Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Sophie Quinn-Judge: Hồ Chí Minh và những năm chưa biết

  • 7 tháng 7 2019
  • Bản quyền hình ảnh Keystone
    Image caption Hồ Chí Minh trong một ảnh chụp vào thập niên 1940s
    Cuốn "Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết đến" (Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 - 1941) của tiến sĩ Sophie Quinn-Judge, Đại học LSE, London, chủ yếu dựa trên tư liệu về Quốc tế Cộng sản được giải mật năm 1992 của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Nga - và tư liệu từ kho lưu trữ quốc gia Pháp.
    Tập trung vào những năm hoạt động của ông Hồ Chí Minh thời kì trước 1945, cuốn sách cố gắng dựng lại chân dung cũng như vị trí thật sự của ông Hồ trong thời kỳ này.
    Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 50 năm và Di chúc
    Hồ Chí Minh với bí danh Hồ Quang và Trần Dân Tiên
    Mikhail Borodin: Người sếp cũ của Hồ Chí Minh
    Hồi tháng 9/2003, khi còn làm việc tại Anh, bà Sophie Quinn-Judge, người Mỹ, đã trả lời phỏng vấn của Ban Tiếng Việt BBC.
    BBC:Cuốn sách của bà mở đầu bằng hội nghị tại Paris năm 1919 khi lần đầu tiên ông Hồ Chí Minh - mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc - được nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết gì nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có ảnh hưởng thế nào đến ông không?
    Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hy vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.
    Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông là Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.
    Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.
    BBC:Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?
    Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm.
    Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.
    BBC:Khi Nguyễn Ái Quốc tới hội nghị hòa bình Versailles 1919, người ta nhìn ông như thế nào?
    Đây là một điều mà chúng ta rất khó biết chắc bởi vì có một khoảng trống lớn trong tiểu sử của ông Hồ. Chúng ta không biết trước năm 1919, ông Hồ hoạt động ở mức độ nào, chuyện chính trị có phải là vấn đề bận tâm duy nhất của ông hay không.
    Nên khi ông xuất hiện tại hội nghị Paris tháng Sáu năm 1919, phân phát bản kiến nghị cho các đại biểu tham dự, mọi người thấy khó chấp nhận ông ấy như một nhân vật ngang hàng với những người nổi tiếng như Phan Chu Trinh hay Phan Văn Trường.
    BBC:Sau hội nghị ở Paris, ông Hồ đến Nga năm 1923 rồi sau đó đi Quảng Đông. Trong khoảng thời gian này, vị trí của ông Hồ trong Quốc tế Cộng sản như thế nào,bởi vì một số tác giả cho rằng lúc này ông Hồ đã được Quốc tế Cộng sản chú ý nhiều?
    Đầu tiên, ông Hồ lúc đó không phải là thành viên của một đảng cộng sản châu Á nào. Ông ấy đang là thành viên của đảng cộng sản Pháp. Vì thế, ông chưa có vị trí vững chắc trong nội bộ Quốc tế Cộng sản. Ví dụ, ông không có chân trong ban chấp hành. Có nhiều nhân vật khác quan trọng hơn như Mahendra Roy từ Ấn Độ hay Sen Katayama của Nhật.
    Nhưng Nguyễn Ái Quốc có một thông điệp rất rõ về việc phong trào cộng sản có thể tham gia thế nào trong phong trào quốc gia tại các thuộc địa. Tôi nghĩ bởi vì thông điệp này nên ông ấy được khuyến khích lên phát biểu tại đại hội lần thứ năm của Quốc tế Cộng sản năm 1924. Nhưng lúc ấy, theo tôi, ông Hồ chưa phải là người phát ngôn hàng đầu về các vấn đề thuộc địa trong Quốc tế Cộng sản.
    Việc ông Hồ là thành viên đảng Cộng sản Pháp cũng có thể đã khiến vị trí của ông trở nên phức tạp. Trotsky - đối thủ chính trị của Stalin thời bấy giờ - có một ảnh hưởng đáng kể đối với những người cộng sản Pháp. Trong một bãi mìn chính trị như vậy, ông Hồ dường như bắt đầu học cách hợp tác với bất kỳ ai đang nắm quyền lực và học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình.
    BBC:Một số tác giả như Jean Lacouture nói rằng ông Hồ được gửi tới Quảng Đông để làm trợ lý hay thư ký cho Mikhail Borodin?
    Tôi nghĩ điều này không chính xác, bởi vì ông Hồ lúc đó từ Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai trò chính thức. Có vẻ như người ta đã tìm cho ông công việc làm người dịch thuật tại hãng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt động chính trị của ông.
    Bản quyền hình ảnh Getty Images
    Image caption Mikhail Borodin và Hồ Chí Minh
    Chứ còn lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng ̣Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra.
    BBC:Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?
    Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bức bối vì thiếu sự giúp đỡ cụ thể của Quốc tế Cộng sản, hay người Nga hay người cộng sản Pháp lúc đó. Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc tế Cộng sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.
    Cuối cùng thì vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế Cộng sản từ Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một ngân khoản. Nhưng không may là trước khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và ông Hồ phải rời khỏi Quảng Đông trước khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có thể khởi động một cách toàn diện.
    BBC:Trong khoảng thời gian ông Hồ ở tại Quảng Đông, có xuất hiện cái tên của bà Tăng Tuyết Minh với những lời đồn đoán khác nhau. Theo nguồn tài liệu mà bà có, thì Tăng Tuyết Minh là ai?
    Gần đây đã có một chuyên gia Trung Quốc đề cập đến người này. Còn theo tài liệu mà tôi tìm thấy tại Pháp, Tăng Tuyết Minh khi đó là một phụ nữ trẻ ở Quảng Đông. Và có lẽ bà ấy và ông Hồ đã kết hôn vào tháng Mười năm 1926. Họ ở với nhau cho đến khi ông Hồ phải rời Quảng Đông tháng Năm 1927. Như vậy thời gian kéo dài khoảng sáu tháng.
    BBC:Từ mà bà dùng - "có lẽ" - ở đây nghĩa là thế nào?
    Không chắc vào thời kỳ đó, một cuộc hôn nhân được định nghĩa như thế nào. Ta bắt gặp những ví dụ khác nhau trong các văn bản về phong trào cộng sản. Đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra đơn thuần vì lý do chính trị. Hai người sống chung với nhau như một cách ngụy trang để duy trì các hoạt động chính trị của họ.
