Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Hàng loạt sai phạm ở 'lò sản xuất tiến sĩ


Hàng loạt sai phạm ở 'lò sản xuất tiến sĩ'

Học viện Khoa học Xã hội phân công giáo sư hướng dẫn cùng lúc 44 học viên; tiến sĩ kinh tế chỉ dẫn nghiên cứu sinh quản lý giáo dục.

Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có kết luận việc xác định chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, cấp phát văn bằng, chứng chỉ trình độ thạc sĩ, tiến sĩ của Học viện Khoa học Xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Học viện này từng gây xôn xao khi "sản xuất được 350 tiến sĩ" mỗi năm.
Theo số liệu tự kê khai, năm 2017 đội ngũ giảng viên cơ hữu của Học viện Khoa học Xã hội gồm 21 giáo sư, 184 phó giáo sư và 249 tiến sĩ. Song qua kiểm tra cho thấy, số giảng viên cơ hữu kê khai bao gồm cả cán bộ nghiên cứu của các viện, đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Số giảng viên của Học viện Khoa học Xã hội đến tháng 1/2017 chỉ là 7 phó giáo sư và 17 tiến sĩ.
"Việc tự xác định đội ngũ giảng viên cơ hữu của Học viện gồm cán bộ nghiên cứu của các Viện, đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là chưa phù hợp quy định", kết luận nêu rõ.
hang-loat-sai-pham-o-lo-san-xuat-tien-si
Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội trao đổi tại họp báo năm 2016. Ảnh: Lan Hạ
Cùng một thời điểm hướng dẫn 44 học viên
Quá trình kiểm tra, thanh tra Bộ Giáo dục phát hiện nhiều trường hợp được phân công hướng dẫn không đúng chuyên ngành, chẳng hạn có tiến sĩ Kinh tế nhưng được phân công hướng dẫn nghiên cứu sinh ngành Quản lý giáo dục, hay tiến sĩ ngành Nhân học hướng dẫn bảy nghiên cứu sinh ngành Dân tộc học.
Khi kiểm tra danh sách phân công hướng dẫn thạc sĩ ngành Luật, Chính sách công đợt 1 năm 2015 và ngành Công tác xã hội năm 2015, Thanh tra Bộ phát hiện nhiều người được phân công hướng dẫn số lượng học viên tại cùng thời điểm vượt quá số lượng quy định.
Tại một thời điểm có người được giao hướng dẫn 44 học viên gồm 29 học viên ngành Luật, 10 người ngành Chính sách công, 5 người ngành Công tác xã hội. 
Việc phân công hướng dẫn nghiên cứu sinh cũng tương tự. Tại một thời điểm có giáo sư hướng dẫn 12 nghiên cứu sinh, phó giáo sư hướng dẫn 9 nghiên cứu sinh, tiến sĩ hướng dẫn 7 nghiên cứu sinh.
Trong khi đó, theo quy chế, giáo sư được hướng dẫn tối đa 7 học viên cao học; còn ở bậc tiến sĩ, giáo sư hướng dẫn cùng lúc không quá 5 nghiên cứu sinh.
Đào tạo tiến sĩ không đảm bảo kiến thức
Kết luận thanh tra Bộ Giáo dục cho thấy công tác tuyển sinh, đào tạo trình độ tiến sĩ của Học viện Khoa học Xã hội có nhiều sai phạm, như chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ không đảm bảo khối lượng kiến thức tối thiểu.
Với đào tạo trình độ tiến sĩ từ 2015 trở về trước, Học viện chỉ ban hành đề cương các học phần ở trình độ tiến sĩ, không ban hành chương trình đào tạo. Từ năm 2016 trở đi, Học viện xây dựng chương trình đào tạo nhưng cấu trúc, khối lượng kiến thức chưa đảm bảo quy định. Khối lượng kiến thức chương trình đào tạo tiến sĩ của Học viện chỉ gồm 16 tín chỉ trong khi quy định là từ 90-120. 
Kiểm tra xác suất 5 hồ sơ nghiên cứu sinh cho thấy 3 hồ sơ có bằng thạc sĩ không phải là ngành phù hợp với ngành nghiên cứu sinh đang học hoặc đã tốt nghiệp. Theo báo cáo tự rà soát của Học viện, số nghiên cứu sinh có bằng thạc sĩ ngành khác với chuyên ngành đã được xét tuyển trong năm 2015 là 48, năm 2016 là 41.
Nhiều thông tin trong hồ sơ nghiên cứu sinh không đầy đủ. Một số biên bản chấm luận văn tiến sĩ cấp cơ sở không ghi đầy đủ thông tin của buổi bảo vệ. Có hiện tượng tẩy xóa, sửa chữa trên sổ cấp phát văn bằng. Học viện chưa lưu giữ đầy đủ hồ sơ của những nhà khoa học ở ngoài cơ sở đào tạo tham gia hướng dẫn, tham gia hội đồng đánh giá luận văn, luận án.
Ngoài trụ sở chính, Học viện đang tổ chức đào tạo trình độ thạc sĩ tại các cơ sở ở TP HCM, Đà Nẵng, Đăk Lăk. Điều này vi phạm quy định của Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ.
Từ thực trạng trên, Thanh tra Bộ Giáo dục kiến nghị Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chấn chỉnh công tác tuyển sinh, đào tạo của Học viện Khoa học Xã hội; làm rõ đặc thù trong việc sử dụng cán bộ khoa học của toàn Viện trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của Học viện.
Học viện Khoa học Xã hội phải rà soát toàn bộ hồ sơ học viên, nghiên cứu sinh, có phương án xử lý đối với các trường hợp phân công hướng dẫn luận văn, luận án vượt quá số lượng quy định, báo cáo việc thực hiện kết luận thanh tra về Bộ Giáo dục trước ngày 30/9.
Năm 2016, thông tin Học viện Khoa học Xã hội "sản xuất" tiến sĩ được nhiều người quan tâm. Một tiến sĩ Toán tính toán "năng suất" năm 2015 cứ 1 ngày 3 giờ 55 phút Học viện cho ra đời một tiến sĩ. Từ đầu năm 2016 đến đầu tháng 4 đã có 58 tiến sĩ bảo vệ thành công, năng suất 1 ngày 1 giờ 15 phút ra một tiến sĩ.
Tại cuộc họp báo thời điểm đó, GS Võ Khánh Vinh, Giám đốc Học viện cho biết ngoài giảng viên cơ hữu, Học viện vận động giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên ở các trường trên cả nước tham gia giảng dạy, nên tổng số giảng viên khoảng 2.000. GS Vinh cho rằng "so với khả năng hiện có chúng tôi còn có thể đào tạo số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn" và "con số 350 còn khiêm tốn".
Hoàng Thùy
 http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/hang-loat-sai-pham-o-lo-san-xuat-tien-si-3633421.html

Giải quyết ra sao vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện đòi bồi thường hàng trăm triệu USD?


Giải quyết ra sao vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện đòi bồi thường hàng trăm triệu USD?

Dừng dự án du lịch tâm linh 1.000 tỉ trong rừng phòng hộ

Dừng dự án du lịch tâm linh 1.000 tỉ trong rừng phòng hộ

Dự án khu du lịch tâm linh ngàn tỉ dừng triển khai trong khu vực rừng phòng hộ vì chủ đầu tư không đảm bảo năng lực tài chính.


