên sườn đông. Bonn cầu viện các đối tác Tây Âu và hướng về giải pháp thống nhất đất nước.

Hai đối tác lớn của Bonn là Anh và Pháp. Tại Luân Đôn, nữ thủ tướng Thatcher thận trọng. Tại Paris, François Mitterrand đồng tình với điều kiện, Bonn và Paris nhanh chóng đẩy mạnh khối Âu châu , hình thành một Liên Hiệp có tiếng nói quan trọng về chính trị.

Từ “Thị trường chung” phát triển thành “Cộng đồng kinh tế Âu châu”, rồi “Cộng đồng Âu châu”, dự án xây dựng “Liên Hiệp Âu Châu ” được hình thành vào tháng 04/1990, tức là chưa đầy một năm sau khi Bức Tường Berlin sụp đổ.

BM
  
Tháng 2/1992, hiệp ước chính thức được ký kết, khai sinh ra Liên Hiệp Âu Châu .




Thanh Hà

BM


Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

”Trung Quốc đã gửi 320.000 quân đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, ” – Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014
Trích: “Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân  đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.”
Năm 1960, khi Mỹ chưa đổ quân vào miền Nam thì đảng CSVN đã gọi Mỹ là “bọn xâm lược Mỹ”. Mỹ chỉ thật sự đổ quân vào Miền Nam năm 1965 và từ từ rút khỏi Miền Nam từ 1971-1973. (Mỹ đổ quân vào Miền Nam vì sợ Miền Nam rơi vào tay cộng sản, vì hàng trăm ngàn bộ đội Miền Bắc xâm nhập vào Miền Nam đánh nhau dọc theo biên giới Kampuchea – VN và Lào- Việt Nam; Bộ đội cộng sản VN hoạt động trong các tỉnh thành và thi hành chính sách khủng bố, ám sát, ném lựu đạn vào rạp hát và đám đông, gài mìn trên đường lộ giết thường dân di chuyển bằng xe đò diễn ra khắp 18 tỉnh thành miền Nam.)
Sau trận hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974, thì đây là Khi Trung Quốc chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa 1988, thì Đảng CSVN im lặng, không hề phản kháng! Đây chính là hành động xâm lược của Trung Quốc, nhưng  Đảng CSVN và Nhà Nước hiện nay không dám gọi Trung Quốc là bọn xâm lược.  “một cuộc xâm lược là một cuộc tấn công bằng lực lượng từ bên ngoài vào. Mục đích của xâm lược là mở rộng phạm vi trong thời gian dài nên cần một lược lực lượng có quy mô lớn để giữ đất đai, lãnh thổ và bảo vệ quyền lợi trên lãnh thổ xâm chiếm.”.
“… người Nga và người Trung Quốc đã  ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954,”
“Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn”

Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Tác giả: Địch Cường (Qiang Zhai)
Biên tập: John Lewis Gaddis
Nhà Xuất bản: University of North Carolina Press, Chapel Hill & London
DẪN NHẬP
Trung Quốc và Những Cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950-1975 là một đóng góp nổi bật cho lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh nói chung và cho lịch sử quốc tế về cuộc Chiến tranh Việt Nam nói riêng. Các nhà sử học từ lâu đã phỏng đoán về mối quan hệ giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong một phần tư thế kỷ chiến tranh tại Đông Dương, kéo dài từ 1950 đến 1975. Cho đến khi cuốn sách này xuất bản thì chúng ta mới biết được thực sự.
Với lối viết rõ ràng và thông suốt đáng ngưỡng mộ, Địch Cường đã dùng hàng loạt những nguồn thông tin đầy ấn tượng từ văn khố Trung Quốc vừa được công bố, các hồi ký, nhật ký, và tuyển tập tài liệu để kể lại việc Trung Quốc đã giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại nguời Pháp và sau đó là người Mỹ. Sau đây là một số khám phá nổi bật từ nghiên cứu của ông:
Rằng Mao Trạch Đông nhìn nhận phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam trên khía cạnh ý thức hệ lẫn địa chính trị. Cuộc đấu tranh này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ vì nó là một phần của chiến lược lớn hơn của ông ta trong việc thiết lập một trật tự thế giới chống đế quốc, nhưng cùng lúc ông cũng không sẵn sàng tách mục đích này ra khỏi quyền lợi của Trung Quốc trong việc cân bằng sự đối chọi giữa Liên Sô và Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu nổi bật về sự giao thoa giữa quyết tâm cách mạng và chính sách thực dụng trong suy tính của Mao.
Rằng viện trợ quân sự của Trung Quốc thì rất quan trọng đối với Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi có những thoả thuận từ hiệp định Geneva 1954. Mức độ của nguồn viện trợ này thật là đáng ngạc nhiên vì lúc ấy Trung Quốc cũng đang tham dự vào Chiến tranh Triều Tiên.
Rằng người Nga và người Trung Quốc đã, như chúng ta vốn nghi ngờ từ lâu, ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954, nhưng rồi sau đó Trung Quốc lại hối tiếc, thái độ độ này đã góp phần vào sự chia rẽ Trung-Sô cũng như việc Bắc Kinh ủng hộ Bắc Việt leo thang chiến tranh với người Mỹ và Nam Việt Nam trong những năm đầu 1960.
Rằng Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân hậu thuẫn đến Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.
Rằng Bắc Việt đã không tham vấn Trung Quốc khi họ bắt đầu đàm phán với người Mỹ vào năm 1968, và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Bắc Việt đã giảm thiểu từ đấy, trong khi ảnh hưởng của Liên Sô tăng dần.
Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn, và rằng – bất chấp mối giao hảo với người Mỹ – Mao vẫn mạnh mẽ hậu thuẫn việc Pol Pot và Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia vào năm 1975.
Rằng giờ đây ta biết được cuộc Chiến Trung-Việt năm 1979 bắt nguồn từ mối rạn nứt của liên minh Trung-Việt từ cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
Đây chỉ là vài điểm sáng tỏ có được từ tài liệu nghiên cứu mang tính mở đường này. Lần đầu tiên nó đã làm nổi bật vai trò quan trọng của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt Nam. Trên cả mọi thứ, “Lịch sử Mới của cuộc Chiến tranh Lạnh” dựa vào việc xem xét lại những gì chúng ta từng cho rằng mình đã hiểu bằng cách truy cập các tài liệu lưu trữ của “phía bên kia”. Cuốn sách này là khuôn mẫu của những nghiên cứu thuộc dạng này. Chắc chắn nó sẽ định hình kiến thức của chúng ta đối với cuộc Chiến tranh Lạnh tại Đông nam Á trong nhiều thập niên tới.
John Lewis Gaddis
Tháng Năm 1999
GIỚI THIỆU
Quá trình thăng trầm của liên minh Trung-Việt là một trong những diễn tiến quan trọng nhất đối với lịch sử Chiến tranh Lạnh tại Châu Á nói chung và với quan hệ ngoại giao Trung Quốc nói riêng [1].
Trong một phần tư thế kỷ sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) ra đời vào năm 1949, Bắc Kinh đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đấu tranh chống lại hai kẻ thù hùng mạnh là Pháp và Mỹ.
Trong những năm 1950, các công thức của Trung Quốc được dùng làm khuôn mẫu cho Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong nỗ lực tái xây dựng miền bắc.
Trong những năm 1960, Bắc Kinh đã cung cấp rất nhiều viện trợ để giúp Hồ Chí Minh chống lại Hoa Kỳ. Hậu thuẫn của Trung Quốc rất quan trọng trong việc ĐLĐVN đánh thắng người Pháp vào năm 1954 cũng như trong khả năng chống trả áp lực của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Đông dương Lần 2. Vào thời điểm đoàn kết nhất giữa VNDCCH và Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã xem quan hệ giữa hai bên “vừa là đồng chí vừa là anh em.”
Tuy nhiên, trong đầu thập niên 1970, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu giảm cường độ và Trung Quốc đang sắp xếp lại các ưu tiên chiến lược của mình bằng cách cởi mở với Hoa Kỳ nhằm cân bằng mối đe doạ từ Liên Sô, mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội bắt đầu rạn nứt, với hệ quả là cuộc giao tranh trực tiếp vào năm 1979.
Nói chung, tầm quan trọng của Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp trong các tài liệu của Việt Nam lẫn phương Tây.[2] Các tác giả Việt Nam thường cố ý bác bỏ vai trò của Trung Quốc để nhằm tạo ra một “lịch sử mang tính dân tộc,”[3] trong khi việc khó truy câp các tài liệu lưu trữ tại Trung Quốc đã khiến giới học giả phương Tây giảm thiểu vai trò của Bắc Kinh trong mâu thuẫn Đông Dương.[4] Không có một nghiên cứu đầy đủ nào về quan hệ giữa Trung Quốc với VNDCCH trong giai đoạn 1950-1975. Cuốn sách này cố gắng bù đắp sự thiếu hụt ấy bằng cách trích dẫn những tài liệu mới có từ Trung Quốc để trình bày một cách đầy đủ quá trình chuyển hoá trong mối quan hệ Trung Quốc-VNDCCH giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương, trong đó chú trọng vào những khía cạnh chiến lược, chính trị và quân sự của mối quan hệ trên.
Nghiên cứu này phân tích nguồn gốc chính sách Đông Dương của Bắc Kinh bằng cách đặt nó vào bối cảnh lịch sử, địa phương và quốc tế, nơi nó được thảo ra.
Nghiên cứu này cũng điều tra các nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Đặc biệt là nó trả lời một số câu hỏi quan trọng trong việc Trung Quốc dính líu đến Đông Dương. Một số vấn đề này liên quan đến bản chất những mục tiêu của Bắc Kinh đối với Việt Nam và quá trình thực hiện các chính sách của họ.
Tại sao Mao lại quyết định công nhận nước VNDCCH và cung cấp cố vấn quân sự và viện trợ cho Việt Minh ngay sau khi giành được quyền lực ở Trung Quốc 1949?
Các cố vấn Trung Quốc đóng vai trò gì trong việc Hồ Chí Minh đánh thắng người Pháp?
Tại sao Bắc Kinh lại tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954 và cổ vũ cho việc chia cắt Việt Nam?
Trung Quốc đã đóng vai trò gì trong nỗ lực khôi phục miền bắc của VNDCCH sau 1954?
Trung Quốc đã phản ứng ra sao với quyết định của Hà Nội trong việc vực dậy cuộc chiến tranh cách mạng tại miền nam vào năm 1959?
Mao đã phản ứng ra sao khi Washington leo thang chiến tranh tại Việt Nam vào giữa thập niên 1960? Và mong muốn của Mao trong việc tái tổ chức đất nước và xã hội Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các quyết định về Việt Nam của ông ra sao?