    Thí dụ, nếu họ điều hành một tòa soạn báo, sẽ an toàn hơn khi giả làm hai vợ chồng. Và tôi không biết trong các phong trào cách mạng, đâu là các yếu tố tạo nên một cuộc hôn nhân có ràng buộc. Những điều này có vẻ không chặt chẽ, chẳng hạn nếu ta nhìn sự nghiệp của Mao Trạch Đông, một người mà đã nhiều lần thay đổi người nâng khăn sửa túi cho mình.
    BBC:Sau khi rời khỏi Quảng Đông, ông Hồ Chí Minh đã bôn ba nhiều nơi trước khi quay trở lại châu Á. Và rồi chúng ta có sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà sau đó có tên Đảng Cộng sản Đông Dương. Theo quyển sách của bà, thì Đảng Cộng sản thành lập tháng Hai năm 1930 và đến tháng Mười năm đó, ông Hồ Chí Minh đã đánh mất ảnh hưởng của mình trong đảng?
    Cần nhắc là ông Hồ đã trải qua thời gian ở Thái Lan, rồi sang Hong Kong vào mùa đông 1929. Hong Kong là nơi mà tháng Hai năm 1930, một đảng cộng sản thống nhất của người Việt Nam ra đời.
    Cùng lúc này thì có nhiều sự không rõ ràng xung quanh việc ai là người ban đầu được chính thức giao trách nhiệm thành lập nên đảng. Bởi vì trước đó Quốc tế Cộng sản gửi về hai người là Trần Phú và Ngô Đức Trì. Hai người này đã học tại Moscow trong khoảng ba năm và trở về mang theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản về cách thức thành lập đảng.
    Vậy là sau khi Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng cộng sản vào tháng Hai, hai người này quay về Việt Nam hoạt động. Cuối cùng đến tháng Mười, diễn ra hội nghị trung ương lần thứ nhất tổ chức tại Hong Kong.
    Đến lúc này hai người, mà đặc biệt là Trần Phú - theo tôi - đã cố gắng ấn định các chỉ thị mà họ mang theo từ Moscow. Chỉ thị này bao gồm đảng phải là tổ chức của riêng giai cấp lao động, một chủ trương mà sẽ dẫn đến một nỗ lực thanh trừng các thành phần yêu nước gốc trung lưu trong nội bộ đảng.
    BBC:Cũng khoảng thời gian này, có một lá thư đề ngày 12-1-1931 của Văn phòng Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản nhắc ông Nguyễn Ái Quốc rằng ông cần thông báo cho họ về cuộc hôn nhân của mình hai tháng trước khi cuộc hôn nhân diễn ra. Đây là lúc muốn được hỏi bà, theo bà, thì có cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh Khai và ông Hồ Chí Minh hay không?
    Tôi không chắc đó có phải một cuộc hôn nhân thật sự hay không. Chúng ta biết là khoảng giữa năm 1930, bà Nguyễn Thị Minh Khai được giao đến làm việc tại văn phòng của ông Hồ ở Hong Kong, rồi sau đó được giao công việc liên lạc với đảng cộng sản Trung Quốc.
    Vào tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận chuẩn bị cho ngày Tết và chuẩn bị đón khách từ Việt Nam. Ông Hồ cũng viết thư cho Quốc tế Cộng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới một đám cưới sắp diễn ra.
    Bởi vì sau đó Quốc tế Cộng sản viết thư trả lời, nói ông cần đình hoãn đám cướI cho đến khi có chỉ thị mới. Tôi sẽ ngần ngừ khi nói liệu ông Hồ có phải đang nóI về việc làm đám cưới thật sự hay không bởI vì trong các thư từ, họ thường sử dụng nhiều loại mật mã.
    Nhưng trong trường hợp này, có vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra bởi vì trong cùng một lá thư ông Hồ cũng thảo luận nhiều vấn đề khác một cách công khai. Và từ những gì ngườI ta biết vào năm 1934, Nguyễn Ái Quốc có một người vợ được cử tới đại hội của Quốc tế cộng sản ở Moscow.
    Khi Minh Khai tới Moscow, bà ấy có viết trong lý lịch nói mình kết hôn với "Lin" - bí danh của ông Hồ thời bấy giờ. Vì vậy, người ta có thể ngờ rằng giữa hai người có một mối quan hệ vào năm 1931.
    BBC:Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ "hôn nhân" ở đây. Vậy nếu người ta hỏi liệu đã một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?
    Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ, nhưng bà đã qua đời.
    Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.
    BBC: Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy thì đâu là thực, đâu là hư?
    Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin tình báo của Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.
    Chúng ta không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân cách mạng hay không, khi mà hai người cùng chí hướng đã giả trang làm người yêu để dễ đánh lạc hướng chính quyền đương thời. Hay còn điều gì hơn thế! Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.
    BBC:Trong quyển sách, bà viết là đến khi hội nghị trung ương đảng cộng sản Đông Dương họp tại Sài Gòn ngày 12-3-1931, mối quan hệ giữa Ban chấp hành Trung ương với ông Hồ Chí Minh đã xuống dốc rất nhiều. Vì sao lại như vậy?
    Thật sự thì Ban chấp hành gồm rất ít người, người lãnh đạo chính là ông Trần Phú. Tôi nghĩ có một sự khó chịu về nhau từ cả hai phía - ông Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong và các ông Trần Phú, Ngô Đức Trì và các lãnh đạo khác ở Sài Gòn.
    Than phiền chính của họ là những khó khăn trong việc liên lạc với Quốc tế Cộng sản, mà đại diện là Văn phòng Phương Đông tại Thượng Hải. Có nhiều lý do vì sao việc liên lạc lại khó khăn. Một trong số đó là chi nhánh đảng cộng sản Trung Quốc tại Hng Kong đã bị người Anh phát hiện vào khoảng đầu năm 1931. Nên không còn một cơ sở hạ tầng cho việc liên lạc như trước đây.
    Và dĩ nhiên lúc đó đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị tổn hao vì những đợt bắt bớ của người Pháp. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, dễ hiểu là vì sao các bên đổ lỗi cho nhau. Ông Hồ không nhận được thông tin từ trong nước, nên ông yêu cầu ban chấp hành ở miền Trung và Hà Nội. Điều này làm các lãnh đạo ở Sài Gòn khó chịu. Vì thế ông Hồ cảm thấy mình không được sử dụng đúng và sau đó đề nghị đảng cho thôi chức vụ của ông tại Hong Kong.
    BBC:Nhưng bên cạnh đó, một lý do khác dường như là xung đột trong hệ tư tưởng giữa các bên, phải không?
    Vâng, theo tôi, ông Hồ lúc đó bị chỉ trích vì người ta bắt đầu xem ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia. Ông ấy coi đảng phải sử dụng những tình cảm yêu nước để thu hút nhiều đối tượng. Trong khi đó, tại Sài Gòn, chi bộ đảng đã bắt đầu đi theo chính sách mới của Quốc tế Cộng sản, tức là đấu tranh giai cấp và đảng chỉ là đảng của người vô sản mà thôi, sinh viên hay tầng lớp trung lưu chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
    BBC:Vấn đề ông là người quốc gia hay cộng sản đã được bàn đến nhiều khi nói tới Hồ Chí Minh. Có người nói là ngay cả khi xem ông Hồ là người theo chủ nghĩa dân tộc, thì thật ra đó không phải lý thuyết của chính ông? Bà nghĩ sao?