Ngày 28-8, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho biết UBND tỉnh này vừa có báo cáo gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tình hình triển khai thực hiện dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam tại xã Tam Đại (huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam).
Theo báo cáo, trong quá trình triển khai dự án, chủ đầu tư gặp một số khó khăn, vướng mắc, như thủ tục pháp lý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác bảo vệ môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ triển khai dự án, nguồn vốn thực hiện… Trong đó, khó khăn lớn nhất là không đảm bảo năng lực tài chính nên chủ đầu tư báo cáo UBND tỉnh Quảng Nam không tiếp tục triển khai, dừng thực hiện dự án.
Dừng dự án du lịch tâm linh 1.000 tỉ trong rừng phòng hộ - 1
Phối cảnh dự án
Được biết, dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam do Công ty TNHH Ba Vàng Quảng Nam (số 40 Trần Phú, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) làm chủ đầu tư. Theo đề án, công trình sẽ được triển khai trên diện tích 200 ha với tổng kinh phí xây dựng 1.000 tỉ đồng, chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu sẽ đầu tư trên diện tích 67 ha, kinh phí đầu tư 500 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành sau 12 tháng thi công.
Trước đó, vào ngày 26-5-2016, chủ đầu tư phối hợp với chính quyền địa phương long trọng tổ chức lễ động thổ khởi công xây dựng dự án trước sự chứng kiến của nhiều lãnh đạo trung ương, địa phương. Tại lễ động thổ, các lãnh đạo, nhà hảo tâm đã ủng hộ hàng chục tỉ đồng, nhiều hiện vật có giá trị để góp công xây dựng công trình.
Dừng dự án du lịch tâm linh 1.000 tỉ trong rừng phòng hộ - 2
Hàng chục tỉ dồng đã được các nhà hảo tâm ủng hộ xây dựng công trình
Điều đáng nói, dù làm lễ động thổ vào ngày 26-5-2016 nhưng đến ngày 3-6-2016, UBND tỉnh Quảng Nam mới có quyết định số 234/TB-UBND thu hồi ban đầu 19,59 ha đất rừng phòng hộ Phú Ninh để phục vụ dự án.
Việc dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam được UBND tỉnh Quảng Nam tạo điều kiện thuận lợi tối đa, kể cả cho phép chủ đầu tư "cầm đèn chạy trước ô-tô" như trên khiến nhiều nhà đầu tư khác phải ganh tị.
Thời điểm đó, thông tin dự án xây dựng trong lâm phận rừng phòng hộ Phú Ninh, lại nằm sát hồ Phú Ninh - nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân TP Tam Kỳ đã gây ra nhiều ý kiến phản ứng.Dừng dự án du lịch tâm linh 1.000 tỉ trong rừng ph

http://us.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/dung-du-an-du-lich-tam-linh-1000-ti-trong-rung-phong-ho-c46a899308.html

Công nhận Việt Nam Cộng hòa là tiền đề quan trọng cho hòa hợp dân tộc


(Chính trị) - Ngày 18-8, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn. Một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.

Một lần nữa, có muôn vàn ý kiến phản đối câu chuyện này. Thế nhưng phải chăng chúng ta đang quá khắt khe.


Tôi – sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, thế hệ cha ông chú bác tôi đã tham gia và đi qua ít nhất là 1 cuộc kháng chiến, và để lại trong đất 1 phần máu thịt. Cuộc chiến tranh ấy đã lấy đi của gia đình tôi nhiều thứ, mỗi năm vào ngày giỗ, chúng tôi vẫn quây quần bên nhau để ôn lại những kỉ niệm, kể về những câu chuyện cũ. Tôi cũng biết nhiều gia đình giống như chúng tôi, trải qua khốc liệt của bom đạn, và cũng có những người thân yêu phải nằm lại nơi chiến trường, hoặc ít nhất là  để lại một phần máu thịt.
Nói như vậy để hiểu rằng, có những giá trị mà chúng tôi không quên, cũng chưa bao giờ quên. Và cũng có những nỗi đau mà chúng tôi cũng thấu cảm phần nào.
hhhg-800x500_c
Chúng ta chiến đấu để Nam Bắc một nhà. Và đã là một nhà thì cần phải đoàn kết với nhau.
Thế nhưng sau này khi vào Nam học hành và làm việc, tôi chợt nhận ra một điều rằng nỗi đau đó không phải chỉ của riêng ai.
Tôi đang muốn nói đến những nỗi đau trong im lặng.
Hầu như gia đình miền Nam nào sau hậu chiến cũng phải hứng chịu những nỗi đau khác nhau. Đó là những li tán sau Hiệp định Geneve chia cắt 2 miền, những cuộc tù cải tạo dài đằng đẵng, những chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, những vụ vượt biên, những đứa trẻ sinh ra, lớn lên sau cuộc chiến và khó xin công việc vì lý lịch xấu… Và những bà mẹ, họ cũng có những đứa con nằm lại ở chiến trường, lạnh lẽo và vô danh. Những câu chuyện tôi nghe gần chục năm nay đã để lại trong lòng những người trải qua chúng tổn thương khó hàn gắn.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi nói về ngày thống nhất đất nước 30/4 đã cho rằng: “Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”.
“Triệu người buồn” ấy cũng là giống nòi Việt. Họ hoặc đã rời đất nước này ra đi, hoặc vẫn ở lại trong lòng mang ít nhiều ấm ức.
Nỗi ấm ức ấy có lẽ không phải vì họ đã trở thành công dân của một nước Việt Nam thống nhất. Toàn vẹn lãnh thổ là khát vọng của cả dân tộc, ngày 30/4/1975 là ngày khát vọng ấy trở thành hiện thực. Có điều, cách “trở thành hiện thực” ấy đã tốn quá nhiều xương máu bởi sự thiếu thiện chí của cả hai bên. Nỗi ấm ức ấy có lẽ bởi những tổn thương hậu chiến là quá lớn.
Bốn mươi hai năm đã qua đi, gần như đã đi hết một đời người, người trẻ nhất cầm đến súng trong cuộc chiến năm ấy giờ cũng đã đi qua thời kì sung mãn, tuổi trẻ của họ đã để lại nơi chiến trường. Một thế hệ mới đã sinh sôi, đã nảy mầm, những người cuối cùng của thế hệ 9x (thế hệ dân số vàng Việt Nam), giờ đây cũng đã qua cái tuổi 18. Nghĩa là thế hệ sinh ra khi đất nước bắt đầu mở cửa, đã và đang bước vào dòng chảy phát triển của đất nước này.
Thế hệ đó không bom đạn, không hận thù, không đổ máu. Họ không mang trong mình tâm thế thời đại như cha ông họ, họ không hừng hực lửa, không có 1 kẻ thù để chiến đấu và chiến thắng, họ không cần phải xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, khi bây giờ hầm đèo Hải Vân đã nối những chuyến xe chở đầy hàng hóa từ Bắc vào Nam.
Cái giờ họ cần chiến đấu bây giờ là chính bản thân họ. Trách nhiệm của họ đó là đưa đất nước phát triển và đi lên sánh vai cùng với các cường quốc 5 châu, chứ không phải bắt họ khư khư giữ lấy những giá trị khi mà nó đã qua đi. Cha ông chúng ta đã chiến đấu để giành lại sự thống nhất của non sông, để cho thế hệ sau này có cơ hội làm khác đi, sống khác đi những gì mà họ phải gánh chịu. Một thế hệ đã hi sinh máu xương, sao còn phải bắt 1 thế hệ đi sau họ phải chịu thêm 1 nỗi buồn.
Chúng ta sẽ không lãng quên, nhưng nếu như cứ để nỗi buồn ấy kéo dài cho đến những thế hệ sinh ra sau cuộc chiến thì đó là nỗi bất hạnh cho cả dân tộc.
Con trai của một người lính Giải phóng quân như tôi ngày hôm nay vẫn làm bạn thân với con trai của một người lính Việt Nam Cộng hòa. Dẫu rằng 42 năm trước, cha tôi và cha anh ấy còn phải cầm súng bắn vào nhau.
Đất nước đã hòa bình rồi. Chiến tranh đã chấm dứt. Đã đến lúc dân tộc phải tiến hành công cuộc hòa giải. Thống nhất đất nước chính là tiền đề cho thống nhất nhân tâm, thống nhất tinh thần dân tộc…
4-Ho-Chi-Minh City-Vietnam
Tp Hồ Chí MInh năm nay
Có như thế dân tộc mới trở nên mạnh mẽ, mới đoàn kết để chống xâm lược, mới có thể giữ gìn giang sơn, đất trời và biển.
Việc hòa giải đó phải bắt đầu từ cải cách trong tư duy con người và thứ hình thành nên tư duy con người, đó là sách vở.
Cho nên việc từ bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” và công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh. Sẽ chẳng còn ai tổn thương như những người bị kì thị, nằm ngoài vòng quay của xã hội dù cho hằng ngày hằng giờ, mồ hôi của họ vẫn đổ vì sự phát triển của đất nước này.
Ngoài những người ở trong nước, hiện có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng.Sự đóng góp của họ là không thể nào phủ nhận. Công nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, như ý nguyện của hàng triệu triệu con dân của nước Việt Nam này.
Trên tất cả, hòa giải dân tộc, sẽ là động lực tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc trong cuộc cạnh tranh và sống còn trong một thế giới còn nhiều thách thức.
Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai chính là như vậy.
Và còn bởi vì chúng ta là đồng bào của nhau.
(Theo Ngọn Cờ)
 http://quochoi.org/cong-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-tien-de-quan-trong-cho-hoa-hop-dan-toc.html

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8

PV |
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Cuba tại Việt Nam Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Sáng 28-8, Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba tại Việt Nam đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ.