Bản đồ Đông Dương. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh Đông Dương 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987) 
Những câu hỏi sâu hơn nổi lên từ những tương tác giữa Trung Quốc với các đồng minh Sô Viết và Việt Nam. Liệu đã có sự phân chia nhiệm vụ giữa Mao và Stalin trong những năm đầu Trung Quốc can dự vào Việt Nam? Mâu thuẫn Trung-Sô đã ảnh hưởng đến chính sách của Bắc Kinh và quan hệ của nó với Hà Nội như thế nào? Trung Quốc và VNDCCH đã có những dị biệt gì trong việc phát động chiến tranh và theo đuổi hoà bình? Việc Trung Quốc chuyển hướng chiến lược đầu thập niên 1970 đã ảnh hưởng đến quan hệ với VNDCCH ra sao? Và những dị biệt văn hoá, truyền thống nghi kỵ trong lịch sử và tranh chấp khu vực đã ảnh hưởng thế nào đến mối hợp tác Trung-Việt?
Cả hai nước Lào và Cambodia tồn tại trong dưới cái bóng của các cuộc chiến tại Việt Nam, và tranh chấp tại Việt Nam thường lan sang hai quốc gia này. Nghiên cứu này cũng đề cập đến phản ứng của Bắc Kinh đối với những tiến triển tại Lào và Cambodia, đặc biệt là khi chúng có liên quan đến những sự kiện tại Việt Nam. Nó đặt phản ứng của Bắc Kinh vào bối cảnh của chính sách ngoại giao tổng thể cũng như những quan tâm đặc biệt riêng đối với Việt Nam.
Nhìn rộng hơn, chúng ta rút ra được điều gì từ chính sách ngoại giao của Mao qua việc phân tích cụ thể thái độ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam? Xa hơn, chúng ta rút ra được kết luận gì về việc xây dựng và quản lý đồng minh của phe Cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua việc điều tra chi tiết quá trình thăng trầm của mối quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội?
Các chương kế tiếp sẽ nhận diện những động cơ đầy phức tạp phía sau chính sách Đông Dương của Bắc Kinh. Việc cân nhắc những thực thế địa chính trị là một yếu tố trọng tâm trong tính toán của Mao.
Trong suốt thập niên 1950 và hầu hết thập niên 1960, Mao đã xem Hoa Kỳ là mối đe doạ chủ yếu đối với nền an ninh và cách mạng Trung Quốc. Vì thế việc hậu thuẫn Hồ chí Minh và Pathet Lào giúp Mao thoả mãn mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ tại Đông nam Á và đẩy lùi nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Washington.
Vào cuối thập niên 1960 đầu 1970, khi Mao nhận thức mối đe doạ lớn hơn từ Liên Sô và đe doạ nhỏ hơn từ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông bắt đầu sửa đổi lại chính sách của mình và khuyến khích Bắc Việt thoả thuận một giải pháp hoà bình.
Tinh thần trách nhiệm quốc tế và nghĩa vụ phải giúp đỡ một đảng Cộng sản anh em cũng như việc đẩy mạnh cuộc cách mạng chống đế quốc tại châu Á là một yếu tố quan trọng, thường mang tính quyết định trong chính sách của Mao về Việt Nam.
Những hành động của Bắc Kinh về Đông Dương thường được thúc đẩy bởi viễn kiến của Mao về vị trí của Trung Quốc trên thế giới. Khi cống hiến cả đời cho cách mạng, Mao nhắm vào việc thay đổi không chỉ nước Trung Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Thể chế thực dân Pháp tại Đông Dương bao gồm thành phần của một trật tự thế giới bất công và sai trái mà Mao mong muốn dẹp bỏ. Trong suy nghĩ của Mao, nếu không có một thay đổi chống lại hệ thống quốc tế hiện thời, chiến thắng vừa có được của Cộng sản tại Trung Quốc sẽ không được bảo đảm, củng cố và chính danh.
Trong khi trật tự quốc tế cũ đã khiến Trung Quốc phải chịu đau khổ và nhục nhã, thì việc thành lập một trật tự mới sẽ đóng góp cho sự tái sinh và thịnh vượng của Trung Quốc. Mao đặt nền an ninh và thịnh vượng trong nước ngang hàng với việc phát triển phong trào phản đế và các cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Một thế giới gồm các quốc gia Cộng sản cùng chí hướng sẽ là một bảo đảm tốt nhất cho chính quyền của Mao tại Trung Quốc. Mao xen lẫn các quan tâm về vấn đề an ninh với ý thức hệ trong suy nghĩ của mình. Mao và các đồng sự xem cuộc cách mạng của mình tương tự với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại các quốc gia đang phát triển và cho rằng khuôn mẫu Trung Quốc thì quan trọng đối với các phong trào ấy. Xa hơn, Mao can thiệp vào Đông Dương để tự tạo dựng hình ảnh Trung Quốc trên thế giới.
Tuy nhiên Mao không theo đuổi những mục tiêu cách mạng của mình tại Đông nam Á với cùng cường độ trong khoảng thời gian được đề cập trong cuốn sách này. Mặc dù đồng cảm với phong trào chống đế quốc thực dân trên thế giới, Mao cũng không muốn gây chiến với Hoa Kỳ. Vị lãnh tụ Trung Quốc này là một người thực tế, có đủ khả năng để chỉnh sửa chính sách khi gặp phải những khó khăn kinh tế trong nước hoặc những áp lực từ nước ngoài. Ông có khả năng vượt qua những thoái bộ chiến thuật trong nhiều lần nhưng luôn giữ vững lập trường của mình. Ví dụ như từ năm 1954 đến 1960, ông giảm bớt sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với phong trào phản kháng tại Đông Dương để Trung Quốc có thể tập trung phát triển kinh tế trong nước. Mao không ngần ngại đề xuất chiến thuật ôn hoà hoặc nhượng bộ nếu thấy thế lực phản động đang quá mạnh để phong trào cách mạng có thế tiếp tục đấu tranh. Đấy là lý do tại sao ông đã chấp nhận một chia rẽ hoà bình tại Việt nam tại Hội nghị Geneva năm 1954 và can ngăn nỗ lực thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lúc ấy.
E sợ việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam nếu chiến tranh tiếp diễn, Mao không muốn Trung Quốc dính líu đến một cuộc chiến tương tự như tại Triều Tiên, vốn sẽ làm Trung Quốc trệch hướng quá trình tái xây dựng rất cần thiết trong nước. Nỗi lo trước sự can thiệp của Mỹ cũng giải thích được quyết định của Mao trong việc đưa Lào trở lại tình trạng trung lập trong Hội nghị Geneva 1961-62.
Mao ủng hộ hình thức trung lập của Lào lúc ấy không phải vì ông muốn tạo ra tình trạng trung lập vĩnh viễn ở nước này, như Liên Sô mong muốn, mà bởi vì ông muốn tạo thêm thời gian để Pathet Lào củng cố và phát triển lực lượng, tiến đến giành lấy quyền lực.
Trong tính toán của Mao, nhượng bộ và ôn hoà không có nghĩa là từ bỏ; cách mạng cần phải qua từng giai đoạn. Mao hiểu rõ câu châm ngôn của Lenin “một bước lùi hai bước tiến” khi tiến hành cách mạng. Và từ kinh nghiệm của chính mình, ông kết luận rằng việc chuẩn bị cho chuyển biến cách mạng là một cuộc đua đường dài chứ không phải là cự ly ngắn.
Tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng thứ ba trong quá trình hình thành thái độ của Bắc Kinh đối với cách mạng Việt Nam. Khi cân nhắc viện trợ cho Việt Minh, giới lãnh đạo ĐCSTQ không thể bỏ qua mối quan hệ cá nhân mật thiết và tình đoàn kết cách mạng mà họ và Hồ Chí Minh đã có được trong những năm cùng nhau chiến đấu trước đây.
Có cùng những giá trị và niềm tin giống nhau, họ đã trải qua những khó khăn trở ngại tương tự nhau. Hồ đã làm bạn với những đảng viên ĐCSTQ kỳ cựu như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hoành Nhược Phi, Bành Phái, và Lý Phú Xuân từ những năm 1920, khi ông hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp và sau đó đóng vai đại diện của Đệ Tam Quốc tế hỗ trợ phong trào công nhân và nông dân tại Quảng Đông.
Trong thời kỳ nội chiến ở Trung Quốc vào những năm cuối 1940chính quyền của Hồ đã cung cấp nơi trú ẩn cho quân đội ĐCSTQ từ miền nam Trung Quốc khi họ rút quân sang Việt Nam để tránh quân đội Quốc Dân Đảng tấn công. Qua quyết định giúp đỡ Việt Minh vào năm 1950, Mao nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi tình hữu nghị giữa hai bên.
[Mao giúp Hồ vũ khí và quân viện năm 1950 để đổi lấy Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi giúp ông Hồ chiếm lấy 1/2 nước VN qua Hiệp định Geneve 20-7-1954,  Mao lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa 1956. Sau khi biết Mỹ sẽ rút khỏi Nam VN 27-1-1973, biết trước Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, Mao đã đánh chiếm Hoàng Sa 19-1-1974. Đây là lần lấy công lần thứ hai, chiếu theo mật ước trao đổi với ông Hồ hồi 1950- Trần Hoàng]
Cuối cùng, chủ ý sử dụng cuộc đấu tranh quốc tế để phát triển lịch trình chính trị trong nước thường được đặt ở vị trí quan trọng trong các cân nhắc của Mao về Việt Nam. Việc này thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Mao chỉ trích những đề xướng được xem là xét lại trong chính sách đối ngoại từ nội bộ đảng và nhấn mạnh lần nữa sự cần thiết phải chống lại chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bao gồm cuộc đấu tranh tại Việt Nam.
Sự tái nhấn mạnh việc ủng hộ sự nghiệp phản đế trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã tạo cho Mao một công cụ hữu hiệu để vận động hậu thuẫn từ trong nước cho quá trình “diễn tiến cách mạng” của ông, và để dẹp bỏ những chướng ngại bên trong giới lãnh đạo đảng, vốn đang bị chia rẽ bởi những thảm hoạ của chương trình Bước Đại Nhảy Vọt.
Tương tự, giữa những năm 1965 và 1966 Mao đã dùng nguyên cớ cần thiết phải ủng hộ cuộc chiến tranh của Hà Nội chống lại Hoa Kỳ để phát động một chiến dịch chống đế quốc trong nước, để phục hồi tinh thần cách mạng cấp tiến và để vận động quần chúng đấu tranh chống lại những lãnh đạo “xét lại” trong đảng, những người đang muốn đi theo con đường của Liên Sô nhằm phục hồi chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc. Nói chung, chính sách Đông Dương của Bắc Kinh là kết quả của một tổng thể bao gồm thực tế địa chính trị, niềm tin ý thức hệ, tính cách cá nhân, và các hoàn cảnh chính trị.
Cuốn sách này nhấn mạnh vai trò của khía cạnh con người trong việc làm nên lịch sử. Trước hết là Mao đầy quyền lực với những ý tưởng và tầm nhìn kiến tạo cơ cấu chung cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc.
Ông là người quyết định việc giúp đỡ Hồ Chí Minh, thương thảo với các cường quốc phương Tây, đối đầu với áp lực từ Mỹ, bác bỏ những đề nghị của Liên Sô, hoặc tăng cường quan hệ với Washington trong những thời điểm quan trọng.
Kế đến là những đồng sự thân tín của Mao và những lãnh đạo thứ nhì trong đảng, bao gồm Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, tổng bí thư đảng Đặng Tiểu Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Nghị, Đại sứ La Quí Ba, các tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh, những nhân vật đã trung thành thực thi những quyết định ngoại giao và quân sự của Mao đối với Việt Nam.
Những chương kế tiếp sẽ liệt kê và đánh giá cụ thể một Mao Trạch Đông đầy lôi cuốn như là một nhà cách mạng nhìn xa trông rộng, một Lưu Thiếu Kỳ cẩn trọng như một nhà tổ chức kỹ lưỡng việc tiếp tế cho Việt Minh, một Chu Ân Lai lão luyện trong vai trò của nhà ngoại giao thông minh tại các hội nghị quốc tế, một Đặng Tiểu Bình cứng rắn khi thương lượng với Bắc Việt, một Trần Nghị thẳng thắn là tiếng nói của Mao trong các vấn đề quốc tế, và Trần Canh cùng Vi Quốc Thanh dày dạn trận mạc trong vai trò cố vấn quân sự trên chiến trường Việt Nam. Họ đã đạt được chiến thắng nhưng cũng mắc phải sai lầm. Tiếng nói của họ làm nên chính sách của Trung Quốc và ứng xử của họ để lại dấu ấn sâu đậm trong mối quan hệ Trung-Việt.
Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội bao gồm cả đồng thuận lẫn mâu thuẫn, hợp tác và đối đầu. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu bản chất và các động lực của mối quan hệ này và đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử phức tạp của chính nó.
Trong suốt lịch sử của mình, người Việt có một thái độ yêu/ghét đối với Trung Quốc. Một mặt, họ có truyền thống hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn cảm hứng. Các vua chúa Việt Nam đã bắt chước và vận dụng những phương pháp và tổ chức của Trung Quốc để biến mình thành một lực lượng chính danh. Bày tỏ lòng kính nể đối với triều đình bề trên Trung Quốc là con đường duy nhất để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp nhận những định chế văn hoá của Trung Quốc đã trở thành thói quen của giới cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, người Việt luôn mong muốn gìn giữ độc lập cũng như truyền thống văn hoá của mình.
Trong những thập niên 1950 và 1960, Cộng sản Việt Nam phải đối diện với những kẻ thù hùng mạnh là người Pháp và người Mỹ khi tìm cách thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm tham vấn và vũ khí từ Trung Quốc. Nhưng thái độ nghi ngờ vẫn không hề biết mất. Ví dụ Trung Quốc nghi ngờ Hà Nội muốn sát nhập Lào and Cambodia vào với mình thành một “Liên bang Đông Dương” trong khi Bắc Việt cũng dè chừng mối “quan hệ đặc biệt” với Lào khi Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Pathet Lào.
Quan hệ CHNDTQ-VNDCCH bao gồm việc hội nhập và chia sẻ quyền lợi. Hai quốc gia có cùng một triển vọng ý thức hệ và một quan tâm chung về sự can thiệp của người Mỹ vào Đông Dương, nhưng giới lãnh đạo Hà nội muốn tránh xa mối nguy hiểm của việc phải vướng vào mối quan hệ phụ thuộc với Trung Quốc. Một khi giới lãnh đạo Hà Nội và Bắc Kinh vẫn còn có các mục tiêu chung là chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, những quyền lợi riêng rẻ trên sẽ nhượng bộ cho các điểm thoả thuận của hai bên.
Nhưng vào năm 1968 mối quan hệ Trung-Việt đã chuyển nhanh sang chiều hướng xấu khi Washington vừa đưa ra một bước thăm dò trong việc nới lỏng cam kết với Nam Việt. Trong tình hình mới, quyền lợi chiến lược của Bắc kinh bắt đầu có sự khác biệt cơ bản so với Hà Nội. Trong khi lúc này Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là một tiềm năng đối trọng để chống lại Liên Sô, những đồng chí Việt Nam vẫn tiếp tục xem Washington là đối thủ nguy hiểm nhất.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam (1973) và đất nước được thống nhất, những tranh chấp song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh về Cambodia, về bất đồng lãnh thổ trên biển Đông, và việc đối xử với người gốc Trung Quốc tại Việt Nam bắt đầu gia tăng, dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979.
Nghiên cứu này lần đầu tiên vận dụng những nguồn tài liệu do Trung Quốc công bố trong vài năm gần đây. Những tài liệu mới này được xếp vào bốn loại: nguồn hồ sơ lưu trữ, các tuyển tập tài liệu đã được xuất bản, hồi ký và nhật ký, và các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ.