    Thật khó để biết đâu là xu hướng riêng trong chính sách của ông Hồ lúc đó, đâu là ông đi theo chính sách của Quốc tế Cộng sản thời kỳ thập niên 1920. Nhưng có thể nói xu hướng của ông Hồ lúc đó phù hợp với chính sách của Quốc tế cộng sản lúc 1920.
    Theo đó, những người cộng sản nên tập trung vào các cuộc cách mạng dân tộc ở các nước thuộc địa bởi vì giai cấp vô sản hay đảng cộng sản còn rất nhỏ, tự mình hành động thì không có lợi. Ông Hồ theo xu hướng này. Còn ông có những ý tưởng nào vượt ra khỏi điều này không, thì tôi không rõ.
    BBC:Chúng ta hãy chuyển sang giai đoạn giữa thập niên 1930 khi ông Hồ quay về Nga. Có vẻ như vị trí của ông trong Quốc tế Cộng sản lúc này bị lung lay?
    Bản quyền hình ảnh ullstein bild Dtl.
    Image caption Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước VNDCCH thăm Đông Đức năm 1957
    Stalin lúc đó đã củng cố ảnh hưởng của mình. Nói chung những ai đã từng làm việc ở nước ngoài sẽ bị nghi ngờ mang tư tưởng tư sản. Những ai trở về Nga phải tự thú. Có cảm giác kẻ thù ở mọi nơi. Đặc biệt những người như ông Hồ Chí Minh đã từng làm việc với mặt trận thống nhất tại miền nam Trung Hoa.
    Thêm vào điều đó, lại còn những vụ bắt giữ người cộng sản tại Hong Kong, Thượng Hải năm 1931. Cơ sở của quốc tế cộng sản tại Thượng Hải sụp đổ. Và những người lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị bắt. Nên dĩ nhiên diễn ra các vụ điều tra xem ai có tội, và ông Hồ chắc chắn trải qua những ngày vất vả khi đó.
    BBC:Sau những vụ thanh trừng tại Nga 1937 - 1938, thì nhiều người tự hỏi vì sao ông Hồ Chí Minh có thể tồn tại sau những ngày như thế?
    Đó là câu hỏi mà các chuyên gia nước ngoài đã tập trung nghiên cứu từ lâu. Quan điểm trước đây của họ cho rằng lý do chính là vì ông Hồ, vào cuối thập niên 30, đã trở thành lãnh tụ của đảng cộng sản nên vì thế được Stalin bảo vệ hay ít nhất cũng là một trong những người được tin dùng.
    Theo tôi, đó là một sự tổng quát hóa không có cơ sở. Stalin có thể diệt trừ những người thân cận nhất của mình, không có ai là an toàn. Những nhân vật thân cận như Kalinin, Molotov cũng là nạn nhân của Stalin (vợ của họ bị bắt và đây có thể xem là một cách để khống chế những người này).
    Nên phải nói ngay từ đầu cái ý nghĩ bạn có thể an toàn khi ở cạnh Stalin là điều không có thật. Và ngoài ra, ông Hồ Chí Minh đã bị cảnh gần như bị giáng chức vào năm 1935 vì cáo buộc ông chịu trách nhiệm cho những vụ bắt giữ năm 1931. Nên không thể nói ông ấy lúc đó là nhân vật hàng đầu trong Quốc tế Cộng sản.
    Kết luận lại, tôi nghĩ lý do chính là vì ông đã sống kín đáo, lặng lẽ. Mà thực sự Việt Nam cũng không phải nằm trong danh sách những nước làm Stalin lo âu. Ông ta quan tâm hơn đến việc thanh trừng đảng cộng sản ở các nước láng giềng.
    BBC:Theo tường thuật của bà trong sách, đường cách mạng của ông Hồ Chí Minh vẫn còn rất gian nan trong thập niên 1930. Vậy ông Hồ đã làm thế nào để có được quyền lực trong đảng cộng sản để rồi sau này dẫn tới cách mạng năm 1945?
    Quá trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến trình có sẵn từ đầu. Một trong những điểm tôi cố gắng làm rõ trong quyển sách là quá trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến trình có sẵn từ đầu.
    Năm 1938, khi ông Hồ quay lại Trung Quốc, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập là thuộc trong số những lãnh đạo đảng tại Sài Gòn. Sau đó thì lần lượt từng lãnh đạo tại Sài Gòn bị Pháp bắt sau khi Mặt trận Bình dân tại Pháp sụp đổ và chính quyền Pháp một lần nữa ra chính sách trừ diệt đảng cộng sản. Sau đó, tôi nghĩ có một cuộc khủng hoảng lãnh đạo trong đảng.
    Lúc này, ông Hồ đang ở Trung Quốc xây dựng một nhóm những người yêu nước Việt Nam theo đuổi chính sách thống nhất - một chính sách mà vào lúc này quốc tế cộng sản quay lại sử dụng. Tôi nghĩ đến đầu thập niên 40, ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam cần lúc đó, có mặt và sẵn sàng hành động.
    BBC:Như bà viết trong sách, nhiều tác giả - cả cộng sản và không cộng sản - đã phần nào phóng đại vai trò của ông Hồ Chí Minh. Vì sao?
    Tôi nghĩ đó là điều mà trong giới sử học gọi là tạo câu chuyện bằng cách viết ngược (back formation). Bởi vì ông Hồ trở thành chủ tịch nước năm 1945, người ta đặt ra những tiền đề không có căn cứ về sự nghiệp của ông.
    Và thật dễ dàng để cho rằng ông đã luôn là một trong những nhân vật hàng đầu trong quốc tế cộng sản. Dĩ nhiên Đảng Cộng sản Việt Nam sẵn sàng chấp nhận suy nghĩ này vì nó cho họ một uy tín trong phong trào cộng sản quốc tế.
    BBC:Nhưng vì sao ngay cả những người không cộng sản cũng có thiên hướng chấp nhận điều này?
    Theo tôi, đó là vì một chân dung như thế cũng hợp với những nghị trình của họ. Họ muốn tin rằng ông Hồ đã luôn là một người cộng sản ẩn đằng sau cái vỏ dân tộc chủ nghĩa.
    Tôi nghĩ những nhà chỉ trích ông Hồ Chí Minh - thuộc cả hai phía cộng sản và không cộng sản - duy trì chân dung về ông như một nhà cộng sản đầy quyền lực bởi vì ông ấy là biểu tượng nổi tiếng nhất của phong trào cộng sản Việt Nam.
    BBC:Khi đọc về những bước đường đầu tiên trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, nó có giúp gì cho người ta hiểu về phần đời sau này của ông hay không?
    Vâng, tôi nghĩ phần nào đó, những gì diễn ra trong thập niên 1930 cũng tái lặp trong cuối thập niên 40, đầu 50. Mâu thuẫn trong phong trào cộng sản tại Việt Nam và quốc tế không bao giờ vụt tắt. Một bên muốn đi tới thật nhanh, xây dựng điều mà họ gọi là chủ nghĩa xã hội bằng cách loại trừ tầng lớp trung lưu.
    Một bên lại cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải được xây dựng từ từ, trải qua giai đoạn của chủ nghĩa tư bản. Tôi nghĩ người ta cần hiểu hai quan điểm này cứ thay nhau được chấp nhận, rồi gạt bỏ. Cứ như vậy.
    Đó là một trong những lý do - tôi nghĩ - vì sao ông Hồ Chí Minh không phải bao giờ cũng duy trì được vị trí là một nhà lãnh đạo có thực quyền.
    Bài đã đăng trên giao diện cũ của BBC Tiếng Việt hồi tháng 9/2003. Bản cũ có thể đọc ở đây.
    Xem thêm:
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử
    Ngoại giao Pháp và những cơ hội bị bỏ lỡ của VN
    1945-1975: Tính chính thống và chủ quyền quốc gia