Sáng 28-8, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã có buổi tiếp Đại sứ Cuba Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.
VOV cho biết tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng đại sứ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ công tác của mình tại Việt Nam.
Theo VOV, Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho biết trong bốn năm công tác tại Việt Nam, đại sứ đã trở thành cầu nối tin cậy giữa lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước; là người đồng chí thân thiết và đối tác hiệu quả của các bộ/ngành, tổ chức chính trị-xã hội và địa phương của Việt Nam.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8 - Ảnh 1.
Ảnh: TTXVN
Chủ tịch nước đánh giá cao quan hệ đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Cuba những năm qua không ngừng được củng cố và phát triển.
Trong đó, quan hệ chính trị ngày càng gắn bó, tin cậy thể hiện qua kết quả các chuyến thăm lẫn nhau thường xuyên của lãnh đạo cấp cao hai nước, đặc biệt là tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với Cuba khi lãnh tụ Fidel qua đời vào năm ngoái.
Cùng với đó các cơ chế hợp tác song phương được triển khai thường xuyên với nội dung thiết thực ở tất cả kênh quan hệ như Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng, Ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học kỹ thuật, tham khảo chính trị và đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng trên các lĩnh vực an ninh-quốc phòng và đối ngoại.
Đặc biệt, hợp tác kinh tế-thương mại và các lĩnh vực khác từng bước vượt qua khó khăn, đạt được nhiều bước phát triển mới và tích cực.
Bên cạnh đó, hợp tác đa phương giữa hai nước cũng tiếp tục được tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên Hiệp Quốc và Phong trào Không liên kết.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8 - Ảnh 2.
Ảnh: TTXVN
Chủ tịch nước nhắc lại những ấn tượng tốt đẹp trong các chuyến thăm Cuba của mình, đặc biệt là nguyên thủ nước ngoài cuối cùng đến thăm lãnh tụ Fidel 10 ngày trước khi lãnh tụ Fidel từ trần; khẳng định lãnh đạo và nhân dân Việt Nam sẽ mãi ghi nhớ những công lao to lớn của lãnh tụ Fidel đối với mối quan hệ đặc biệt và mẫu mực Việt Nam-Cuba.
Chủ tịch nước chúc mừng những thành tựu mà nhân dân và Chính phủ Cuba đạt được thời gian qua, nhất là trong quá trình “cập nhật hóa mô hình kinh tế”; khẳng định Việt Nam sẵn sàng tiếp tục trao đổi với Cuba tất cả kinh nghiệm, thành công và chưa thành công đúc rút được trong công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua.
Dịp này, qua ngài đại sứ, Chủ tịch nước chuyển lời chào anh em thân thiết nhất và lời chúc sức khỏe tới Chủ tịch Raul Castro và các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước Cuba.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8 - Ảnh 3.
Ảnh: TTXVN
Về phần mình, Đại sứ Herminio Lopez Diaz bày tỏ trân trọng và cảm ơn Chủ tịch nước đã luôn dành những tình cảm tốt đẹp cho đất nước Cuba; đại sứ chuyển lời chúc mừng của lãnh đạo nhà nước Cuba tới Chủ tịch nước nhân dịp kỷ niệm 72 năm ngày Quốc khánh 2-9 của Việt Nam.
Đại sứ nhấn mạnh chuyến thăm của Chủ tịch nước tới Cuba cuối năm ngoái đã mở ra trang mới trong quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước.
Đại sứ cho biết nhà nước và nhân dân Cuba sẽ luôn làm hết sức mình phát triển quan hệ hữu nghị Việt Nam-Cuba.
Đồng thời Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam luôn sát cánh cùng lãnh đạo nhà nước Cuba để xây dựng và phát triển quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.
Đại sứ khẳng định sắp tới dù ở cương vị nào, đại sứ cũng sẽ tiếp tục là cầu nối góp phần tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai nước ngày càng sâu sắc, bền chặt.
theo Pháp luật TPHCM
 http://soha.vn/chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-tiep-dai-su-cuba-sang-28-8-20170828140435645.htm

VIDEO: Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba López Díaz


VIDEO: Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba López Díaz

28/08/2017 - 14:42 (GMT+7)

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã tiếp Đại sứ Cuba tại Việt Nam Herminio López Díaz.

Chủ tịch nước tiếp đại sứ Cuba - Ảnh: NHAN SÁNG/TTXVN

Chủ tịch nước tiếp đại sứ Cuba - Ảnh NHAN SÁNG
Theo TTXVN, 10h sáng nay (28/8), tại Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã tiếp Đại sứ Cuba tại Việt Nam Herminio López Díaz.
Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng Đại sứ Herminio López Díaz đã có nhiệm kỳ công tác thành công tại Việt Nam; đánh giá cao Đại sứ Herminio López Díaz trong 4 năm công tác tại Việt Nam đã trở thành cầu nối tin cậy giữa Lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước; là người đồng chí thân thiết và đối tác hiệu quả của các bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội và địa phương của Việt Nam.
Trao đổi với Đại sứ Herminio López Díaz về quan hệ song phương, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, quan hệ Việt Nam-Cuba là mối quan hệ đặc biệt và mẫu mực, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Fidel Castro dày công xây dựng, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước tiếp tục vun đắp, không ngừng phát triển.
VIDEO, NGUỒN ZING.VN:
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ những đóng góp của Lãnh tụ Fidel trong việc củng cố và phát triển quan hệ hai nước. Hình ảnh Lãnh tụ Fidel tại chiến trường Quảng Trị năm 1973 vẫn in đậm trong tâm trí người dân Việt Nam, nhất là câu nói nổi tiếng của Lãnh tụ Fidel “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” đã trở thành một trong những biểu tượng trong quan hệ hai nước.
“Đất nước Cuba luôn in đậm trong trái tim mỗi người dân Việt Nam,” Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh.
chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-tiep-dai-su-cu-ba-vn

Đại sứ Cuba tại Việt Nam cho biết ông đến chào Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân kết thúc nhiệm kỳ đại sứ tại Hà Nội. Ảnh: Tuổi Trẻ

Chủ tịch nước Trần Đại Quang vui mừng nhận thấy quan hệ đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Cuba những năm qua không ngừng được củng cố và phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Quan hệ chính trị ngày càng gắn bó, tin cậy, thể hiện qua kết quả các chuyến thăm lẫn nhau thường xuyên của Lãnh đạo cấp cao hai nước.
Quan hệ giữa các tổ chức chính trị-xã hội hai nước cũng được tăng cường; các cơ chế hợp tác song phương được triển khai thường xuyên với nội dung thiết thực ở tất cả các kênh quan hệ: Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng, Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học kỹ thuật, Tham khảo chính trị/Đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng trên các lĩnh vực an ninh-quốc phòng và đối ngoại.
Hợp tác kinh tế-thương mại và các lĩnh vưc khác từng bước vượt qua khó khăn, đạt được nhiều bước phát triển mới và tích cực. Về hợp tác đa phương, hai nước cũng tiếp tục tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết...
Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại to lớn của nhân dân Cuba trong những năm qua, nhất là trong quá trình “cập nhật hóa mô hình kinh tế”, nhờ đó tạo thế và lực mới có lợi cho sự nghiệp Cách mạng Cuba.
Chu_tich_nuoc_002