Nguồn Hồ sơ Lưu trữ
Trong khi các nhà nghiên cứu không được truy cập những tài liệu lưu trữ quan trọng như Văn khố Trung ương ĐCSTQ và Văn khố Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh, các văn khố địa phương của đảng tại các tỉnh thì ít nghiêm ngặt hơn và hợp tác hơn với các học giả.
Trong thời gian 1995 và 1996, tôi đã có hai chuyến đi nghiên cứu đến Văn khố Chính quyền Nhân dân tỉnh Giang Tô. Kho tài liệu này bao gồm các chỉ thị do Uỷ ban Trung ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh gửi cho các lãnh đạo tỉnh giải thích vai trò của Trung Quốc trong hàng loạt những vấn đề quốc tế bao gồm Đông Dương.
Từ năm 1958 đến 1966, Văn phòng Đối ngoại của Uỷ ban Nhà nước triệu tập các cuộc họp hàng năm về công tác đối ngoại tại Bắc Kinh, trong đó các cán bộ từ trung ương đảng và các cơ quan chính quyền như Ban Liên lạc Quốc tế ĐCSTQ, Bộ Ngoại giao, và Uỷ ban người Hoa đang sống ở Nước Ngoài báo cáo và giải thích cho các cán bộ chuyên về ngoại giao cấp tỉnh những diễn tiến mới của quan hệ ngoại giao Trung Quốc. Nhiều bài phát biểu và tài liệu nội bộ từ những hội nghị này được lưu giữ tại Văn khố tỉnh Giang Tây. Những tài liệu này trình bày quan điểm và phản ứng của lãnh đạo Trung Quốc đối với những diễn biến trên thế giới nói chung và Đông Dương nói riêng chính xác hơn so với các tường thuật từ báo chí Trung Quốc thời kỳ ấy.
Các Tuyển Tập Tài Liệu Đã Xuất Bản
Trong những năm gần đây Bắc Kinh đã xuất bản nhiều tuyển tập gồm các bản thảo, bài viết, trao đổi và phát biểu của các lãnhđạo như Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Những bộ sách này bao gồm vô số những bức điện tín từ các lãnh đạo trên gửi đến các cố vấn Trung Quốc tại VNDCCH cũng như vô số những ghi chép từ các trao đổi giữa họ và đối tác Việt Nam.
Những bộ sách quan trọng nhất cho cuộc nghiên cứu này gồm Kiến quốc Dĩ lai Mao Trạch Đông Văn cảo (Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi lập nước cho đến nay) gồm 18 bộ (Bắc Kinh XB 1987-98), Mao Trạch Đông Quân sự Văn tập (Tuyển tập các bài viết quân sự của Mao Trạch Đông) 6 bộ (Bắc Kinh XB 1993), Mao Trạch Đông Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Mao Trạch Đông) (Bắc Kinh XB 1994), Chu Ân Lai Niên Phả, 1949-1976 (Biên niên ký của Chu Ân Lai) 3 bộ (Bắc Kinh XB 1997), Chu Ân Lai Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1990), Chu Ân Lai Ngoại giao Hoạt động Đại Sự ký, 1949-1975 (Ký sự những hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1993), Lưu Thiếu Kỳ Niên Phả (Biên niên ký của Lưu Thiếu Kỳ), 2 bộ (Bắc Kinh XB 1996).
Hồi Ký Và Nhật Ký
Nhiều quan chức đảng, chỉ huy quân sự, nhà ngoại giao, thư ký và thông dịch viên về hưu đã xất bản những hồi ký và nhật ký cá nhân của mình trong thập niên vừa qua. Trong vài trường hợp, các tác giả nhờ vào những phụ tá trẻ giúp họ đối chứng tài liệu trong các văn khố. Những nhật ký và hồi ký này thường cho thấy những động cơ và tính toán ngầm đằng sau những trường hợp đơn thuần về chính sách.
Không những chúng cung cấp những bằng chứng mới về những lời phát biểu của Mao vốn thường không tìm thấy ở nơi khác, mà còn là một cửa sổ quan trọng cho thấy những gì ông đã đọc. Từ đó ta có thể tự do tìm hiểu mối tương giao trong các hoạt động của Mao với những đồng sự cao cấp và thư ký của mình. Từ những câu chuyện này, ta có thể nhận hiểu được quá trình thảo chính sách cũng như quan điểm của Mao. Những nhật ký và hồ ký cá nhân có ích nhất cho cuộc nghiên cứu này bao gồm Bạc Nhất Ba, Trần Canh, Hu Zhengqing, Lý Việt Nhiên, La Quí Ba, Shi Zhe, Tong Xiaopeng, Vương Bỉnh Nam, Ngũ Tu Quyền, Hùng Hướng Huy, Zeng Sheng, và Zhang Dequn[5].
Những Bài Viết Gián Tiếp
Kể từ giữa thập niên 1980, một số lớn các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ đã xuất hiện tại Trung Quốc. Chúng bao gồm lịch sử tổng quát về đảng, quân đội, và ngoại giao, các tiểu sử, chuyên khảo và bài viết. Tác giả của chúng đa số từ Bắc Kinh, hoặc là một tập thể các tác giả do đảng tập hợp hoặc các học giả làm việc riêng rẻ được phép truy cập các kho lưu trữ. Những tác phẩm này thường trích dẫn các tài liệu lưu trữ nổi bật. Nhưng vì những cấm đoán của đảng, họ chỉ đề cập đến các nguồn tài liệu này mà không nói rõ nơi lưu trữ chúng.
Khi tìm hiểu những nguồn tài liệu mới đã nói ở trên, tôi đã tránh không để lòng phấn chấn về việc khám phá ra chúng làm ảnh hưởng đến thái độ nghiêm khắc cũng như tính nhạy cảm của mình đối với nội dung vốn vô cùng quan trọng trong việc xem xét bất kỳ bộ phận nào của các thông tin lịch sử.
Khi sử dụng các tuyển tập tài liệu đã xuất bản, tôi hoàn toàn biết rõ rằng chúng đã được giới biên tập viên của đảng lựa chọn, thường là với mục đích chính trị, và chúng có thể không phải là những tài liệu hoàn hảo. Tôi đã cố gắng làm việc một cách cẩn trọng với những bộ văn tuyển này, loại bỏ một lượng lớn những cường điệu và bí ẩn. Tôi cũng đã đối xử với các hồi ký với sự cẩn trọng tương tự, hoàn toàn nhận thức được rằng ký ức của con người thì rời rạc và có thể không đúng sự thật và hồi tưởng của các cá nhân thường là để tự đề cao mình. Mỗi khi có thể, tôi đã đối chiếu và xác nhận các câu chuyện, chỉ ra những dị biệt và mâu thuẫn.
Khi làm việc với các tài liệu gián tiếp dựa trên văn bản lưu trữ, tôi nhận thức rõ rằng mình phải dựa vào sự xét đoán của các tác giả cũng như sự thiếu sót trong các nguồn tài liệu mà các tác giả ấy được phép truy cập.
https://hoangtran204.wordpress.com/2014/01/03/trung-quoc-da-gui-320-nghin-quan-hau-thuan-den-bac-viet-trong-giai-doan-1965-68-trung-quoc-va-nhung-cuoc-chien-tranh-viet-nam-1950-1975/?fbclid=IwAR1X3urU6mGMbtjveddLbk7JOKjivOtmEnOc8Xx9mWjl4c4GyHsmdstTsdk