    Băn khoăn về màu cờ cho Việt Nam năm 1945

    Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

    Quyền tự do lập hội, vậy tự do lập hội trong tôn giáo thì sao?

    Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cử hành Đại lễ Phật đản Phật Lịch 2563 - DL.2019 tại Tổ Đình Quốc Ân, Huế.

    Trong buổi dự Đại lễ Phật đản Phật lịch 2563 tại Sài Gòn hôm 19/5/2019, vị Hòa Thượng cao niên Thích Quảng Tôn có đặt câu hỏi với người viết: “Nghe nói sắp tới sẽ có luật về quyền tự do lập hội. Như vậy, những người tu hành có được quyền chọn những hội, đoàn riêng, mà không phải lệ thuộc vào Mặt Trận Tổ Quốc?”.
    Câu hỏi không dễ trả lời. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hiện là đơn vị thành viên của tổ chức có tên là Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo thì không có điều khoản nào về việc các tôn giáo được tự do lựa chọn, hoặc tự thỏa thuận thành lập các hội, đoàn độc lập.
    Không chỉ riêng Phật Giáo, mà bất kỳ tôn giáo nào để được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, đều bị buộc phải là thành viên của tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc (Điều 4, Luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo).
    “Cái căn bản của đạo Phật là sinh hoạt từng chùa, chứ chúng tôi không dựa theo giáo hội nhiều. Giáo hội chỉ là cơ quan hành chánh, lâu lâu tổ chức việc này, việc khác thôi, chứ giáo hội không nhằm đặt ra để mà kiểm soát tất cả các chùa và không có huy động trực tiếp, chỉ huy các thầy làm gì. Các thầy chủ động đặt ra chương trình để làm công việc Phật sự.
    Chúng tôi cũng tu hành bình thường thôi, nhưng cơ quan hành chánh của chúng tôi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lại không được tôn trọng. Đúng là nhà nước hiện tại chưa có văn bản nào phủ nhận; nhưng đồng thời họ cũng chưa bao giờ công nhận có một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở tại Việt Nam. Cá nhân tôi nghĩ rằng ngay cả Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay cũng chỉ là một hội đoàn, chúng tôi cũng là một hội đoàn. Cái khác nhau là ở vế có hay không việc là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc
    Nếu sắp tới đây có luật về quyền lập hội, tại sao không chấp nhận cho những nhà tu hành của chúng tôi được có những hội đoàn riêng của mình, như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chẳng hạn”. Một vị Hòa thượng cao niên khác, không muốn nêu tên, thắc mắc.
    Một vị Hòa thượng khác cũng là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kể rằng ông quan tâm đến bài phát biểu vừa rồi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng về kinh tế nhà nước, và kinh tế tư nhân. Vậy thì, nếu hiểu những tổ chức tôn giáo chấp nhận là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, là tôn giáo có dáng dấp ‘nhà nước’; thì cũng nên sòng phẳng thừa nhận, tôn trọng các tôn giáo không là thành viên Mặt Trận Tổ Quốc. Căn cứ pháp lý cho đề xuất ấy có thể là ở thì tương lai của luật về quyền lập hội.
    “Tôi hy vọng chuyến đi Mỹ sắp tới của ông Tổng Bí Thư sẽ mở ra nhiều vận hội cho quyền tự do lựa chọn các tổ chức đại diện cho mình của chùa chiền, tự viện, thay vì buộc tất cả đều phải thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”. Vị Hòa Thượng, nói.
    Nôm na, người viết bài này cho rằng, nếu như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đưa ra tôn chỉ ‘Đạo pháp – Dân tộc – Xã hội chủ nghĩa’, thì cũng cần phải thừa nhận tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với tiêu chí ‘Dân tộc – Đạo pháp’. Sự tự do lựa chọn tổ chức đại diện cho mình của các chùa, tự viện ở đây, thiết nghĩ cũng tương tự như quyền tự do công đoàn đang bàn luận trong sửa đổi Bộ Luật Lao Động.
    Tương tự, ngay cả việc kỷ niệm Phật Đản ở Việt Nam vừa qua cũng có 2 dạng thức và tổ chức cũng khác ngày: Một, Đại lễ Phật Đản Vesak Liên Hiệp Quốc tổ chức tại một chùa nào đó được chọn lựa, với sự tham gia của đại diện các chùa trên toàn quốc, cùng đại diện đại biểu quốc tế. Đại lễ mang dáng dấp của quan hệ chính trị đối ngoại.
    Hai, Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2563 tiến hành theo nghi thức truyền thống ở tại các chùa trên cả nước.
    Quyền tự do tôn giáo và quyền lựa chọn các tổ chức hội, đoàn của những chùa chiền, tự viện: đây là những vấn đề đặt ra trên cơ sở quyền tự do lập hội, tự do công đoàn.
    Nguyễn Hồng Phúc

    Yêu quê hương Việt Nam, thích uống trà mạn: Băng đảng truyền thông - Cha con nhà Anh Khuê, Tườ...

    Yêu quê hương Việt Nam, thích uống trà mạn: Băng đảng truyền thông - Cha con nhà Anh Khuê, Tườ...: Khoảng mười năm trở lại đây, báo chí là nghề kiếm ra tiền nhiều nhất. Các nhóm nhà báo hoạt đông không khác gì các băng nhóm xã hội đen. Nế...

    Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019


    Nhà thờ Bùi Chu 134 năm tuổi sẽ bị đập bỏ

    Nhà thờ Bùi Chu hơn trăm tuổi - Ảnh: Facebook Quang Minh Vu
    Thông tin từ trang web của Giáo phận Bùi Chu cho biết nhà thờ Bùi Chu có tuổi 134 năm - ngang ngửa tuổi nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (năm 1880) và nhà thờ Lớn Hà Nội (1886), sẽ bị hạ giải vào ngày 13.5 để xây nhà thờ mới.
    Sẽ đập bỏ trong hơn chục ngày tới
    Bản tin ngày 17.4.2019 của Giuse Văn Nhân mang tiêu đề Lễ Truyền dầu năm nay sẽ được tổ chức ở đâu? đăng trên website mang tên Giáo phận Bùi Chu (gpbuichu.org) cho biết: Theo dự kiến của Đức cha, nhà thờ Chính tòa sẽ được hạ giải vào ngày 13.5.2019.
    “Có thể nói đây là lần cuối cùng các tín hữu sẽ được dự lễ tại nhà thờ Chính tòa cổ kính, gắn chặt với những thăng trầm của đời sống đức tin giáo phận suốt trên 130 năm.
    Hy vọng anh chị em tín hữu sẽ về tham dự thánh lễ thật đông đảo vừa để một lần nữa được chiêm ngắm nhà thờ mẹ của Giáo phận đã đứng đó để yêu thương con cái giáo phận suốt 134 năm, cầu nguyện cho các cha được trung thành với sứ mạng linh mục và nhất là cầu nguyện cho việc tái thiết thánh đường mới được diễn tiến và hoàn thành trong bình an tốt đẹp” - Giuse Văn Nhân viết.
    Bức ảnh nhà thờ Bùi Chu với lời ghi chú “Sẽ bị phá hủy vào ngày 13 tháng 5” trên Facebook Martin Rama
    Không cứu được?
    Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng mới đây cũng xác nhận thông tin nhà thờ Bùi Chu sắp bị đập bỏ.
    Trước đó, ông Phan Cẩm Thượng cho biết ông mới có chuyến về thăm nhà thờ Bùi Chu. Ông đánh giá nhà thờ rất đẹp, có giá trị kiến trúc và giá trị lịch sử quý giá, rất cần được bảo tồn. 
    Ông Thượng chia sẻ một số dự định nhằm cứu nhà thờ này khỏi số phận đị đập bỏ, nhưng sau đó ông lắc đầu nói “không cứu được, không có cách nào”.
    Theo ông Thượng, hiện nay chỉ có 4 nhà thờ ở Việt Nam nằm trong danh sách được bảo vệ là nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, nhà thờ Đức Bà ở TP. HCM, nhà thờ Lớn và nhà thờ Cửa Bắc ở Hà Nội.
    Trong đó, mới chỉ có nhà thờ Phát Diệm đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1988. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn thì nằm trong danh mục Kiểm kê di sản của TP.HCM.
    Theo ông Thượng, một khi các nhà thờ chưa được xếp hạng di tích các cấp thì sẽ không được bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa và việc bảo vệ hay phá bỏ các nhà thờ sẽ hoàn toàn thuộc quyền của giáo dân và các cha xứ.
    Theo quy định của pháp luật hiện nay thì quy trình xếp hạng một di tích được thực hiện “từ dưới lên”, nghĩa là các chủ thể của công trình kiến trúc nào đó phải trình hồ sơ lên các cấp có thẩm quyền theo quy định để xin công nhận di tích, chứ cơ quan nhà nước không thể chủ động xếp hạng di tích cho công trình nào.
    Phối cảnh nhà thờ Bùi Chu mới sắp được xây dựng
    Các chuyên gia đồng loạt lên tiếng
    Mấy hôm nay, thông tin cảnh báo về việc nhà thờ Bùi Chu sắp bị đập bỏ được lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội Facebook. Khởi đầu từ bài đăng trên tài khoản Facebook của ông Martin Rama - cố vấn cao cấp tại Ngân hàng Thế giới và Giám đốc dự án tại Trung tâm Phát triển đô thị bền vững thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – và tài khoản Facebook của ông Vũ Minh Quang (Minh Quang Vu) - Đại sứ Việt Nam tại Campuchia, thông tin đã được lan truyền trên nhiều tài khoản Facebook của các kiến trúc sư, các nhà nghiên cứu và cả những công chúng yêu di sản.
    Ông Martin Rama đã đăng tải một bức ảnh nhà thờ Bùi Chu của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Bảo (Hà Nội) với dòng chữ “Sẽ bị phá hủy vào ngày 13 tháng 5”.
    Đại sứ Vũ Quang Minh ngoài việc giới thiệu bài báo của ông Martin Rama thức tỉnh người Việt khi “khóc” cho nhà thờ Đức Bà Paris thì cũng nên “khóc” cho nhà thờ Bùi Chu sắp bị đập bỏ, còn đưa ra một số đề xuất với các cơ quan chức năng của Việt Nam.
    Ông Vũ Quang Minh cho rằng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các nhà bảo tồn văn hóa Việt cần khẩn trương xem lại chính sách bảo tồn và phân loại các di sản hiện hành, không thể chỉ quan tâm tới các di tích “đã xếp hạng”
    Quan trọng hơn, đừng để chủ sở hữu có quyền đăng ký bảo tồn hay không, mà đó phải là quyết định của một hội đồng các nhà bảo tồn, từ trên xuống.
    “Chúng ta hiểu sửa chữa bảo tồn sẽ khó khăn hơn nhiều so với đập đi xây mới lại, và chưa kể, có thể còn có nhiều lợi ích khác nữa nếu xây mới. Nhưng những công trình như thế này không còn thuộc sở hữu và quyền sinh sát của riêng cá nhân ai hoặc nhóm người nào, dù là giáo xứ” – Đại sứ Vũ Quang Minh viết.
    Trong khi đó, KTS Sơn Đặng cũng bày tỏ ý kiến của mình trên trang Facebook cá nhân của mình liên quan tới số phận của nhà thờ Bùi Chu.
    Trong bài viết của mình, ông đồng tình với ý kiến của ông Martin Rama trong bài báo mà đại sứ Vũ Quang Minh nhắc tới, đó là tập hợp các tòa kiến trúc đáng chú ý như các nhà thờ công giáo ở miền Bắc Việt Nam hoàn toàn có thể khát vọng lọt vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO. Nếu chúng được bảo vệ và cải tạo đúng cách, chúng sẽ trở thành một mạch du lịch hấp dẫn và mang lại thu nhập cao hơn cho người dân địa phương.

    Nhà thờ giáo họ Phêrô xây từ năm 1888 cũng đã hạ giải

    Cũng trên trang của Giáo phận Bùi Chu, trong bài viết Họ Phêrô, Tứ Trùng hạ giải nhà thờ của Linh mục Giuse Nguyễn Văn Toanh, ngày 3.9.2017 cũng cho biết một nhà thờ khác, Nhà thờ giáo họ Phêrô được xây từ năm 1888 cũng cùng chung số phận.
    Linh mục Giuse Nguyễn Văn Toanh viết: “Giáo họ Phêrô, giáo xứ Tứ Trùng, giáo hạt Tứ Trùng đã tổ chức thánh lễ tạ ơn và cầu bình an cho việc hạ giải nhà thờ cũ và khởi công xây nhà thờ mới vào lúc 09 giờ 30 Chúa Nhật, ngày 03 tháng 09 năm 2017. Nhà thờ giáo họ Phêrô được xây dựng từ năm 1888 . Trải qua thời gian dài cùng với thời tiết khắc nghiệt miền Bắc dù đã được tu sửa nhiều lần, song nhà thờ đã không còn an toàn cho giáo dân mỗi khi đến thờ phượng Chúa, tham dự phụng vụ, nhất là diện tích nhà thờ cũ quá nhỏ không đáp ứng được nhu cầu của giáo dân đến tham dự thánh lễ.
    Vì thế, ai ai cũng mong ước có một nhà thờ mới, rộng rãi khang trang hơn, đáp ứng được nhu cầu của giáo họ. Do đó, khi bàn bạc và quyết định khởi công xây nhà thờ mới, ai cũng nhiệt thành ủng hộ”
    Ông Sơn lấy ví dụ: Khi đến thăm Bolivia ông đã được chào 1 tour có tên là Jesuit Missions Circuit đi thăm liên tuyến các nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 17-18.
    Theo ông, về mặt hình ảnh kiến trúc, chuỗi các nhà thờ được xếp hạng di sản quốc tế UNESCO này khó mà so với chuỗi nhà thờ cổ của miền Bắc nước ta.
    “Ở một nước nghèo và lạc hậu như Bolivia, những di sản nho nhỏ được trùng tu và bảo quản cẩn thận, được cộng đồng giáo dân chăm chút, và thu được tiền từ du lịch rất ổn. Rất đáng tiếc, Việt Nam và các giáo xứ miền Bắc lại chọn một cách khác. Sau nhà thờ Trà Cổ 162 năm tuổi bị đập bỏ, nay đến lượt nhà thờ Bùi Chu 134 năm tuổi sắp bị chính giáo xứ quyết định san phẳng để xây mới”, KST Sơn Đặng bày tỏ nỗi thất vọng.
    Theo ông Sơn, tất cả những lý do mà người ta đưa ra để đập bỏ các nhà thờ này như công trình cũ nát, xuống cấp và cần một nhà thờ rộng hơn… đều là “nghĩ quẩn”.
    Hoàng Hương
    https://motthegioi.vn/van-hoa-giai-tri-c-80/nha-tho-bui-chu-134-nam-tuoi-se-bi-dap-bo-112167.html