Ngài Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: NHẬT LÂM/ZING

Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ luôn sát cánh, ủng hộ và chia sẻ với Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba trên tất cả các lĩnh vực; Việt Nam sẵn sàng tiếp tục trao đổi với Cuba tất cả kinh nghiệm đúc rút được trong công cuộc Đổi mới hơn ba mươi năm qua.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhắc lại những ấn tượng tốt đẹp trong các chuyến thăm Cuba của Chủ tịch nước, nhất là kỷ niệm là vị nguyên thủ nước ngoài cuối cùng đến thăm và nói chuyện với Lãnh tụ Fidel Castro trước khi Lãnh tụ từ trần.
Chủ tịch nước khẳng định, Lãnh đạo và nhân dân Việt Nam sẽ mãi ghi nhớ những công lao to lớn của Lãnh tụ Fidel Castro đối với mối quan hệ đặc biệt và mẫu mực Việt Nam-Cuba; Lãnh tụ Fidel Castro vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và Cuba.
Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Đại Quang gửi lời chào anh em thân thiết, lời chúc sức khỏe đến Chủ tịch Cuba Raul Castro và các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba; trân trọng mời Chủ tịch Raul Castro sang thăm chính thức Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã dành thời gian tiếp, Đại sứ Herminio López Díaz chuyển lời chúc mừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đến Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp 72 năm Quốc khánh 2/9, trong đó nhấn mạnh Lãnh đạo và nhân dân Cuba sẽ làm hết sức mình để gìn giữ và vun đắp mối quan hệ mẫu mực Cuba-Việt Nam.
Đại sứ Herminio López Díaz chia sẻ về kết quả công tác trong nhiệm kỳ và tình cảm cá nhân của Đại sứ với đất nước, con người Việt Nam; bày tỏ trân trọng tình cảm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang dành cho đất nước Cuba; cảm ơn những đóng góp to lớn của Chủ tịch nước vào việc tăng cường quan hệ Việt Nam-Cuba.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang mong muốn, khi trở về Cuba, Đại sứ Herminio López Díaz sẽ luôn lưu giữ tình cảm và ấn tượng tốt đẹp về Việt Nam, tiếp tục đóng góp vào việc củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam-Cuba. Chủ tịch nước khẳng định, các bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội và địa phương của Việt Nam sẵn sàng hợp tác, tạo những điều kiện thuận lợi để Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ là cầu nối thiết thực đưa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Cuba không ngừng phát triển.
Đại sứ Herminio López Díaz khẳng định, trên cương vị công tác nào cũng sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực vào việc làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đoàn kết anh em và hợp tác toàn diện giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Cuba-Việt Nam. Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam sẽ luôn sát cánh cùng các cơ quan hữu quan của Việt Nam trong nhiệm vụ củng cố và tăng cường quan hệ hai nước.
 http://www.baogiaothong.vn/video-chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-tiep-dai-su-cuba-lopez-diaz-d222755.html

Ông Trần Đại Quang tái xuất hiện, sau hơn 1 tháng tin đồn ‘chữa bệnh’

Ông Trần Đại Quang tái xuất hiện, sau hơn 1 tháng tin đồn ‘chữa bệnh’

Ông Trần Đại Quang bắt tay Đại sứ Herminio López Díaz. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)
HÀ NỘI (NV) – Ông Trần Đại Quang, chủ tịch nhà nước CSVN, tái xuất hiện sau hơn một tháng hoàn toàn vắng bóng trên chính trường Việt Nam, với nhiều đồn đoán ‘bị bệnh’ và phải sang Nhật chữa trị.
Nhiều trang báo điện tử tại Việt Nam vào sáng 28 Tháng 8 đồng loạt loan tin về sự kiện, ông Trần Đại Quang tiếp ông Herminio López Díaz, đại sứ Cuba tại Hà Nội, đến chào vì ông này hết nhiệm kỳ.
Sự kiện diễn ra vào lúc 10 giờ sáng, với nghi thức ngoại giao hết sức bình thường của một vị chủ tịch nước, nhưng được các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đặt ở vị trí tin hàng đầu, nhiều tờ báo còn tường thuật trực tiếp, cập nhật liên tục, riêng Đài truyền hình quốc gia VTV có ngay bản tin thời sự vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày.
Trong hơn một tháng qua, từ ngày 25 Tháng Bảy, trên mạng xã hội tại Việt Nam, xuất hiện cơn bão tin đồn rằng ông Trần Đại Quang bị bệnh và phải sang Nhật chữa trị. Tuy nhiên trên truyền thông nhà nước không hề có tin tức hay hình ảnh, videos cho thấy điều ngược lại cho đến sự kiện ông Quang tiếp đại sứ Cuba tại Hà Nội.
Tin đồn ông Trần Đại Quang ‘chữa bệnh’ lên đỉnh điểm vào ngày 10 Tháng Tám, khi Facebooker Truong Huy San, tức nhà báo Huy Ðức viết rằng ông Quang đi Nhật chữa bệnh ‘từ tối 25 Tháng Bảy, 2017′ và ‘Sự vắng mặt của ông ở trong nước suốt hơn hai tuần qua đã tạo ra một khoảng trống cho các lời đồn đoán.”
Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam có hình ảnh cuối cùng của ông Trần Đại Quang khi tiếp Đại Tướng Patrushev Nikolai Platonovich, thư ký Hội Đồng An Ninh Liên Bang Nga, vào chiều 25 Tháng Bảy.
Gần đây nhất, hôm 20 Tháng Tám, truyền thông tại Việt Nam đồng loạt đưa lên một bài viết với tựa đề “Tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong tình hình mới,” cuối bài đề tên tác giả là “Giáo Sư, Tiến Sĩ Trần Ðại Quang, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.”
Toàn văn bài viết được Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) và trang tin ‘chinhphu.vn‘ phổ biến dài 2,561 từ qua đó thúc giục các ngành cấp dưới siết chặt hơn nữa hệ thống Internet nhằm đối phó với “phản động” trong và ngoài Việt Nam.
Hệ thống báo chính thống của Việt Nam khi đồng loạt đăng lại bài viết này đều dùng những hình ảnh cũ của ông Quang để đăng.
Cách đây 3 ngày, một bài báo đăng trên tờ Nikkei Asian Review của Nhật hôm Thứ Sáu, 25 Tháng Tám, với tựa đề “Vietnam president’s mysterious absence raising eyebrows” (Sự vắng mặt bí ẩn của chủ tịch Việt Nam làm nhiều người thắc mắc).
Theo bài báo, ông Quang không thấy xuất hiện trước công chúng gần một tháng qua, và nhà cầm quyền chưa hề đưa ra bất cứ lời giải thích nào, tạo ra nhiều đồn đoán có tranh giành quyền lực, cùng với chuyện ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, có thể nghỉ hưu vào năm tới.
Cũng theo bài báo, trong chương trình thăm viếng Việt Nam của ông Binali Yildirim, hôm 23 Tháng Tám, thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ, ban đầu có bao gồm gặp ông Quang, nhưng bất ngờ bị thay đổi.
Sau đó, Hà Nội đưa ra chương trình mới, không có buổi gặp ông Quang, và Bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng không đưa ra lời giải thích.
Bài báo đặt câu hỏi, với nhiều tin đồn là đang bệnh nặng, thì ông Quang có xuất hiện trước công chúng, hoặc trên bất kỳ cơ quan truyền thông nào, trong ngày 2 Tháng Chín tới đây, là Ngày Quốc Khánh của CSVN, hay không.
Lâu nay, sức khỏe của các ủy viên Bộ Chính Trị lẫn ủy viên Trung Ương Ðảng CSVN đều được cho là “bí mật.”
Trước đó, ngày 26 Tháng Bảy, cũng chính Facebooker Truong Huy San ‘xì’ tin ông Đinh Thế Huynh, Thường trực Ban Bí Thư, nhân vật được cho là đứng hàng thứ năm trong danh sách các lãnh đạo chóp bu, sau gần hai tháng vắng bóng trên các diễn đàn chính trị ở Việt Nam phải sang Nhật chữa bệnh và “an dưỡng” ở Phú Quốc.
Sau đó, hôm 28 Tháng Bảy, Bộ Chính Trị của đảng CSVN mới chính thức xác nhận ông Đinh Thế Huynh “bị bệnh” và đưa ông Trần Quốc Vượng tạm thay thế. (KN)
 https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/ong-tran-dai-quang-tai-xuat-hien-sau-hon-1-thang-tin-don-chua-benh/

Chùm ảnh: Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp đại sứ Cuba

(PLO)- Sáng 28-8, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã có buổi tiếp Đại sứ Cuba Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Chủ tịch nước tiếp đại sứ Cuba sáng 28-8. Ảnh: TTXVN

Ngài Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng đại sứ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ công tác của mình tại Việt Nam. (Nguồn:TTXVN)

Chủ tịch nước Trần Đại Quang chụp ảnh cùng đoàn đại sứ Cuba.
Theo TTXVN

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Cuba

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Cuba

Dân trí Sáng 28/8/2017, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp ngài Herminio Lopez Diaz, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hoà Cuba tại Việt Nam đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.




Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Nhan Sáng-TTXVN
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Nhan Sáng-TTXVN
Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng Đại sứ Herminio López Díaz đã có nhiệm kỳ công tác thành công tại Việt Nam; đánh giá cao Đại sứ Herminio López Díaz trong 4 năm công tác tại Việt Nam đã trở thành cầu nối tin cậy giữa Lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước; là người đồng chí thân thiết và đối tác hiệu quả của các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và địa phương của Việt Nam.
Trao đổi với Đại sứ Herminio López Díaz về quan hệ song phương, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, quan hệ Việt Nam - Cuba là mối quan hệ đặc biệt và mẫu mực, được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Fidel Castro dày công xây dựng, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước tiếp tục vun đắp, không ngừng phát triển.
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ những đóng góp của Lãnh tụ Fidel trong việc củng cố và phát triển quan hệ hai nước.
Hình ảnh Lãnh tụ Fidel tại chiến trường Quảng Trị năm 1973 vẫn in đậm trong tâm trí người dân Việt Nam, nhất là câu nói nổi tiếng của Lãnh tụ Fidel “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” đã trở thành một trong những biểu tượng trong quan hệ hai nước. “Đất nước Cuba luôn in đậm trong trái tim mỗi người dân Việt Nam”, Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang vui mừng nhận thấy quan hệ đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba những năm qua không ngừng được củng cố và phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Quan hệ chính trị ngày càng gắn bó, tin cậy, thể hiện qua kết quả các chuyến thăm lẫn nhau thường xuyên của Lãnh đạo cấp cao hai nước.


Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Cuba tại Văn phòng Chủ tịch nước sáng nay. (Ảnh: Anh Đỗ)
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Cuba tại Văn phòng Chủ tịch nước sáng nay. (Ảnh: Anh Đỗ)

Quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội hai nước cũng được tăng cường; các cơ chế hợp tác song phương được triển khai thường xuyên với nội dung thiết thực ở tất cả các kênh quan hệ: Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng, Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học kỹ thuật, Tham khảo chính trị/Đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng trên các lĩnh vực an ninh - quốc phòng và đối ngoại.
Hợp tác kinh tế - thương mại và các lĩnh vưc khác từng bước vượt qua khó khăn, đạt được nhiều bước phát triển mới và tích cực. Về hợp tác đa phương, hai nước cũng tiếp tục tăng cường phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết...
Chủ tịch nước Trần Đại Quang chúc mừng những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại to lớn của nhân dân Cuba trong những năm qua, nhất là trong quá trình “cập nhật hóa mô hình kinh tế”, nhờ đó tạo thế và lực mới có lợi cho sự nghiệp Cách mạng Cuba. Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ luôn sát cánh, ủng hộ và chia sẻ với Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba trên tất cả các lĩnh vực; Việt Nam sẵn sàng tiếp tục trao đổi với Cuba tất cả kinh nghiệm đúc rút được trong công cuộc Đổi mới hơn ba mươi năm qua.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhắc lại những ấn tượng tốt đẹp trong các chuyến thăm Cuba của Chủ tịch nước, nhất là kỷ niệm là vị nguyên thủ nước ngoài cuối cùng đến thăm và nói chuyện với Lãnh tụ Fidel Castro trước khi Lãnh tụ từ trần. Chủ tịch nước khẳng định, Lãnh đạo và nhân dân Việt Nam sẽ mãi ghi nhớ những công lao to lớn của Lãnh tụ Fidel Castro đối với mối quan hệ đặc biệt và mẫu mực Việt Nam - Cuba; Lãnh tụ Fidel Castro vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và Cuba.



Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Anh Đỗ.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Đại sứ Herminio Lopez Diaz đến chào từ biệt nhân kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Anh Đỗ.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trần Đại Quang gửi lời chào anh em thân thiết, lời chúc sức khỏe đến Chủ tịch Cuba Raul Castro và các vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba; trân trọng mời Chủ tịch Raul Castro sang thăm chính thức Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã dành thời gian tiếp, Đại sứ Herminio López Díaz chuyển lời chúc mừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đến Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp 72 năm Quốc khánh 2/9, trong đó nhấn mạnh Lãnh đạo và nhân dân Cuba sẽ làm hết sức mình để gìn giữ và vun đắp mối quan hệ mẫu mực Cuba - Việt Nam.
Đại sứ Herminio López Díaz chia sẻ về kết quả công tác trong nhiệm kỳ và tình cảm cá nhân của Đại sứ với đất nước, con người Việt Nam; bày tỏ trân trọng tình cảm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang dành cho đất nước Cuba; cảm ơn những đóng góp to lớn của Chủ tịch nước vào việc tăng cường quan hệ Việt Nam - Cuba.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang mong muốn, khi trở về Cuba, Đại sứ Herminio López Díaz sẽ luôn lưu giữ tình cảm và ấn tượng tốt đẹp về Việt Nam, tiếp tục đóng góp vào việc củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba. Chủ tịch nước khẳng định, các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và địa phương của Việt Nam sẵn sàng hợp tác, tạo những điều kiện thuận lợi để Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ là cầu nối thiết thực đưa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Cuba không ngừng phát triển.
Đại sứ Herminio López Díaz khẳng định, trên cương vị công tác nào cũng sẽ tiếp tục có những đóng góp tích cực vào việc làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đoàn kết anh em và hợp tác toàn diện giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Cuba - Việt Nam. Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam sẽ luôn sát cánh cùng các cơ quan hữu quan của Việt Nam trong nhiệm vụ củng cố và tăng cường quan hệ hai nước.

Dân trí

http://dantri.com.vn/chinh-tri/chu-tich-nuoc-tran-dai-quang-tiep-dai-su-cuba-20170828110610489.htm

Đức Dũng - TTXVN
Video: VTV.vn

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

TP.HCM – Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?

TP.HCM – Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?

TP.HCM – Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?