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2019

TIẾN HOÁ TRẦM TÍCH HOLOCEN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
 DOÃN ĐÌNH LÂM
Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Tóm tắt: Trên cơ sở kết quả phân tích tướng trầm tích, kết hợp các kết quả phân tích cổ sinh, số liệu tuổi tuyệt đối, điều kiện động lực, quá trình dao động mực nước biển trong Holocen…quá trình tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng được chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn cửa sông (estuary) - vũng vịnh, tương ứng với pha biển tiến mạnh mẽ Flanđri trong Holocen sớm. Trong giai đoạn này tốc độ ngập chìm của bồn trầm tích lớn hơn tốc độ lắng đọng trầm tích trong bồn, hình thành 5 tướng trầm tích phủ lên trên bề mặt phong hoá bóc mòn của các thành tạo Pleistocen thượng (Q13).
- Giai đoạn châu thổ, tương ứng với pha biển lùi trong Holocen giữa-muộn, sau biển tiến cực đại. Giai đoạn này kéo dài cho tới ngày nay. Trong giai đoạn này, tốc độ trầm tích vượt hơn hẳn tốc độ ngập chìm của bồn. Các thuỳ châu thổ hình thành và phát triển, kéo dài ra phía biển với 11 tướng trầm tích châu thổ, nằm phủ lên trên các thành tạo cửa sông - vũng vịnh hình thành trước đó.
- Giai đoạn aluvi, bắt đầu từ cuối Holocen giữa - đầu Holocen muộn, khi đường bờ lùi khá xa, động lực sông chiếm ưu thế, hình thành 6 tướng trầm tích aluvi phủ lên trên bề mặt đồng bằng châu thổ.

MỞ ĐẦU
Trầm tích Holocen giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của châu thổ sông Hồng. Các thành tạo này chiếm hơn 80% diện tích đồng bằng, với chiều dày từ 1-2 m đến 40-50 m. Từ trước tới nay, châu thổ sông Hồng được coi là kết quả của các quá trình thành tạo các trầm tích sông, biển, trầm tích hỗn hợp sông - biển, sông - đầm lầy, đầm lầy - biển.... Có rất ít các công trình đề cập đến động lực trong quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng trong Holocen. Lịch sử hình thành và phát triển châu thổ này trong Holocen mới chỉ được đề cập đến dưới góc độ ảnh hưởng của đợt biển tiến Flanđri. Vấn đề tiến hoá trầm tích Holocen cũng như cấu trúc các trầm tích châu thổ còn chưa được giải quyết một cách rõ ràng. Bài báo này đề cập đến quá trình hình thành, phát triển châu thổ sông Hồng trong Holocen dưới góc độ tương quan trầm tích, tốc độ dâng mực nước biển, hoạt động tân kiến tạo và động lực vùng cửa sông.
I. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ HỆ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Châu thổ hay cửa sông (estuary)?