    Lá thư kêu gọi 'giải cứu' nhà thờ Bùi Chu của ông Martin Rama

    Nhà thờ chính tòa Bùi Chu - Ảnh: Internet
    "Các thế hệ sau sẽ đi ra nước ngoài, thưởng ngoạn các thành phố châu Âu, được tiếp xúc với tư duy thế giới... Và sớm muộn họ sẽ nhìn lại, nhớ về đất nước xinh đẹp mà họ đã lớn lên và đặt câu hỏi rằng ai phải chịu trách nhiệm cho sự mất mát những đặc sắc của đất nước".
    LTS: Bài báo "Nhà thờ Bùi Chu 134 năm tuổi sẽ bị đập bỏ" (xem tại đây) được đăng trên báo điện tử Một Thế Giới ngày 29.4 tạo hiệu ứng mạnh trong cộng đồng người Việt Nam yêu di sản và cả những người nước ngoài yêu Việt Nam. Sau đó, tòa soạn đã nhận được lá thư của ông Martin Rama gửi tới Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, đức cha Vũ Văn Thiên, và Giám mục Giáo phận Bùi Chu, đức cha Vũ Đình Hiệu để kêu gọi “giải cứu” nhà thờ Bùi Chu khỏi nguy cơ bị phá hủy đang cận kề. Lá thư đã được gửi tới hộp thư điện tử của các giám mục. Chúng tôi xin giới thiệu bản dịch nội dung lá thư của ông Rama tới bạn đọc.
    Washington DC, 29.4.2019
    Kính gửi Đức cha Vũ Văn Thiên và Đức cha Vũ Đình Hiệu!
    Tôi đang rất bình tâm để viết thư cho Đức cha, mặc dù tôi không phải là người Việt Nam hay người Công giáo. Tôi đến từ Uruguay, một quốc gia nhỏ cách Việt Nam nửa vòng trái đất. Nhưng tôi từng sống ở Hà Nội nhiều năm và tôi thực sự yêu đất nước, con người Việt Nam. Ngoài ra, giống như nhiều người Uruguay, tôi là người vô thần. Nhưng tôi chân thành tin rằng đức tin tôn giáo, ở tất cả các tôn giáo, đem đến cho chúng ta những giá trị mạnh mẽ và sự nhạy cảm sâu sắc kết nối tất cả chúng ta theo cách nhân văn nhất.
    Hôm nay, tôi viết thư cho các Đức cha nhân danh những giá trị mạnh mẽ và sự nhạy cảm sâu sắc ấy. Và tôi viết gửi tới các Đức cha với một lời cầu xin, vì tôi tin rằng các Đức cha là những người duy nhất có thể giúp tránh được kết cục buồn cho Việt Nam, cho Giáo hội Công giáo và cho toàn thế giới.
    Nhà thờ chính tòa Bùi Chu tráng lệ, thuộc thẩm quyền của các Đức cha, dự kiến sẽ bị phá hủy chỉ trong ít ngày nữa. Sự phá hủy một tòa kiến trúc tuyệt vời như vậy lại đến sau sự việc đáng tiếc phá hủy nhà thờ Trà Cổ vào tháng 3.2017 và nhà thờ Trung Lao bị hủy hoại trong một đám cháy lớn vào tháng 8 cùng năm đó. Các nhà thờ khác thuộc thẩm quyền của các Đức cha, bao gồm nhà thờ Họ Phêrô, cũng được lên kế hoạch phá dỡ.
    Tôi hiểu rất rõ lý do để thay thế những tòa nhà cũ này. Cải tạo chúng sẽ rất tốn kém. Với sự lâu đời và tình trạng hư hỏng tồi tệ, có nguy cơ dầm hoặc vữa rơi xuống từ trần nhà có thể khiến hàng loạt giáo dân vô tội cầu nguyện trong nhà thờ bị thương, thậm chí thiệt mạng. Chính phủ thì không cung cấp các nguồn lực để chăm sóc đúng cách cho các tòa kiến trúc già nua này và không có sẵn đất ở gần đó để xây dựng các công trình mới. Bên cạnh đó, hầu hết nhà thờ không có mặt trong danh sách di sản cần được bảo vệ, và do đó, Giáo hội Công giáo có quyền hợp pháp để loại bỏ chúng.
    Tất cả điều này là hoàn toàn đúng, nhưng tôi sợ rằng lịch sử sẽ không nhìn nhận đúng đắn với quyết định này. Việt Nam chưa phải là một nước giàu, và dễ hiểu được rằng người dân đặt sự tiện lợi lên trước di sản. Không ai có thể chỉ trích họ vì điều đó. Nhưng tôi không hoài nghi rằng Việt Nam rồi sẽ thịnh vượng. Các thế hệ sau sẽ đi ra nước ngoài, thưởng ngoạn các thành phố châu Âu, được tiếp xúc với tư duy thế giới... Và sớm muộn họ sẽ nhìn lại, nhớ về đất nước xinh đẹp mà họ đã lớn lên và đặt câu hỏi rằng ai phải chịu trách nhiệm cho sự mất mát những đặc sắc của đất nước. Thỉnh nguyện những giá trị mạnh mẽ tương tự và sự nhạy cảm sâu sắc mà Giáo hội Công giáo là hiện thân, họ có thể buồn bã nghi ngờ những quyết định của cha ông mình.
    Thậm chí giờ đây, sau hậu quả của vụ hỏa hoạn thảm khốc tại nhà thờ Đức Bà ở Paris thì việc phá hủy nhà thờ Bùi Chu có thể gặp phải sự hoài nghi, thậm chí là tức giận. Trong nhiều giờ, cả thế giới đã dõi theo người dân Pháp đau đớn trước sự mất mát có thể xảy đến với một tượng đài yêu dấu, một nhân chứng của lịch sử đất nước họ và một công trình kiến trúc tráng lệ. Vụ hỏa hoạn tại nhà thờ Đức Bà là một thảm kịch, nhưng phản ứng phổ biến đối với nó là niềm xúc động sâu sắc. Và những cảm xúc được cất lên trên khắp thế giới đã trấn an về sự đoàn kết của chúng ta với di sản văn hóa, bất kể đức tin tôn giáo.
    Tôi sợ rằng việc phá hủy nhà thờ chính tòa Bùi Chu cũng sẽ bị cả thế giới theo dõi với nỗi thống khổ. Bởi lần này sự mất mát sẽ không phải là một tai nạn bi thảm, mà là một hành động phá hủy có chủ ý. Người dân Việt Nam vẫn còn tức giận nhớ về việc những kẻ thực dân vô cảm đã phá hủy chùa Một Cột. Sẽ thật buồn nếu Giáo hội Công giáo Việt Nam được các thế hệ tương lai nhớ đến theo cách như vậy, liên quan đến các nhà thờ tráng lệ ở miền Bắc của đất nước.
    Tuy nhiên, có một giải pháp thay thế. Một giải pháp rất tốt. Và thông qua bức thư này, tôi trân trọng đề nghị các cha xem xét nó.
    Có lẽ không có một nhà thờ nào trong số các nhà thờ Công giáo ở miền Bắc Việt Nam tự mình có đủ điều kiện là di sản thế giới. Nhưng khi liên kết với nhau thành một mạch, chúng là một chuỗi thực sự độc đáo trên phạm vi toàn cầu. Những công trình tuyệt đẹp này kết hợp kiến trúc Pháp từ thời Beaux Arts với những nét chạm khắc rõ nét của Việt Nam, bao gồm các cột gỗ và trang trí bằng vữa gợi nhớ đến những ngôi chùa truyền thống. Những nhà thờ này có thể là một phần của một mạch du lịch rất thành công, mang lại việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, cũng như mang lại nguồn lực cần thiết cho việc duy tu và cải tạo chúng.
    Thậm chí quan trọng hơn, Việt Nam đang nổi lên đầy thành công từ một lịch sử xung đột lâu dài. Cuộc xâm lược của một nước láng giềng hùng mạnh, thuộc địa của một thế lực ngoại bang, chiến tranh ở quy mô chưa từng có, và, tệ nhất là căng thẳng giữa những người Việt Nam có niềm tin khác nhau… Giáo hội Công giáo có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc chữa lành những vết thương này. Kitô hữu là một nhóm thiểu số ở Việt Nam, nhưng họ có thể được coi là những người đi đầu trong việc bảo vệ di sản văn hóa của đất nước. Làm như vậy, họ sẽ lấy được sự cảm thông và hỗ trợ từ những người thuộc mọi tín ngưỡng.
    Chỉ mười ngày trước, chính phủ Việt Nam đã có một cử chỉ rất quan trọng đối với Giáo hội Công giáo. Ngay trong Tuần Thánh, chính quyền TP.HCM đã thông báo cho Tổng giám mục TP.HCM rằng nhà thờ Thủ Thiêm sẽ không bị phá hủy và được bảo tồn như một di tích lịch sử và văn hóa. Những tiếng vỗ tay đã vang lên trong nhà thờ khi tin tức được công bố vào cuối buổi lễ.
    Chính quyền đã rất sáng suốt trong quyết định ấy của mình, và tất cả chúng ta đều cảm kích vì điều đó. Câu hỏi trân trọng của tôi dành cho các Đức cha, thưa các Đức cha kính mến, là liệu Giáo hội Công giáo Việt Nam có muốn đứng về phía phá hủy sau một cử chỉ đáng khích lệ như vậy từ chính quyền. Việc cứu nhà thờ Bùi Chu sẽ gửi một lời khích lệ mạnh mẽ đến những người trông coi các nhà thờ Công giáo ở các tỉnh khác.
    Tôi không phải là người Việt Nam, tôi không phải là người Công giáo, nhưng tôi muốn cung cấp sự hỗ trợ đầy đủ của tôi tới các cha nếu các cha quyết định bảo vệ di sản tuyệt vời trong khả năng của mình. Tôi quyết tâm dành thời gian ở Việt Nam và dâng hiến năng lượng của mình cho sự phát triển đô thị bền vững ở Hà Nội và những vùng lân cận. Nếu các cha đồng ý, tôi sẽ rất vui khi được làm việc với các Đức cha, với các linh mục và với giáo dân địa phương, để làm cho các nhà thờ Pháp cổ ở miền Bắc tỏa sáng như một báu vật của Việt Nam.
    Kính thư, với tất cả sự trân trọng dành cho các Đức cha!
    Martin Rama
    https://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/la-thu-keu-goi-giai-cuu-nha-tho-bui-chu-cua-ong-martin-rama-112266.html?fbclid=IwAR07udnAZjmUR61eg_QKkaGJVLw4tBy0rS0wseuyOXVZe4zNILZtsxfYTH4