Tuyến đường sắt tốc độ cao dài 173km từ TP HCM-Cần Thơ có thể thành hiện thực vào năm 2024.
TP.HCM - Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?
Sơ đồ hướng tuyến dự án đường sắt tốc độ cao TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ
Viện Khoa học và Công nghệ phương Nam và Công ty cổ phần tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam (TEDI SOUTH) vừa tổ chức lấy ý kiến của các ngành chức năng về hướng tuyến của đường sắt tốc độ cao TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ qua địa phận TP Cần Thơ.
Dự án có quy mô “khủng”
Theo đề xuất của đơn vị nghiên cứu, điểm đầu tiên của vận tải hành khách là ga Tân Kiên (huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh), còn điểm đầu của vận tải hàng hóa là nhà ga tàu hàng An Bình (thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) thuộc tuyến đường sắt Trảng Bom, Hòa Hưng. Điểm cuối của tuyến đường sắt này sẽ đặt tại ga Cái Răng (quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ). Dự kiến, vào cuối năm 2024, dự án này sẽ được vận hành thử trước khi khai thác chính thức.
Theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, đây là tuyến đường sắt cấp 1; khổ đường 1.435mm; số lượng đường trên chính tuyến là 2; tốc độ dưới 200km/h cho tàu hàng, trên 200km/h cho tàu khách.
Chiều dài toàn tuyến là 173,677 km, có 16 ga qua 6 tỉnh, thành phố khác nhau, thời gian đi từ TP.HCM đến Cần Thơ có thể chỉ mất 45 phút. Tổng vốn đầu tư cho dự án khoảng 5 tỷ USD.
TP.HCM - Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?
Ông Trần Công Hoàng Quốc Trang, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ phương Nam, Trưởng Ban quản lý dự án đường sắt TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ giới thiệu về dự án
Sau khi quy hoạch chi tiết được duyệt, đơn vị nghiên cứu đã đưa ra phương án đề xuất điều chỉnh theo nhà đầu tư phân kỳ thành hai giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 1 từ ga Tân Kiên (TP.HCM) đến ga Cái Răng (TP Cần Thơ). Giai đoạn 2 từ ga An Bình (Bình Dương) đến ga Tân Kiên và nhánh đường sắt vào cảng Hiệp Phước.
Giai đoạn 1 của dự án sẽ có 10 nhà ga đi qua 5 tỉnh thành gồm TP Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long và TP Cần Thơ. Chiều dài toàn tuyến là 139,67km.
Theo ông Trần Công Hoàng Quốc Trang, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ phương Nam, Trưởng Ban quản lý dự án đường sắt TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ, mỗi nhà ga sẽ được xây dựng thành một khu đô thị mới hiện đại. Cùng với đường sắt, nhà đầu tư sẽ xây dựng các trung tâm năng lượng sạch như điện mặt trời, điện gió… để cung cấp điện cho vận hành đường sắt và phục vụ đời sống xã hội trong khu vực. Cũng theo ông Trang, dự án này được xây dựng theo hình thức BOT từ nguồn vốn nước ngoài không có bảo lãnh của chính phủ và vấn đề về vốn đã sắp xếp xong.
Cần Thơ đồng thuận cao với dự án
Theo phương án của nhà đầu tư, hướng tuyến dự án đường sắt tốc độ cao TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ đoạn đi qua TP Cần Thơ có chiều dài 5,177 km bắt đầu từ ranh giới huyện Bình Minh (Vĩnh Long), vượt sông Hậu cách cầu Cần Thơ về phía hạ lưu khoảng 3,4km. Sau đó tuyến đi giữa trục đường 3C qua khu công nghiệp Hưng Phú 1, qua khu đô thị nam Cần Thơ và đi về nhà ga Cái Răng đặt ở phường Phú Thứ.
Để xây dựng nhà ga Cái Răng, nhà đầu tư đề xuất quy hoạch diện tích khoảng 421,67ha. Trong đó diện tích nhà ga chính khoảng 26,12ha; còn lại nhà đầu tư sẽ xây dựng khu đô thị gắn liền với nhà ga.
Sau khi nghe trình bày phương án hướng tuyến, đại diện Sở Công thương TP Cần Thơ cho biết gần khu vực dự kiến xây dựng nhà ga Cái Răng, TP Cần Thơ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng trung tâm Logistic với diện tích 252ha nên đề nghị đơn vị tư vấn cập nhật xem có vướng vào quy hoạch này không.
Đại diện Sở Xây dựng đề nghị đơn vị tư vấn cần cập nhật quy hoạch chi tiết khu công nghiệp (KCN) và khu dân cư trong khu vực. Ban quản lý dự án và đơn vị thiết kế cần quan tâm đến kiến trúc cảnh quan của dự án sao cho phù hợp với khu vực.
Trong đó, kiến trúc cảnh quan cầu bắc qua sông Hậu cần có nét đặc trưng riêng, tránh trùng lắp với cầu Cần Thơ hiện hữu; còn nhà ga Cái Răng cũng cần có định hướng lâu dài và kiến trúc cảnh quan phải phù hợp nét đặc trung của vùng. Đặc biệt theo quy định là phải tổ chức thi tuyển kiến trúc trước khi thiết kế.
Ban ATGT TP Cần Thơ đề nghị cần hạn chế đường giao cắt giữa đường sắt và đường bộ để đảm bảo trật tự ATGT. Ban quản lý các KCN và KCX Cần Thơ đề nghị đơn vị tư vấn cần cập nhật quy hoạch chi tiết khu đô thị nam Cần Thơ và KCN Hưng Phú đã được duyệt. Theo đại diện Ban quản lý KCN và KCX Cần Thơ, trục 3C theo phương án đề xuất của đơn vị tư vấn thực chất là đường 1A KCN Hưng Phú 1 nên cần điều chỉnh lại cho phù hợp. Đối với đoạn đường sắt đi qua KCN nên xây dựng đường trên cao vì xây dựng đường trên mặt đất sẽ chia đôi KCN Hưng Phú 1.
Theo đơn vị tư vấn, dự án sẽ tiến hành xây dựng đường gom dân sinh và xây hầm chui hoặc cầu vượt nên giữa đường sắt và đường bộ không có điểm giao cắt cùng cấp. Còn đoạn đường sắt đi qua KCN sẽ được xây dựng trên cao đi giữ lòng đường bộ nên không ảnh hưởng đến hoạt động của KCN….
TP.HCM - Cần Thơ: Chỉ 45 phút đi tàu?
Ông Lê Tiến Dũng, Phó giám đốc Sở GTVT Cần Thơ phát biểu kết luận tại buổi lấy ý kiến
Sau khi ngành chức năng có ý kiến, ông Lê Tiến Dũng, Phó giám đốc Sở GTVT Cần Thơ kết luận chủ trương xây dựng dự án đã được các địa phương đồng thuận cao trong đó có TP Cần Thơ. Riêng về hướng tuyến đi qua địa bàn TP Cần Thơ xét thấy đã phù hợp với quy hoạch chung của TP Cần Thơ và đặc biệt không ảnh hưởng đến quy hoạch khu Logisctic 252ha đã được phê duyệt.
Để làm rõ thêm vấn đề này, ông Dũng đề nghị đơn vị tư vấn làm việc cụ thể với Sở Công thương. Bên cạnh đó, ông Dũng đề nghị đơn vị tư vấn làm việc với lãnh đạo Ban quản lý các KCN và KCX để xác định tuyến đường mà dự án đi qua KCN Hưng Phú là đường 1A hay 3C.
Đối với nhà ga, cần nghiên cứu theo hướng sử dụng lâu dài và lưu ý về kiến trúc cảnh quản để đảm bảo tính mỹ thuật và phù hợp với khu vực. Đồng thời cần nghiên cứu kết nối khu nhà ga với Khu Logisctic và khu cụm cảng Cái Cui để phát huy tối đa dự án.
Về vấn đề đối ứng quỹ đất và xây dựng khu đô thị mới, các sở ngành ghi nhận ý kiến của nhà đầu tư và đơn vị tư vấn và sẽ có ý kiến chính thức tại những cuộc họp sau khi dự án triển khai những bước tiếp theo.
Hồng Thủy/baogiaothong.vn
 http://saigontrongtoi.net/tp-hcm-can-tho-chi-45-phut-di-tau/

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Buổi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17 tháng 8 năm 1945.
Có lẽ đa số các bạn đều đã được giáo dục rằng biến cố lịch sử với tên gọi “Cách mạng tháng Tám” (CMT8) là một “mốc son đánh dấu nước ta thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và gông xiềng Nhật”. Cuộc “cách mạng” này đã dẫn tới sự kiện mà ngày nay chúng ta gọi là “Quốc khánh” – mồng 2/9. Thêm nữa, năm 1945 đánh dấu nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử Việt Nam, thảm cảnh 2 triệu đồng bào chết đói đã trở thành nổi ám ảnh qua nhiều thế hệ gia đình Bắc Việt Nam.

Thế nhưng, lịch sử thì luôn phức tạp hơn những gì mà chúng ta vẫn được tuyên truyền. Và tuy nhiều bạn đã nắm rõ sự thật về cuộc nội chiến kéo dài 21 năm sau biến cố đó, song về sự kiện diễn ra vào ngày này cách đây 72 năm thì vẫn rất mơ hồ. Vậy rốt cục thì chuyện gì đã xảy ra vào quãng thời gian này? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu dưới một góc nhìn khác.