Trong lịch sử phát triển, phụ thuộc vào mối tương quan giữa tốc độ lắng đọng trầm tích và tốc độ ngập chìm, vùng cửa sông tồn tại như một châu thổ hay như một cửa sông - vũng vịnh. Trong Holocen, biển tiến Flanđri cùng với hoạt động tân kiến tạo là quá trình chủ đạo gây ngập chìm tất cả các cửa sông ven biển, trong đó biển tiến này đóng vai trò chính. Khi tốc độ dâng của mực nước biển cùng với tốc độ hạ lún tân kiến tạo cao hơn so với tốc độ lắng đọng trầm tích thì vùng cửa sông tồn tại như một cửa sông - vũng vịnh. Lúc này động lực biển (sóng, thuỷ triều) đóng vai trò chủ đạo, thống trị trong vùng cửa sông. Trầm tích được mang đến từ lục địa và biển lắng đọng ngay tại vùng cửa sông. Khi tốc độ dâng của mực nước biển giảm thì đến một thời điểm nào đó tốc độ lắng đọng trầm tích sẽ cân bằng và sau đó là vượt ngưỡng tốc độ lún chìm của vùng cửa sông. Vùng cửa sông dần dần được lấp đầy và vật liệu trầm tích mang đến sẽ không lắng đọng tại vùng cửa sông nữa mà sẽ được chuyển thẳng ra biển, lắng đọng trong vùng ven biển. Bắt đầu hình thành và phát triển tam giác châu (châu thổ). Sự khác nhau giữa cửa sông - vũng vịnh và châu thổ là ở chỗ vùng cửa sông - vũng vịnh nhận nguồn vật liệu trầm tích cả từ phía sông và phía biển, còn châu thổ chỉ nhận trầm tích từ phía sông, hay nói khác đi là từ lục địa [2]. Khi nguồn vật liệu mang đến vượt trội so với tốc độ dâng hoặc trong giai đoạn biển lùi thì châu thổ sẽ dần dần nổi cao và các quá trình sông sẽ thống trị, hình thành đồng bằng bồi tích aluvi. Như vậy có thể thấy rằng mặt cắt trầm tích vùng cửa sông ven biển gồm ba phần: dưới cùng là các thành tạo trầm tích cửa sông - vũng vịnh, chuyển lên trên là các thành tạo châu thổ và trên cùng là các thành tạo aluvi.
Quá trình tiến hoá châu thổ.
Châu thổ bắt đầu hình thành khi tốc độ lắng đọng trầm tích vượt ngưỡng tốc độ ngập chìm của bồn tích tụ. Quá trình phát triển của châu thổ là quá trình thoái hoá (progradational), khác với quá trình tích tụ của cửa sông - vũng vịnh là quá trình bồi tụ (aggradational). Sông, thuỷ triều và sóng là ba yếu tố đóng vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển châu thổ. Mối tương tác giữa ba yếu tố này quyết định sự phát triển của châu thổ. Trong quá trình phát triển, châu thổ sẽ bị phân dị tuỳ thuộc vào mức độ chủ đạo của một trong ba yếu tố trên. Nếu quá trình sông chủ đạo sẽ hình thành kiểu đồng bằng châu thổ do sông thống trị (river dominated delta plain), nếu quá trình triều chủ đạo thì sẽ hình thành đồng bằng châu thổ do triều thống trị (tide dominated delta plain) và nếu quá trình sóng chủ đạo thì sẽ hình thành đồng bằng châu thổ do sóng thống trị (wave dominated delta plain). Các đồng bằng này có sự khác nhau về tướng trầm tích, cấu trúc trầm tích cũng như về địa hình, địa mạo.
Khái niệm thuỳ châu thổ.
Do địa hình của đồng bằng châu thổ khá bằng phẳng nên sông chảy trên đó thường phân nhánh. Khi các nhánh sông đổ ra biển thì tại mỗi cửa sông nhánh sẽ hình thành một thuỳ châu thổ (delta lobe). Các thuỳ châu thổ kề cạnh nhau sẽ tạo nên một châu thổ rộng lớn, bao gồm các thuỳ châu thổ hợp lại. Thuỳ châu thổ là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của châu thổ, hình thành tại vùng cửa sông nhánh.
II. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Để xác lập quá trình tiến hoá các trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng, gần 600 lỗ khoan máy và khoan tay trên đồng bằng đã được sử dụng và phân tích nhằm phân chia các tướng trầm tích Holocen (H.1). Ngoài ra, hơn 40 kết quả phân tích C14 của các thành tạo Đệ tứ châu thổ sông Hồng công bố trên các văn liệu cùng với 27 mẫu C14 của bản thân tác giả thu thập và phân tích ở Đài Loan, Australia, Hồng Kông đã được sử dụng. Hàng trăm kết quả phân tích cổ sinh gồm bào tử phấn hoa, Trùng lỗ, Thân mềm, Tảo silic cùng với hơn 1000 kết quả phân tích độ hạt - thạch học, các kết quả phân tích chỉ tiêu hoá lí môi trường đã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, phân chia tướng trầm tích. Tác giả đã phân tích gần 2000 ảnh máy bay cùng  ảnh vệ tinh Landsat TM, ảnh Spot đồng bằng sông Hồng của các năm 1992 và 2001. Các tài liệu đo vẽ các tờ bản đồ địa chất tỉ lệ 1:50.000 và 1:200.000 trên toàn đồng bằng cũng được tham khảo, sử dụng. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng gồm:
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Phương pháp nghiên cứu tướng - trầm tích
- Phương pháp phân tích ảnh vệ tinh và ảnh máy bay
- Phương pháp phân tích thạch học - khoáng vật
- Phương pháp phân tích độ hạt
- Phương pháp phân tích cổ sinh
- Phương pháp phân tích tuổi tuyệt đối
- Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoá lý môi trường
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và khảo cổ
- Phương pháp lập sơ đồ đẳng trị
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Các yếu tố quyết định quá trình tiến hoá trầm tích
Trong phạm vi châu thổ sông Hồng, các yếu tố có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển châu thổ bao gồm: hoạt động kiến tạo, dao động mực nước biển, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích, tốc độ lắng đọng trầm tích, địa hình đáy, chế độ thuỷ thạch động lực. Các yếu tố này tác động và chi phối quá trình hình thành trầm tích nói riêng cũng như của châu thổ nói chung [11].
Trong các yếu tố trên, mối tương quan giữa tốc độ lắng đọng trầm tích và hoạt động kiến tạo, dao động mực nước biển giữ vai trò chủ đạo trong suốt quá trình hình thành và phát triển châu thổ. Mối tương quan này thể hiện bởi hiệu giữa tốc độ lắng đọng trầm tích và tốc độ ngập chìm của bồn (gồm tổng tốc độ nâng, hạ tân kiến tạo và tốc độ dâng, hạ của mực nước biển). Đây là mối tương quan chủ yếu, quan trọng nhất khi xem xét vấn đề tiến hoá trầm tích. Nếu tương quan này có giá trị dương nghĩa là tốc độ lắng đọng trầm tích lớn hơn tốc độ ngập chìm thì vùng cửa sông tồn tại chế độ châu thổ. Ngược lại nếu tương quan trên có giá trị âm thì vùng cửa sông tồn tại chế độ cửa sông [11]. Vùng cửa sông tồn tại như một cửa sông hay như một châu thổ phụ thuộc chủ yếu vào mối tương quan trên. Mối tương quan này thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào các yếu tố.
Tốc độ lắng đọng trầm tích được quyết định bởi nguồn cung cấp vật liệu trầm tích, chế độ thuỷ thạch động lực của bồn trầm tích. Các dòng sông cùng các sông nhánh là nguồn cung cấp vật liệu chính cho bồn. Tuy nhiên, dòng triều, dòng ven bờ và sóng cũng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp vật liệu cũng như trong di chuyển, phân tán và lắng đọng trầm tích do các dòng sông mang đến. Khi các cửa sông thoái hoá trong quá trình tiến ra biển thì nguồn cung cấp vật liệu cho thuỳ châu thổ sẽ bị gián đoạn, và thuỳ châu thổ đó sẽ bị xói mòn, phá huỷ bởi các quá trình động lực của bồn như triều và sóng. Ngoài ra, nếu nguồn vật liệu mang đến có độ hạt thô hơn thì tốc độ lắng đọng cũng sẽ nhanh hơn so với vật liệu mịn. Nếu vùng cửa sông có chế độ sóng và thuỷ triều yếu hơn do bị che khuất, được bảo vệ bởi hệ thống cung đảo thì môi trường tương đối yên tĩnh hơn và vật liệu do sông mang tới sẽ lắng đọng nhanh hơn so với các vùng cửa sông có chế độ tương tự, nhưng không được che chắn, bảo vệ. Các vùng cửa sông có địa hình đáy nông hơn thì tốc độ bồi lắng cũng sẽ nhanh hơn, vùng cửa sông sẽ nhanh chóng bị lấp đầy [11].            
2. Quá trình dao động mực nước biển trong Holocen
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vào cuối Pleistocen muộn (khoảng 14-15.000 năm BP) do quá trình băng tan, mực nước đại dương bắt đầu dâng lên [6, 9, 13, 14, 17]. Đây là đợt biển tiến mang tính toàn cầu, có tên là biển tiến Flanđri, mà ở Việt Nam thường được một số nhà nghiên cứu gọi là biển tiến Holocen giữa hay biển tiến Holocen trung [5, 6, 9, 16-18, 20]. Khái niệm biển tiến Holocen giữa không thật chuẩn xác, bởi lẽ đợt biển tiến này bắt đầu từ cuối Pleistocen muộn chứ không phải từ Holocen giữa; hơn nữa nó đạt cực đại tại thời điểm cuối Holocen sớm - đầu Holocen giữa. Trong thời gian Holocen giữa mực biển hạ thấp dần, đồng nghĩa với biển lùi. Nếu gọi là đợt biển tiến Holocen giữa rất dễ gây lầm tưởng là đợt biển tiến này xảy ra hay bắt đầu từ Holocen giữa. Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của một số công trình cho thấy vào đầu Holocen sớm (10.000-8000 năm BP), biển tiến Flanđri đã bắt đầu tràn ngập đồng bằng sông Hồng [2, 7, 12-14, 21]. Tốc độ dâng của mực nước biển trong giai đoạn này là khá cao (9-12 mm/năm) [21]. Đợt biển tiến này đạt đỉnh cao tại thời điểm xấp xỉ 6000 năm BP và độ cao của mực nước biển đạt tới 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại. Sau thời điểm khoảng 6.000 năm BP, mực biển bắt đầu rút xuống theo nguyên tắc dao động con lắc đơn tắt dần [1].
3. Đặc điểm bề mặt đồng bằng sông Hồng cuối Pleistocen muộn
Cuối Pleistocen muộn, do đợt băng hà Wurm nên mực nước đại dương trên toàn cầu hạ thấp xuống. Tại thời điểm 18.000-20.000 năm BP mực nước đại dương đứng tại độ sâu -100, -120 m so với mực biển trung bình hiện tại [7, 14, 21]. Quá trình hạ mực nước biển làm cho mực xâm thực cơ sở cũng hạ theo và kết quả là quá trình bóc mòn xảy ra mạnh mẽ trên toàn đồng bằng. Độ dốc của trắc diện dọc lòng sông tăng lên đáng kể. Động năng của các con sông trở nên lớn hơn và khả năng đào khoét lòng của sông cũng trở nên mạnh hơn. Các con sông đào khoét sâu các thung lũng của chúng, chuyển tải vật liệu ra vùng biển xa. Do độ dốc trắc diện dọc các con sông tăng nên các sông chảy thẳng ra biển và bị khống chế bởi các hoạt động tân kiến tạo. Đới sụt lún trung tâm đồng bằng bị khống chế bởi đứt gãy Sông Chảy và đứt gãy Sông Lô, tạo điều kiện cho các dòng sông đào khoét sâu hơn.
Trước đợt biển tiến Flanđri, địa hình châu thổ sông Hồng đã được thiết lập bởi quá trình phong hoá và xói mòn với mức độ phân cắt sâu khá lớn. Bề mặt địa hình trước biển tiến Flanđri được xây dựng bằng phần mềm Sufer 32 trên cơ sở tài liệu của các lỗ khoan sâu. Hình dạng của các thung lũng sông hình thành do quá trình đào khoét trong Pleistocen muộn thể hiện trên sơ đồ đẳng trị bề mặt Pleistocen muộn (H.2).
 Một nhánh thung lũng sông chạy sâu vào tới gần Phú Xuyên với độ sâu 25-30 m. Một nhánh khác chạy theo hướng ĐN-TB tới gần Hải Dương. Chiều rộng của các nhánh thung lũng sông dao động trong khoảng 15-20 km với chiều dài ăn sâu vào lục địa khoảng 35-40 km. Khi bị ngập chìm thì các thung lũng sông này trở thành cửa sông đặc trưng. Giữa hai thung lũng sông là vùng nổi cao Hưng Yên - Văn Lâm như một bề mặt tương đối bằng phẳng với đường đẳng sâu trung bình -14, -16 m trải rộng. Bề mặt này có diện mạo như một bình nguyên thấp tại thời điểm Pleistocen muộn - đầu Holocen.
Càng ra phía biển, mức độ đào khoét càng mở rộng. Đường đẳng sâu -40 m chạy men theo các vùng Kim Sơn, Ninh Bình lên Nam Định, vòng qua Vũ Thư, Thái Bình và chạy về cửa Trà Lý. Qua các mặt cắt ngang có thể thấy rằng cánh tây nam của các thung lũng có độ dốc lớn hơn cánh đông bắc. Ngoài ra  trong phạm vi châu thổ sông Hồng còn tồn tại một số trũng nhỏ như các trũng Hà Nội, Đan Phượng, Thường Tín…
4. Đặc điểm hoạt động tân kiến tạo châu thổ sông Hồng
Trong phạm vi châu thổ sông Hồng có hai hệ thống đứt gãy chủ yếu khống chế cấu trúc trầm tích Đệ tứ nói chung và Holocen nói riêng. Đó là hệ thống đứt gãy TB-ĐN và hệ thống đứt gãy ĐB-TN. Hai hệ thống này đã khống chế sự phát triển của các trầm tích Holocen từ hai rìa vào trung tâm đồng bằng cũng như tạo ra sự phân bậc theo hướng TB-ĐN của châu thổ sông Hồng. Trong phạm vi châu thổ sông Hồng hoạt động kiến tạo hiện đại được các nhà nghiên cứu đánh giá với các mức độ khác nhau. Tốc độ sụt lún trên toàn đồng bằng được xác định trong khoảng 0,1-1 mm/năm [18]. Có nơi là khối nâng tương đối như các vùng Vụ Bản - Nam Định, Chương Mỹ, Hà Tây, có nơi là khối sụt lún tương đối như vùng Tứ Kỳ, Hải Dương. Tốc độ nâng hạ khác nhau phần nào chi phối quá trình hình thành và tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng.
5. Các giai đoạn tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng
Kết quả phân tích tướng - trầm tích, kết hợp với phân tích, đánh giá tương quan ngập chìm và tốc độ lắng đọng trầm tích cho phép phân chia quá trình tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn cửa sông - vũng vịnh