    Ông Martin Rama là Cố vấn cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB) và là Giám đốc dự án của Trung tâm Phát triển đô thị bền vững thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ông đã sống ở Hà Nội trong 8 năm, từ 2002-2010, khi ông đảm nhiệm chức vụ Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Ông cũng là tác giả của cuốn sách đoạt Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội năm 2014 - cuốn Hà Nội một chốn rong chơi.
    Lá thư được ông viết với tư cách cá nhân, một người tha thiết yêu Việt Nam.

    Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019


    'Ong Kim Jong Un dang thay doi hinh anh bi hiem cua Trieu Tien' hinh anh 2

    Toàn bộ sự nghiệp 4 thập kỷ của Đại sứ Phạm Tiến Vân gắn bó với bán đảo Triều Tiên. Những chia sẻ của ông về những năm tháng làm việc tại quốc gia “bí hiểm nhất thế giới” dẫn ta qua những thăng trầm của Triều Tiên, từ một “giấc mơ” rồi tụt dốc. Trên hết, ông thấy logic tất yếu trong việc lãnh đạo Kim Jong Un tới dự hội nghị thượng đỉnh với ông Trump ở Hà Nội.

    Tôi học cấp 3 trường Ngô Quyền ở TP. Hải Phòng, rồi sang Bình Nhưỡng học Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành. Tôi được chọn sang học vì đạt giải nhì học sinh giỏi văn quốc gia năm 1967 (năm ấy không có giải nhất), khi tôi đang lớp 10. Người ta xếp tôi vào khoa Văn học Triều Tiên.
    Năm 1972 học xong, tôi làm ngoại giao cho đến khi nghỉ hưu. Tính đến nay đã gần 40 năm tôi làm việc về lĩnh vực bán đảo Triều Tiên, vừa là cán bộ ngoại giao, chuyên gia, và học giả.
    Tôi làm trong đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên qua 3 nhiệm kỳ, cho đến năm 1992. Trong thời gian đó, tôi đi đi về về, nhưng tổng thời gian làm trong đại sứ quán Triều Tiên là 10 năm.

    Ước mơ "bao giờ Việt Nam mình mới bằng"

    Sau đó tôi làm ở Hàn Quốc 2 nhiệm kỳ: 1998-2002 (Phó Đại sứ) và 2005-2010 (Đại sứ), giúp xây dựng quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
    Trong suốt 40 năm, tôi nghiên cứu sâu về thay đổi chính trị, quân sự của khu vực, lịch sử chiến tranh Triều Tiên và những mô hình phát triển của Triều Tiên và Hàn Quốc.
    Tôi cũng tự hào mình nói tiếng Hàn tương đối tốt, thuận lợi khi nghiên cứu, tiếp xúc, viết lách, đi nói chuyện.
    Thời tôi học ở Bình Nhưỡng là thời Việt Nam đang chiến tranh. Tôi thấy ấn tượng là Chủ tịch Kim Nhật Thành hai lần đến thăm sinh viên Việt Nam ở ký túc xá. Tại Hà Nội, Bác Hồ cũng gặp gỡ các sinh viên Triều Tiên đang theo học. Quan hệ hai nước đã tốt đẹp như thế.
    Khi đang là sinh viên, tôi cảm thấy đặc biệt. Trong lúc chiến tranh, đất nước mình còn đang gian khổ, còn Triều Tiên cũng chưa sung túc gì, nhưng lãnh đạo Triều Tiên hay nhà trường cũng tạo điều kiện cho sinh viên Việt Nam ăn ở và học hành đầy đủ. Mặc dù đất nước đang chiến tranh, nhưng các du học sinh như tôi vẫn được học hết đại học và trở về nước phục vụ.
    'Ong Kim Jong Un dang thay doi hinh anh bi hiem cua Trieu Tien' hinh anh 3
    Cựu đại sứ Phạm Tiến Vân nói ông ấn tượng nhất là cách Triều Tiên đã quy hoạch thành phố Bình Nhưỡng, quy hoạch "rất đẹp và sạch sẽ". Ảnh: Kyodo News.
    Những năm 1960-1970, Triều Tiên là hình mẫu của kinh tế kế hoạch mà lãnh đạo Việt Nam mong muốn học hỏi và áp dụng.
    Triều Tiên rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế. Nhật Bản trong thời kỳ chiếm đóng đã xây dựng công nghiệp trên bán đảo Triều Tiên chủ yếu tập trung ở miền Bắc có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Vì vậy, sau chiến tranh Triều Tiên chỉ mất 14 năm để trở thành nước công nghiệp, trước Hàn Quốc. Hàn Quốc tới cuối thập niên 1980, đầu 1990 mới là nước công nghiệp, tức là mất 30 năm, so với 14 năm của Triều Tiên.
    Luôn muốn về xây dựng đất nước, nên khi tôi nhìn những thành tựu của Triều Tiên: một năm họ làm ra bao nhiêu tấn than, bao nhiêu kWh điện, bao nhiêu tấn xi măng, rồi so với Việt Nam, tôi cảm thấy họ là giấc mơ cho sự phát triển của mình, và nghĩ "bao giờ Việt Nam mình mới bằng Triều Tiên".
    Nhật Bản trong thời kỳ chiếm đóng đã xây dựng công nghiệp trên bán đảo Triều Tiên chủ yếu tập trung ở miền bắc có tài nguyên thiên nhiên phong phú.
    Việt Nam mình hồi đó chưa có gì. Về ximăng, mình chỉ có nhà máy ximăng Hải Phỏng, 30 vạn tấn/năm, trong khi họ đã hàng chục triệu tấn. Về than đá, mình làm được 2 triệu tấn/năm ở Quảng Ninh còn họ đã đạt mấy chục triệu tấn. Về điện chẳng hạn, mình có được vài tỷ kWh, họ đã đạt mấy chục tỷ rồi. Mình nghĩ cứ đà này, không biết bao giờ mình mới bằng họ. Những năm 1970, kinh tế Triều Tiên còn hơn cả Hàn Quốc. Xuất phát điểm của họ rất tốt.
    'Ong Kim Jong Un dang thay doi hinh anh bi hiem cua Trieu Tien' hinh anh 4
    Theo ông Vân, sản lượng khai thác than của Triều Tiên từng gấp nhiều lần của Việt Nam trong thập niên 1960-1970. Ảnh: Getty Images.