1. Trước CMT8, Việt Nam tồn tại mấy thế lực ?

Có thể nói rằng tại Việt Nam thời kỳ đó tồn tại rất nhiều thế lực chính trị khác nhau: Pháp có, Nhật có, cũng như một chính phủ độc lập về mặt chính trị song vẫn phụ thuộc vào quân sự của Nhật với tên gọi “Đế quốc Việt Nam”. Ngoài ra, không thể không nhắc đến sự xuất hiện thầm lặng tới tưởng chừng như vô hình của Mỹ và hiển nhiên là phe cánh Việt Minh.
Điều đáng chú ý nhất ở đây là về chính phủ Đế quốc Việt Nam của Trần Trọng Kim - một trong những thể chế Dân chủ đầu tiên, được triều đình phong kiến ủng hộ và là nền móng quan trọng cho sự hình thành của Việt Nam Cộng Hoà sau này, dù chỉ tồn tại trong vòng 4 tháng (17-04-1945 đến 19-08-1945).

+ Chính phủ Trần Trọng Kim :

Chính phủ Trần Trọng Kim có thể nói là một tai nạn lịch sử, vì sao nói là một tai nạn lịch sử? Điều này đã được ông thừa nhận trong hồi ký của mình. Lúc ấy ông giáo gần lục tuần đã phải ngồi vào bàn cờ chính trị, đối mặt với một đất nước nghèo đói. Sau này trong hồi ký của ông, vị thủ tướng bất đắc dĩ này đã kể lại rằng sau gần mười ngày chờ đợi và cứ cách ba bốn hôm ông lại đến gặp cố vấn tối cao Nhật - Yuichi Tsuchihashi để hỏi tin tức về ông Diệm để được trả lời là “chưa biết ông Diệm ở đâu” sau là “ông Diệm đau chưa về được”, rồi vì vua Bảo Đại “sốt ruột, triệu tôi vào bảo chịu khó lập chính phủ mới”. Tâm sự của hai người đã được giãi bày qua lời kể lại sau đây.

“Ngài (vua Bảo Đại) nói:”Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:- Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.”

Đến thời điểm này ta đã thấy cụ Diệm đã là một người có tiếng nói trên chính trường, sau thời gian du học tại Pháp và biến cố tháng 8 đã ngăn cản ông quay về tiếp quản Quốc gia, trong nước ông Nhu - em của cụ Diệm đã thành lập một đảng riêng hoạt động bí mật dưới con mắt dè chừng của Pháp tại chính tư dinh ở Đà Lạt sau khi vua Bảo Đại thoái vị về đây sinh sống. Tiếp nữa, ông đã mở rộng hoạt động xuống đến tận sài Gòn chờ ngày anh trai về nước nhậm chức Tổng thống Quốc gia đa nguyên đầu tiên trong lịch sử nước nhà mang tên gọi Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1955 - dưới sự chấp thuận của vua Bảo Đại, lúc này đã lưu vong sang Pháp, trở thành kẻ tội nghiệp cho chính những điều mình không gây ra.

Vì mới thành lập quân đội của Đế quốc Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào quân Nhật, kẻ thua cuộc sau Thế Chiến II, đã đầu hàng và khát vọng duy nhất của Nhật không còn là lợi ích kinh tế và quân sự mà là làm sao khôi phục lại tầm ảnh hưởng bằng hình thức "Khối Đại Đông Á" của mình, tư tưởng này đã được ông Chương - tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của Việt Nam, cha đẻ của bà Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân bảo rằng "Ít ra Nhật không đánh giá sự ưu việt qua màu da như Pháp". CP Quốc gia Việt Nam đã thi hành nhiều cải cách dưới bàn tay hậu thuẫn của cựu hoàng Bảo Đại : Ủy Ban dư thảo Hiếp Pháp do gồm 15 thành viên ; Ủy ban cải cách cai trị, tư pháp và tài chánh ; Ủy ban cải cách giáo dục ; cuối cùng ngày 1-7-1945 vua Bảo Đại ban hành bô luật thành lập Hội đồng tư vấn Quốc gia gồm cả ba ủy ban cải cách trên).

Và Trần Trọng Kim đã thành lập được một chính phủ với danh sách các bộ trưởng được đệ trình lên nhà vua vào sáng ngày 17 tháng 4 năm 1945. Chính phủ đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập này gồm có một thủ tướng với danh xưng nội các tổng trưởng và mười bộ trưởng với hai người là giáo sư, bốn người là y sĩ, bốn người là luật sư và một người là kỹ sư. Đây là lần đầu danh xưng bộ trưởng đã dùng thay cho danh xưng thượng thư, cùng với sự xuất hiện của nhiều bộ mới như ngoại giao, thanh niên, y tế, tiếp tế… nhằm đáp ứng nhu cầu của thời cuộc, thay vì chỉ có lục bộ như thời trước. Trong số các bộ, không bộ quốc phòng. Trần Trọng Kim trong hồi ký của ông có giải thích điều này bằng nhiều lý lẽ, nhưng sự thiếu vắng bộ quốc phòng đã gây ra cho chính phủ của ông nhiều trở ngại khi tình thế thay đổi và nhất là khi quân Nhật bị giải giáp và Việt Minh cướp chính quyền.

Tìm hiểu về con người Trần Trọng Kim, với bản chất là một nhà giáo, một tác giả của bộ sách Giáo Khoa Thư cho đến hiện tại người ta vẫn còn in lại và vẫn còn ưa đọc và viết nhiều về nó, với bản chất là một nhà nghiên cứu về lịch sử, triết học, một dịch giả của thơ Đường, đặc biệt là Việt Nam Sử Lược, một tác phẩm vừa là giáo khoa, vừa là nghiên cứu phổ thông cho đến những ngày hiện tại vẫn còn được nhiều người tin cậy và cẩn trọng giữ gìn.

Là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu không đảng phái, không bè đảng, không có sẵn người, "nhà chính trị bất đắc dĩ " đã dựa theo tiêu chuẩn phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục. Về giáo dục, chính phủ chủ trương dùng quốc ngữ giảng dạy thay chữ Pháp, và rất chú trọng đến ngành giáo dục kỹ thuật. Cầm quyền chưa được hai tháng, vào ngày 8- 6-1945, chính phủ quy định rằng từ đây, chữ quốc ngữ và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức ở các công sở và trường học. Trong trường học, Pháp văn được giảng dạy như một ngoại ngữ. Kỳ thi tiểu học năm nay là kỳ thi đầu tiên bằng quốc ngữ, và dự định sẽ dùng quốc ngữ trong các kỳ thi cao hơn. Chương trình trung tiểu học được Việt Nam hóa, do bộ trưởng bộ Giáo dục Hoàng Xuân Hãn đưa ra. Chương trình này là nền tảng căn bản cho chương trình giáo dục của các chính phủ trong chính thể Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa sau này.

Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính các tương trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca… đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện.

Các đoàn thanh niên này góp phần đắc lực trong việc vận động cứu đói đồng bào Bắc Bộ. Từ đó ý thức xã hội và tinh thần dân tộc quật khởi mạnh mẽ trong giới thanh niên. Phong trào thanh niên đang hăng say hoạt động, thì chính phủ Trần Trọng Kim từ chức sau khi Nhật bại trận.

Điều này khẳng định không riêng Trần Trọng Kim mà luôn cả Bảo Đại “không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thưc tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao Ủy Bollaert”.

Sự thành lập của chính phủ Trần Trọng Kim đã đánh dấu việc đầu tiên nước ta chính thức mang quốc hiệu "Việt Nam" - và sẽ còn giá trị đến mãi sau này .