Hình 2. Sơ đồ bề mặt trầm tích Pleistocen thượng hệ tầng Vĩnh Phúc
 ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng

- Giai đoạn châu thổ
- Giai đoạn aluvi
Trong giai đoạn cửa sông - vũng vịnh và giai đoạn aluvi, các thành tạo Holocen được hình thành với cơ chế bồi tụ (aggradational) và giật lùi (retrogradational), còn trong giai đoạn châu thổ các thành tạo trầm tích được hình thành với cơ chế thoái hoá (progradational). Bắt đầu là các thành tạo cửa sông - vũng vịnh được hình thành, phủ lên trên bề mặt bóc mòn của các thành tạo Pleistocen thượng (Q13). Bản thân các thành tạo này về sau bị phủ bởi các thành tạo châu thổ và cuối cùng là các thành tạo aluvi phủ lên trên các thành tạo châu thổ. Như vậy mặt cắt đầy đủ của đồng bằng sông Hồng gồm ba phần: dưới cùng là các trầm tích cửa sông -vũng vịnh, chuyển lên các trầm tích châu thổ và trên cùng là  trầm tích aluvi.
a. Giai đoạn cửa sông - vũng vịnh
Giai đoạn này kéo dài từ đầu Holocen sớm đến khoảng đầu Holocen giữa. Trong giai đoạn này đã hình thành 5 tướng trầm tích gồm:
1. Tướng sét, bột sét cửa sông - vũng vịnh
 2. Tướng cát, cát bột cồn cát triều
 3. Tướng cát bột sét bãi gian triều
 4. Tướng sét, sét bột đầm lầy bãi trên triều
 5. Tướng cát, cát bột lạch triều và nhánh triều (H.3, H.4).
Thời kì trước biển tiến cực đại
Đây là thời kì tốc độ ngập chìm của bồn trầm tích lớn hơn tốc độ lắng đọng trầm tích trong bồn. Thời kì này ứng với giai đoạn đầu Holocen sớm khi tốc độ dâng của mực nước biển khá cao, đạt khoảng 10-12 mm/năm. Theo các tính toán của một số nhà tân kiến tạo thì tốc độ hạ lún trung bình trong giai đoạn kiến tạo hiện đại của vùng trũng sông Hồng xấp xỉ 0,1 mm/năm. Cũng có ý kiến cho rằng nếu tính theo phương pháp thể tích của Khain thì tốc độ hạ lún trung bình tân kiến tạo trong giai đoạn Pliocen - Đệ tứ là 0,9-1,02 mm/năm (trích dẫn trong [18]). Ngoài ra, theo kết quả đo lặp thuỷ chuẩn của Viện Địa chất (Viện KH&CNVN) thì châu thổ sông Hồng có tốc độ sụt lún trong giai đoạn kiến tạo hiện đại là xấp xỉ 1 mm/năm [15]. Như vậy tổng tốc độ ngập chìm của châu thổ sông Hồng trong thời kì đầu Holocen sớm vào khoảng 11-13 mm/năm. Tốc độ này lớn hơn nhiều lần tốc độ lắng đọng trầm tích trong Holocen sớm (3-5 mm/năm - tính trung bình cho toàn đồng bằng). Tốc độ dâng của mực nước biển cộng với hạ lún tân kiến tạo làm cho phần lớn vùng rìa cửa sông ven biển của châu thổ sông Hồng ngập chìm nhanh chóng. Vùng thung lũng sông trở thành cửa sông và thu nhận vật liệu cả từ phía lục địa và phía biển. Trong vùng trung tâm của cửa sông hình thành các trầm tích cát, cát bột cồn cát triều. Còn các thành tạo hạt mịn như sét, sét bột hình thành tại vùng rìa cửa sông. Trong giai đoạn này, đường bờ dịch chuyển nhanh về phía lục địa, theo các thung lũng đã bị đào khoét trước đó. Vị trí đường bờ trong thời kì giữa Holocen sớm chạy từ Ninh Bình qua Phủ Lý, vòng lên Phú Xuyên rồi men theo phía nam Hưng Yên chạy về Thái Bình, vòng lên phía Hải Dương, chạy về cửa sông Văn Úc. Mực nước biển dâng làm cho mực xâm thực cơ sở cũng dâng cao, gây ngập úng phần lớn diện tích đồng bằng châu thổ sông Hồng. Các vùng xung quanh Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng... trở thành vùng đầm lầy rộng lớn. Các loài thực vật ngọt-lợ, lợ-mặn phát triển mạnh mẽ trong môi trường đầm lầy. Nhiều cây có đường kính 15-20 cm. Khi nước biển dâng cao, đạt cực đại vào cuối Holocen sớm, các loài cây này bị chôn vùi và tạo thành than bùn với các thân và cành còn tương đối nguyên vẹn như đã thấy ở vùng Giảng Võ, Cầu Bươu, Thanh Trì (Hà Nội)....Các số liệu tuổi tuyệt đối cùng sự phát triển rộng khắp của các trầm tích đầm lầy chứa than bùn cơ sở (basal peat) tại vùng phía nam Hà Nội, Hải Dương, Từ Sơn...đã minh chứng cho thời kỳ phát triển mạnh mẽ đầm lầy ven biển của châu thổ sông Hồng trong Holocen sớm. Trong các thành tạo thuộc phần dưới của hệ tầng Hải Hưng tuổi Holocen sớm-giữa thì các di tích bào tử phấn hoa ngập mặn chỉ có mặt với số lượng tương đối phong phú từ sông Luộc trở ra biển mà thôi [3, 4, 10]. Điều này lí giải cho tốc độ dâng chậm hoặc dừng lại tạm thời của mực nước biển tại một thời điểm nào đó trong giai đoạn đầu Holocen sớm. Bởi lẽ các loài thực vật ngập mặn chỉ có thể phát triển tốt trong điều kiện tốc độ dâng của mực nước biển khá chậm, hay trong điều kiện biển dừng và tốc độ bồi tụ của trầm tích không lớn. Nếu không hội tụ đủ điều kiện trên thì các loài thực vật ngập mặn không thể phát triển được. Như vậy có thể thấy rằng trong giai đoạn đầu của Holocen sớm, cũng như thời gian đầu của giai đoạn cửa sông - vũng vịnh thì tại vùng ven biển châu thổ sông Hồng đã hình thành các trầm tích cửa sông - vũng vịnh, còn phía trong đất liền, cho đến nam sông Luộc, hình thành các trầm tích đầm lầy ven biển thuộc tướng sét, sét bột trên triều và gian triều, chứa phong phú các di tích thực vật ngập mặn. Theo các mặt cắt từ đất liền ra phía biển (H.3, H.4), các trầm tích bãi trên triều chuyển tiếp với các trầm tích bãi gian triều và cuối cùng là các trầm tích cửa sông - vũng vịnh. Các trầm tích lạch triều và nhánh triều phát triển trong vùng bãi gian triều và trên  triều.