    Sự tụt hậu và sứ mạng của thế hệ

    Triều Tiên dựa vào thị trường xã hội chủ nghĩa và được Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ mới có thể duy trì nền kinh tế kế hoạch. Do vậy, đến những năm 1990, khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc chuyển sang kinh tế thị trường, thanh toán thương mại chuyển sang ngoại tệ, nền kinh tế Triều Tiên bị "cú sốc chí mạng". Sau đó Triều Tiên bị mất mùa nông nghiệp.
    Sau 40-50 năm, tình hình đã khác. Từ chỗ mình muốn học hỏi Triều Tiên, người ta lại nói Triều Tiên phải học hỏi mình. Từ chỗ mình phải đi xin viện trợ Triều Tiên, Triều Tiên lại đề nghị mình giúp. Sự tụt hậu này là bi kịch cho Triều Tiên.
    Đến nay, Hàn Quốc đã thu nhập 30.000 USD/người/năm còn Triều Tiên chỉ có 1.000-1.500 USD. Triều Tiên từ một nước công nghiệp thành đất nước thiếu điện, thiếu năng lượng, thiếu mọi thứ, hàng tiêu dùng, thực phẩm, con người bị suy dinh dưỡng, tốc độ tăng trưởng cứ âm 20 năm liền,... Nằm giữa Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc phát triển thế, còn Triều Tiên lại nghèo.
    Chính vì vậy, khi nói đến việc ông Kim thay đổi chính sách, tôi tin đây là một logic, xuất phát từ việc không thể lùi được nữa. Triều Tiên phải thay đổi.
    Trước hội nghị Mỹ - Triều tại Hà Nội, tôi tin tưởng Triều Tiên sẽ có những thay đổi, chứ không phải đang cố gắng dền dứ, đánh lừa thế giới. Tôi tin đây là quyết sách cần thiết mà lịch sử giao cho thế hệ ông Kim phải làm.
    Sau này tôi cũng đã sang Triều Tiên nhiều lần, đưa các đoàn kinh tế của Việt Nam sang Triều Tiên để khảo sát, tìm hiểu thị trường. Tôi ấn tượng nhất là họ đã xây dựng thành phố Bình Nhưỡng, quy hoạch rất đẹp và sạch sẽ.
    Trong 20 năm vừa rồi, có lẽ Triều Tiên tập trung hai việc là quốc phòng, hạt nhân và xây dựng thành phố Bình Nhưỡng. Còn các ngành kinh tế khác hay các địa phương ở xa vẫn còn khó khăn.
    'Ong Kim Jong Un dang thay doi hinh anh bi hiem cua Trieu Tien' hinh anh 5
    Ông Vân cho rằng Triều Tiên chỉ tập trung hai việc là quốc phòng và xây dựng thành phố Bình Nhưỡng, còn các địa phương xa vẫn còn khó khăn.

    Triều Tiên thay đổi: Thế giới ủng hộ, nhân dân mong muốn

    Sau khi đi học, tôi làm trong đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên. Trong ngành ngoại giao chúng tôi nếu đi một nước giàu có, văn minh sẽ cảm thấy thoải mái hơn, thực phẩm đầy đủ, tươi ngon hơn, giao thông đi lại về Việt Nam thăm gia đình thuận lợi hơn, con cái được đi học ở trường quốc tế thuận lợi hơn.
    Trước hội nghị Mỹ - Triều tại Hà Nội, tôi tin tưởng Triều Tiên sẽ có những thay đổi, chứ không phải đang cố gắng dền dứ, đánh lừa thế giới.
    Ở Triều Tiên, sứ quán là nhà của mình, ở trong sứ quán thì mình sống thoải mái, nhưng hạn chế tiếp xúc, du lịch và giao du bên ngoài, các thực phẩm được cung cấp không phải phong phú như các thị trường khác. Không thiếu thực phẩm nhưng không phải sung túc đầy đủ.
    Thời đó, các đoàn ngoại giao ở Bình Nhưỡng, không chỉ riêng sứ quán Việt Nam, do không cung cấp được đầy đủ, nên trong nhiều năm đã phải đi sang biên giới Trung Quốc như Đan Đông, hoặc tận Bắc Kinh để mua thực phẩm đông lạnh về để ăn hàng tháng. Mỗi chuyến mất khoảng vài ngày, một ngày đi, một ngày ở lại mua sắm, một ngày về, có thể 3-4 ngày. Đấy là cửa ngõ để tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Cuộc sống của cán bộ ngoại giao khó khăn như vậy trong mấy chục năm, nhưng mọi người coi đây là nhiệm vụ.
    Nếu ở trong đại sứ quán, chúng tôi có thể gọi điện về nước. Còn bây giờ, liên lạc với Triều Tiên hạn chế, nên bạn bè của tôi ở Triều Tiên đã 70-75 tuổi rồi, họ ở đâu tôi cũng không biết (cười).
    Tôi không có những bạn thân ở Triều Tiên, vì việc quan hệ giữa người Triều Tiên với người nước ngoài ở đó không được tự do. Nếu đi học thì chỉ gặp nhau ở lớp, ngoài ra, ai làm, nghĩ, hay sống theo văn hóa của mình, nên không có bạn bè để chia sẻ, trở thành những đôi bạn giống như bình thường.
    Còn về cuộc sống, phong tục, Triều Tiên trước đây bỏ Tết Âm lịch. Gần đây họ mới khôi phục lại. Trung Thu cũng vậy, tuy bây giờ có nhưng rất đơn giản. Họ quá nghèo để mừng những ngày lễ đó. Đi lại khó khăn, từ địa phương này sang địa phương khác cần phải có giấy tờ thông hành, khó như xin visa, cho nên họ không đi lại nhiều.
    Chính vì vậy, người ta mới gọi Triều Tiên là một đất nước bí hiểm nhất thế giới - và thực sự là như thế. Ông Kim đã và đang thay đổi điều đó với những cải cách, và sẽ phải làm rất nhiều việc. Thế giới ủng hộ, nhân dân mong muốn, đây là thời điểm lịch sử để thay đổi.
    Trọng Thuấn gh