Sau thời gian trên, mực nước biển dâng nhanh trở lại, tràn ngập các thung lũng sông đã bị đào xẻ trước đó. Đường bờ bị đẩy nhanh về phía đất liền. Các thung lũng sông trở thành các cửa sông điển hình. Cùng lúc này, do mực nước biển dâng cao nên mực xâm thực cơ sở cũng dâng cao, làm cho xung quanh vùng cửa sông bị ngập thường xuyên hay định kì. Kết quả là bãi gian triều và đầm lầy trên triều được hình thành. Các trầm tích đầm lầy và gian triều hình thành trong giai đoạn này, sau đó bị phủ bởi trầm tích của cửa sông - vũng vịnh nông khi mực nước biển dâng cao cực đại vào thời điểm khoảng 6.000 năm BP.
Cùng với sự dâng cao của mực nước biển, các con sông cũng bắt đầu quá trình xâm thực ngang. Các trầm tích aluvi hình thành và lắng đọng trong phạm vi phía bắc, tây bắc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Tuy trắc diện dọc đã giảm, song năng lượng của các sông vẫn còn khá lớn nên trầm tích có tính thô hơn.
Thời kì biển tiến cực đại
Các nghiên cứu trong khu vực và lân cận từ trước tới nay đều cho rằng mực nước biển dâng cao nhất trong Holocen tại thời điểm khoảng 6000 năm BP và đạt độ cao khoảng 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại [1, 6, 7, 13, 14, 17, 19, 20]. Trước thời điểm mực biển dâng cao cực đại, tốc độ dâng của mực nước biển đã giảm đáng kể. Nếu như trước đây, khoảng từ 10.000 đến 9.000 năm BP, tốc độ dâng của mực nước biển đạt 10-12 mm/năm thì vào thời điểm khoảng 7.000 năm BP tốc độ dâng của mực nước biển chỉ còn khoảng 2-4 mm/năm. Đến cuối Holocen sớm, tốc độ dâng của mực nước biển chỉ còn khoảng 1-2 mm/năm và dần tiệm cận tới 0 [1]. Các tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam cũng như các vùng xung quanh đều khẳng định rằng sau 6000 năm BP mực nước biển bắt đầu hạ xuống [8, 9, 13, 14, 19]. Quá trình hạ thấp mực nước biển trong Holocen giữa-muộn tại vùng nghiên cứu là một quá trình dao động tắt dần theo hình sin [1]. Sự dao động tắt dần theo hình sin của mực nước biển đã được một số tác giả đề cập đến với quan điểm cho rằng tại thời điểm khoảng 2.500-2.000 năm BP mực nước biển hạ thấp hơn mực biển ngày nay và sau đó mực nước biển lại dâng lên, tiến vào đồng bằng [16]. Có lẽ đây chỉ  là những đợt biển lấn ngắn trong xu thế hạ thấp của mực nước biển mà thôi.
Trong phạm vi châu thổ sông Hồng, mực nước biển dâng cao cực đại vào khoảng trên dưới 6000 năm BP đã nhấn chìm hầu hết diện tích đồng bằng châu thổ sông Hồng. Các tài liệu nghiên cứu ngấn nước biển tại các vùng đá vôi Hạ Long, Ninh Bình cho thấy tại thời điểm 5.000-6.000 năm BP, mực nước biển đứng tại 5-5,5 m trên 0 hải đồ (5-5.5 A.D) [1]. Như vậy trên phạm vi châu thổ sông Hồng, tại thời điểm khoảng 6000 năm BP, toàn bộ vùng trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng đã bị ngập chìm trong nước biển. Địa hình đáy biển lúc này có sự phân dị. Các thung lũng sông trở thành cửa sông với độ sâu 25-30 m nước, còn vùng Hưng Yên - Văn Lâm thì trở thành vụng nước nông. Lớp sét xám xanh đã hình thành trong điều kiện cửa sông - vũng vịnh và tương đối phổ biến rộng khắp tại vùng nam Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Vùng rìa đông bắc Hải Phòng hình thành lớp sét bột, bột cát màu xám. Lúc này tốc độ lắng đọng trầm tích đã bắt đầu cân bằng và vượt tốc độ ngập chìm của châu thổ sông Hồng. Vùng cửa sông - vũng vịnh dần dần được lấp đầy.
Số liệu tuổi tuyệt đối và các đặc điểm tướng-trầm tích của lỗ khoan ND1 [14], LK DT [13], LK CC [7], vùng Lương Đống, Vụ Bản [18], LK9, Gia Lộc, Hải Dương [2]  đã minh chứng thời gian tồn tại của chế độ cửa sông - vũng vịnh trên diện tích đồng bằng châu thổ sông Hồng trong Holocen sớm. Sự có mặt của tập hàu hà (Ostrea) ở vùng Lương Đống, Vụ Bản với diện phân bố rộng tại độ sâu 0,5-1 m, được định tuổi là 6800 ± 100 năm BP, là bằng chứng cho thấy tại nơi đây vào khoảng 6.500-7.000 năm BP đã tồn tại một chế độ cửa sông tương đối điển hình. Các quần thể hàu, hà là những động vật nhuyễn thể Hai mảnh đặc trưng cho  môi trường cửa sông [11].
Cùng với biển tiến cực đại, mực xâm thực cơ sở của các con sông cũng dâng cao. Xung quanh vùng cửa sông phát triển các đầm lầy và các đồng bằng gian triều. Tại thời điểm khoảng 6000 năm BP, trước khi rút xuống, mực nước biển đã đứng yên một thời gian [13]. Lúc này các đồng bằng gian triều và đồng bằng trên triều phát triển do hoạt động của triều. Các đồng bằng này phân bố xung quanh khu vực Hà Nội, kéo dài xuống Hải Dương, Phả Lại. Khi mực xâm thực cơ sở dâng cao thì các con sông trở nên quanh co, uốn khúc. Các thành tạo đồng bằng bồi tích được hình thành tại các thung lũng sông vùng phía bắc Hà Nội, Phả Lại, bắc Hải Dương... Sự có mặt của các thành tạo aluvi Holocen dưới-giữa (aQ21-2 yl) chứng tỏ trong một thời gian tương đối dài, mực nước biển hầu như ít thay đổi, nếu có thì cũng không đáng kể. Điều này khá phù hợp với những nghiên cứu tại các vùng lân cận của các tác giả khác [21].
b. Giai đoạn châu thổ
Đây là giai đoạn mà tốc độ ngập chìm của đồng bằng sông Hồng nhỏ hơn tốc độ lắng đọng trầm tích. Giai đoạn này bắt đầu từ cuối Holocen sớm, khi tốc độ dâng của mực nước biển giảm, tiệm cận dần tới 0 và kéo dài cho tới ngày nay. Vào khoảng đầu Holocen giữa, mực biển hạ thấp dần theo nguyên lí con lắc đơn tắt dần. Lúc này tốc độ bồi tụ vùng cửa sông lớn hơn tốc độ lún chìm. Châu thổ bắt đầu phát triển mạnh. Vùng trước kia là cửa sông thì nay bị dần dần lấp đầy, trở thành châu thổ và dịch chuyển nhanh kể từ khi mực nước biển rút xuống sau thời điểm khoảng 6.000 năm BP. Các cửa sông không là bẫy trầm tích nữa mà trầm tích chuyển đến được đưa ra lắng đọng tại đới bờ và châu thổ dần dần tiến ra biển (H.6). Trong giai đoạn châu thổ đã hình thành 11 tướng trầm tích(H.3,H.4), gồm:



- Nhóm tướng trầm tích đồng bằng châu thổ
1. Tướng sét bột cát bãi gian triều
2. Tướng sét bột, bột sét bãi trên triều
3. Tướng cát, cát bột lạch triều và nhánh triều
4. Tướng cát bột lòng sông nhánh
5. Tướng sét, bột sét vụng gian lưu
6. Tướng sét bột đầm lầy
7. Tướng cát, cát bột cồn cát ven bờ
8. Tướng sét bột đầm lầy sau doi cát
- Nhóm tướng trầm tích tiền châu thổ (delta front)
9. Tướng cát bột, bột sét tiền doi cát
10. Tướng cát, cát bột doi cát cửa sông nhánh
- Nhóm tướng trầm tích đáy châu thổ (prodelta)
11. Tướng sét, sét bột đáy châu thổ         
Tại mỗi vùng cửa sông hay cửa sông nhánh hình thành một thuỳ châu thổ. Các thuỳ châu thổ có tốc độ dịch chuyển khác nhau, tuỳ thuộc vào địa hình đáy, nguồn cung cấp vật liệu, hoạt động TKT khu vực cũng như phụ thuộc vào động lực sóng và dòng chảy....
Vùng bắc Hưng Yên - tây Hải Dương bao gồm các huyện Bình Giang, Yên Mỹ, Ân Thi, Kim Động, Thanh Miện, Phủ Cừ...là một vùng nổi cao tương đối. Vào đầu Holocen, đây là vùng mà bề mặt đồng bằng sông Hồng tương đối cao, dao động trong khoảng từ -10 đến -12 m, có nơi chỉ -7, -8 m (H.2). Khi mực nước biển bắt đầu rút xuống, các sông nhánh vươn dài về phía biển thì vùng này trở thành vụng nước nông giữa các sông nhánh và nhanh chóng bị lấp đầy. Các vụng nông giữa các sông nhánh (vụng gian lưu) có chế độ động lực tương đối yếu nên các thành tạo hạt mịn như sét, sét bột được hình thành. Các trầm tích sét, sét bột có màu xám, xám xanh tương đối phổ biến ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm phủ lên các thành tạo gian triều và trên triều được hình thành trước đó. Các vụng gian lưu dần dần được lấp đầy, đường bờ ngày càng tiến ra phía biển
Trầm tích đồng bằng châu thổ vùng rìa tây nam và trung tâm bao gồm các tướng: tướng cát, cát bột lòng sông nhánh, tướng sét bột vụng nông gian lưu, tướng sét đầm lầy, tướng doi cát cửa sông nhánh. Trong vùng Hải Dương, Hải Phòng, dưới tác động của triều, các trầm tích gian triều được hình thành với chiều dày dao động từ 2 đến 4 m. Các thành tạo này phủ lên trên các trầm tích đầm lầy và cửa sông - vũng vịnh hình thành trước đó (H.4).
Các trầm tích tiền châu thổ hình thành trong vùng biển với độ sâu đáy biển lớn hơn 5-7 m. Từ nam Phú Xuyên đến Phủ Lý, nam Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình phát triển các thành tạo doi cát cửa sông nhánh, tiền doi cát và các thành tạo cồn cát bờ. Tại các vùng Hải Phòng, nam Hải Dương phát triển các thành tạo cồn cát triều. Các trầm tích này nằm phủ lên trên các trầm tích chân châu thổ. Các thành tạo sét, sét bột đáy châu thổ hình thành tại các vùng với địa hình đáy lớn hơn 20-25 m, như ở phía nam Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng.
Khi nước biển hạ xuống, cùng với nguồn cung cấp vật liệu dồi dào thì châu thổ ngày càng phát triển ra phía biển. Có thể thấy rằng vùng có địa hình đáy nông như vùng Hưng Yên, Ân Thi, Thanh Miện... tốc độ tiến ra biển của đồng bằng châu thổ khá nhanh, còn vùng các thung lũng sông bị ngập chìm có tốc độ tiến ra biển chậm hơn.
Trong quá trình tiến ra biển, các sông và sông nhánh đã chuyển lòng nhiều lần. Một trong những nguyên nhân làm cho dòng sông nhánh chuyển lòng là khi châu thổ tiến ra biển thì lòng dẫn của sông nhánh sẽ kéo dài, hệ quả của nó là độ dốc của lòng sông nhánh giảm, kéo theo khả năng chuyển tải nước và dòng bùn cát cũng giảm theo. Đến thời điểm nào đó khả năng chuyển tải của dòng sông nhánh sẽ giảm đến mức nó sẽ phải tìm một đường mới ra biển, ngắn hơn, có độ dốc lớn hơn. Thuỳ châu thổ cũ sẽ bị bỏ, bị phá huỷ do các quá trình biển hoặc bị chìm xuống do hoạt động hạ lún tân kiến tạo. Khi thuỳ châu thổ bị bỏ thì sóng, thuỷ triều sẽ xói mòn, tái tạo trầm tích. Dưới tác động của sóng, thuỷ triều, vật liệu mịn sẽ bị mang đi, còn các vật liệu thô sẽ được giữ lại, tạo thành các dải cồn chạy song song với bờ. Mỗi lần chuyển dòng là một thuỳ châu thổ mới được hình thành tại vùng cửa sông nhánh mới. Các thuỳ châu thổ kề cạnh nhau tạo nên châu thổ rộng lớn, phát triển, đẩy đường bờ ra phía biển. Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác khiến lòng sông nhánh dịch chuyển như hoạt động tân kiến tạo, sự thay đổi nguồn cung cấp vật liệu do những thay đổi tại vùng thượng lưu hay do khí hậu thay đổi. Quá trình dịch chuyển lòng sông có thể thấy rõ tại vùng sông Đáy ở phía nam Phủ Lý, của sông Lô tại vùng nam Gia Lâm, Văn Lâm. Tại vùng nam Phủ Lý, sông Đáy đã chuyển dịch ít nhất 4 lần. Các di tích lòng sông cổ thấy được khá rõ trên ảnh vệ tinh Landsat TM và Spot.
b. Giai đoạn aluvi
Giai đoạn aluvi bắt đầu từ cuối Holocen giữa, khi đồng bằng châu thổ đã hình thành và trải dài ra biển. Khi đồng bằng châu thổ phát triển ra phía biển thì nó để lại đằng sau một bề mặt bằng phẳng, rộng lớn, tương đối thấp. Trong điều kiện đó, hoạt động của các sông đã tạo nên tầng trầm tích aluvi, phủ lên trên các thành tạo châu thổ trước đó. Quá trình này kéo dài cho tới ngày nay.
Giai đoạn aluvi là giai đoạn cuối cùng của chu kì phát triển đồng bằng châu thổ. Lúc này đường bờ ngày càng lùi ra phía biển, hoạt động của sông ngày càng chiếm ưu thế hơn và làm thay đổi địa hình đồng bằng châu thổ trước đó. Do độ dốc của bề mặt châu thổ giảm đáng kể nên một phần vật liệu do các con sông vận chuyển sẽ được lắng đọng ngay trên bề mặt của đồng bằng châu thổ. Trong các kì lũ lụt, bề mặt đồng bằng châu thổ bị ngập chìm trong nước lũ. Nước chảy tràn trên bề mặt châu thổ để lại các lớp trầm tích hạt mịn gồm chủ yếu là sét, sét bột. Hàng năm có sự xen kẽ giữa mùa khô và mùa mưa. Vào mùa khô đồng bằng châu thổ bị phơi ra, còn vào mùa mưa thì bị ngập nước. Quá trình ngập nước định kì như vậy đã phủ lên bề mặt châu thổ một lớp trầm tích hạt mịn với chiều dày thay đổi từ 0,5 đến 2-3 m. Hoạt động của sông trong giai đoạn này chủ yếu là đào xẻ ngang. Quá trình di chuyển ngang của lòng sông tạo ra những bãi bồi ven lòng với các vật liêụ trầm tích tương đối thô như cát mịn, cát bột. Khi nước sông chảy tràn ra hai bên bờ thì động năng của dòng chảy giảm. Lúc này các vật liệu thô như bột cát, cát bột sẽ lắng đọng, tạo nên những con trạch hay đê tự nhiên ven sông. Càng xa lòng sông, động năng của dòng chảy càng giảm nên trầm tích lắng đọng trên đồng bằng bồi tích có độ hạt giảm dần từ lòng. Vào mùa khô, nước lũ rút đi, song cũng còn một số nơi tồn tại các ô trũng ngập nước nông. Các ô trũng này dần dần trở thành đầm lầy nước ngọt và các trầm tích hạt mịn như sét, sét bột lắng đọng tạo thành trầm tích đầm lầy màu xám đen đặc trưng với các di tích động thực vật nước ngọt. Trong giai đoạn aluvi đã hình thành 6 tướng trầm tích (H.3) gồm:
1. Tướng sét bột đồng bằng bãi bồi. (flood plain)   
2. Tướng sét bột hồ đầm lầy trên bãi bồi.         
3. Tướng sét bột lòng sông cổ.
4. Tướng cát, cát bột bãi ven lòng (point bar )
5. Tướng bột cát gờ ven sông (levee)
6. Tướng cát  sạn lòng sông
Các thành tạo aluvi kéo dài từ vùng Sơn Tây xuống tới nam Ninh Bình, Nam Định, qua Thái Bình, Hải Dương. Chúng phủ lên trên các thành tạo của đồng bằng châu thổ hình thành trước đó, càng ngày càng làm cho bề mặt đồng bằng nổi cao hơn. Kể từ khi con người can thiệp vào quá trình thiên nhiên bằng cách đắp đê dọc theo các con sông, nhằm khống chế và điều tiết quá trình lũ lụt, thì quá trình trầm tích trên toàn đồng bằng châu thổ sông Hồng hầu như đã ngừng hẳn, có chăng chỉ còn diễn ra ở ngoài đê làm lòng dẫn của các sông ngày càng được tôn cao.
KẾT LUẬN
Lịch sử tiến hoá trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng trải qua ba giai đoạn chính: cửa sông - vũng vịnh, giai đoạn châu thổ và giai đoạn aluvi. Giai đoạn cửa sông - vũng vịnh bắt đầu từ 10.000 năm BP đến đầu Holocen giữa, gắn liền với đợt biển tiến Flanđri. Tốc độ lắng đọng trầm tích trong giai đoạn này nhỏ hơn nhiều tốc độ ngập chìm ở vùng cửa sông, hình thành 5 tướng trầm tích, phủ lên bề mặt phong hoá, bóc mòn của các trầm tích Pleistocen thượng. Giai đoạn châu thổ bắt đầu từ cuối Holocen sớm (khoảng 6.500-6.000 năm BP) cho đến ngày nay. Trong giai đoạn này, tốc độ lắng đọng trầm tích vượt trội tốc độ ngập chìm vùng cửa sông, hình thành 11 tướng trầm tích châu thổ, phủ lên các trầm tích cửa sông - vũng vịnh và vươn ra phía biển. Giai đoạn aluvi bắt đầu từ cuối Holocen giữa - đầu Holocen muộn. Lúc này động lực sông chiếm ưu thế, hình thành 6 tướng trầm tích phủ lên trên các thành tạo châu thổ.
Lời cảm ơn
Công trình được hoàn thành với sự hỗ trợ của Chương trình Nghiên cứu cơ bản.
VĂN LIỆU
1. Doãn Đình Lâm, Boyd W.E., 2001. Một số dẫn liệu về mực nước biển trong Pleistocen muộn - Holocen tại vùng Hạ Long và Ninh Bình, TC Các khoa học về Trái đất, 23/1 : 86-91. Hà Nội.
2. Doãn Đình Lâm, Boyd W.E., 2000. Holocene coastal stratigraphy and a model for the sedimentary development of the Hai Phong area in the Red River Delta, North Viet Nam. J. Geology, B/15-16 : 18-28. Hà Nội.
3. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Bảo Khanh, 1996. Đặc điểm phân bố thực vật ngập mặn trong trầm tích Holocen ở các đồng bằng ven biển Việt nam, TC Các khoa học về Trái đất, 18/2 : 96-98. Hà Nội.
4. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, 2000. Các giai đoạn phát triển thực vật ngập mặn trong Holocen ở đồng bằng Sông Hồng, TC Các khoa học về Trái đất, 22/2 : 120-126. Hà Nội.
5. Đỗ Văn Tự, 1988. Đặc điểm trầm tích và lịch sử phát triển địa chất Đệ tứ đồng bằng Bắc Bộ. Luận án PTS Địa lý - Địa chất, Thư viện Quốc gia, Hà Nội.
6. Hoàng Ngọc Kỷ (Chủ biên), 1978. Địa chất tờ Hà Nội. Tổng cục Địa chất, Hà Nội.
7. Hori K., Tanabe S., Saito Y., Haruyama S., Viet N., Kitamura A., 2004. Delta initiation and Holocene sea-level change: Example from the Song Hong (Red River) Delta, Vietnam. Sed. Geol., 164 : 237-249.
8. Ngô Quang Toàn (Chủ biên), 1989. Địa chất nhóm tờ thành phố Hà Nội. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
9. Ngô Quang Toàn (Chủ biên), 1993. Địa chất và khoáng sản thành phố Hải Phòng. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
10. Nguyễn Ngọc, Đinh Văn Thuận, 1985. Những bằng chứng cổ sinh về sự có mặt và quy mô phát triển của các thời kỳ biển trong kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Bắc Bộ. Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1985, tr. 16-17. Hà Nội.
11. Reading H.G. (Edit), 1986. Sedimentary environments and facies. Publ. Blackwell Sci., Paris - New York - London.
12. Steve Mathers & Jan Zalasiewicz, 1999. Holocene sedimentary Architecture of the Red River Delta, Vietnam, J. of Coastal Res. 15/2 : 314-325.
13. Tanabe S., Hory K. Saito Y., Haruyama S., Van Phai Vu & Kitamura A., 2003. Song Hong (Red River) delta evolution related to millenium-scale Holocene sea-level change. Quaternary Sci. Rev., 22 : 2345-2361.
14. Tanabe S., Hory K., Saito Y., Haruyama S., Doanh L.Q., Sato Y., Hiraide S., 2003. Sedimentary facies and radiocarbon dates of the Nam Dinh - 1 core from the Song Hong (Red River) delta, Viet Nam. J. of Asian Earth Sci., 21 : 503-513.
15. Trần Đình Tô, Dương Chí Công, Nguyễn Đình Tú, 1991. Những kết quả đầu tiên nghiên cứu chuyển động thẳng đứng trũng Sông Hồng, Địa chất - Tài nguyên. Nxb KHKT, Hà Nội.
16. Trần Đức Thạnh, 1988. Dẫn liệu về đợt hạ thấp mực biển vào cuối Holocen giữa - đầu Holocen muộn ở vùng ven bờ đông bắc, TC Các khoa học về Trái đất, 10/3-4 : 50-53. Hà Nội.
17. Trần Nghi, Ngô Quang Toàn, 1991. Đặc điểm các chu kỳ trầm tích và lịch sử tiến hoá địa chất Đệ tứ của đồng bằng sông  Hồng, TC Địa chất, 206-207 : 65-77. Hà Nội.
18. Vũ Nhật Thắng (Chủ biên), 1996. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Thái Bình -
Nam Định. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
19. Vũ Quang Lân, 1996.  Đặc điểm trầm tích và lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn Holocen vùng rìa đông nam đồng bằng sông Hồng, Báo cáo HNKH lần thứ 12 Trường ĐHMĐC, 4 : 39-45. Hà Nội.
20. Vũ Quang Lân, Vũ Nhật Thắng, 1997. Những dẫn liệu mới về địa chất Đệ tứ vùng Thái Bình - Nam Định và phụ cận, TC Bản đồ Địa chất, 1/1997 : 48-52. Hà Nội.
21. Zhenguo H., Li Pingri, Zhang Zhongying, 1991. Sea level change along the coastal area of South China since Late Pleistocene. In: Quaternary coastline changes in China, Ed. by Quin Y.S and Zhao S.L. China Ocean press, 142-154, Beijing.