+ Còn về thế lực của Mỹ? Điều này nghe có vẻ bất ngờ nhưng hóa ra lại không vì từ năm 1932 OSS (tiền thân của CIA) đã ngấm ngầm can thiệp bảo vệ Nguyễn Ái Quốc khỏi bị tử hình tại Trung Quốc. Vào sự kiện ngày 2/9/1945 diễn ra ở Quảng trường Ba Đình, một đội đặc nhiệm mang tên "Nai Vàng" đã ầm thầm theo bảo vệ lãnh đạo của Việt Minh. Nhưng vì ông ta là một con người của Công Sản III với mục tiêu: ''Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng, làm thất bại các chính phủ trong chiến tranh'', nghĩa là đi tìm kiếm sự độc tôn đảng phái bằng con đường bạo lực vũ trang, thà hy sinh máu của đồng bào chứ không chịu chấp nhận một nền dân chủ được Mỹ hậu thuẫn như VNCH đã làm sau này.

2. Về nạn đói Năm Ất Dậu 1945

+ Nạn đói xảy xa có phải hoàn toàn do Nhật và Pháp?


Trước nạn đói năm ấy, ngay từ khoảng đầu Thế chiến thứ hai, các gia đình miền Bắc đã phải sống dưới khẩu phần cho một người, và cơn đói luôn âm ỉ đâu đó trong lòng đồng bào. Ta có thể thấy qua một số tác phẩm đương thời như “Tắt Đèn” (Ngô Tất Tố), “Một bữa no” hay “Lão Hạc” (Nam Cao). Nạn đói bùng lên từ ngọn lửa âm ỉ đó vào năm Ất Dậu cùng với những thất bát về mùa vụ chỉ vô tình tô đậm bức tranh xơ xác thêm một mảng màu đen.

+ Nhà nước non trẻ của Trần Trọng Kim đã có động thái gì ?

Một trong những chương trình hành động khẩn cấp của chính phủ Trần Trọng Kim là giải quyết nạn đói ở Bắc bộ. Nạn đói bắt đầu từ mùa đông năm 1944, lúc đó còn Pháp thuộc. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.

Khi chính phủ mới được thành lập (17-4-1945), chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh bãi bỏ việc bắt buộc nông gia bán lúa gạo cho nhà nước, và để cho dân chúng tự do buôn bán gạo. Điều nầy có nghĩa là những quy định trước đây về số lượng lúa gạo phải bán cho nhà nước theo diện tích canh tác cũng bị bãi bỏ. Người dân được tự do vận chuyển buôn bán gạo dưới 50 kí lô mà không cần phải có giấy phép của chính quyền.

Ở các tỉnh, những ngân hàng nông nghiệp sẽ phụ trách mua gạo cho nhu cầu quân sự hay nhu cầu thực phẩm của chính quyền dưới sự kiểm soát của tỉnh trưởng. Những người nghèo đói còn sống sót và những người vô gia cư được chính phủ tập trung vào những nhà nuôi dưỡng đặc biệt để phục hồi dần dần.

Vua Bảo Đại ra sắc chỉ ngày 23-5-1945 hủy bỏ nợ nần do các tiểu nông vay tiền nhà nước trước đây. Chính phủ cho hạ thấp mức thuế nông dân phải đóng góp. Bộ trưởng bộ Tiếp tế Nguyễn Hữu Thí đến Sài Gòn vào đầu tháng 6-1945 để thương thuyết với người Nhật nhằm thay đổi phương cách chở gạo từ Nam ra Bắc.

Để tránh bị phi cơ Đồng minh oanh tạc, gạo sẽ được chở bằng các đoàn thuyền buồm thuê của thường dân. Bộ trưởng Nguyễn Hữu Thí còn đề nghị đưa 1,000,000 dân từ Bắc bộ và Trung bộ vào định cư ở Nam bộ. Những chuyến xe hay những chiếc ghe chở gạo từ Nam ra Bắc, khi quay trở về, thì chở di dân vào Nam lập nghiệp

Ngày 30-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim cho đánh thuế du hý (vui chơi, giải trí) để lấy tiền tài trợ cho những hoạt động cứu đói ở Bắc bộ. Chính phủ mở chiến dịch báo chí thông tin về những bất hạnh của đồng bào Bắc Bộ để kêu gọi dân chúng tiếp tay cứu trợ. Những cuộc lạc quyên được tổ chức trên toàn quốc. Chiến dịch này đã đem đến nhiều thành quả tích cực.

Tại Hà Nội, vào tháng 5-1945, Tổng hội Cứu tế quyên được 782,403 đồng. Với số tiền này, Tổng hội đã mua được từ kho nhà nước 1,476 tấn gạo phát chẩn cứu đói. Ủy ban Cứu tế Trung ương giúp đỡ Bắc bộ tại Huế và Ủy ban tương trợ giúp đỡ những nạn nhân Bắc bộ tại Sài Gòn, được thành lập. Số tiền quyên góp được dùng mua gạo chở ra giúp đỡ đồng bào đất Bắc.

Tại Nam Bộ, chỉ nội trong tháng 5-1945, hơn 20 hội chẩn tế ra đời, và trong vòng một tháng đã quyên được 1,677,886 đồng, kể cả 481,570 đồng mua và chuyên chở 1,592 tấn gạo ra Bắc giúp cứu đói.

Nổi bật hơn cả và cao đẹp là hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương gỡ bỏ trang sức trên người quyên góp cho Hội, hình ảnh đẹp này đã diễn ra dưới thời kỳ Quốc Gia Việt Nam chứ không phải là chế độ VNDCCH như chúng ta vẫn được tuyên truyền.

Đây là lần đầu tiên giới trẻ Việt Nam thực sự bắt tay vào hoạt động xã hội. Những biện pháp của chính phủ cùng sự tiếp tay của đồng bào toàn quốc, đã làm cho tình hình Bắc Bộ nhanh chóng trở lại bình thường. Vẫn còn một vài nơi người nghèo sắp hàng trước các điểm phân phối thực phẩm miễn phí, nhưng nói chung tình hình khá ổn định vào tháng 6-1945.

Nạn đói tưởng đã qua đi. Mặc dầu "Ủy ban Bảo vệ và Giám sát đê điều" được thành lập để lo việc giữ đê, ngăn ngừa nước dâng lên gây lụt lội, nhưng bất ngờ những cơn mưa như thác đổ vào tháng 8-1945 đã tràn ngập tất cả các cánh đồng các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Hải Dương. Nạn mất mùa trở lại. Vài nơi thiếu gạo, dân chúng đã phải ăn cả lúa giống để dành làm vụ mùa sau.

+ Cộng Sản quấy rối:

Theo những gì chúng ta biết, khi nạn đói xảy ra năm 1945, đảng Cộng Sản Đông Dương và Việt Minh lên án Pháp và Nhật là tác nhân gây ra nạn đói, và chống việc trưng mua lúa gạo.

Việt Minh (VM) đả kích chính phủ Trần Trọng Kim, kích động dân chúng lăng nhục những viên chức chính quyền lo việc cứu tế. Khi biết được Đức rồi Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, một mặt VM xúi giục dân chúng đánh phá các kho lúa. Một mặt khác, VM đứng ra tổ chức cướp các kho gạo.

Việt Minh còn âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi VM đem tiếp tế cho những mật khu của họ. Điều này giải thích vì sao trong nạn đói Lãnh đạo và quân đội của VM được mở rộng dù phải sống xa lánh dư luận chính thống của chính quyền đương thời

Việt Minh hợp tác và cung cấp tin tức cho phe Đồng minh, chính là cho Hoa Kỳ, dùng máy bay bắn phá các trục giao thông, khiến việc tiếp tế thực phẩm rất khó khăn. Ngày 23-7-1945, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bộ trưởng bộ Y tế, trên đường đi công tác, từ Thái Bình trở về Hà Nội, đến gần Bần Yên Nhân thì bị máy bay Đồng minh bắn chết. Sự đi lại khó khăn đến nỗi chính phủ Trần Trọng Kim phải dùng xe đạp để chuyển công văn.

Từ đó, nạn đói trầm trọng trở lại. Nạn đói càng trầm trọng thì VM càng dễ tuyên truyền, vừa phản đối chính quyền, vừa chiêu dụ dân chúng bằng cách dùng gạo cướp được để cứu đói những ai chịu theo VM. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) đã tự nhận trong hồi bút "Tại sao tôi viết Tiến Quân Ca - ngày 7-7-1946, rằng ông theo VM vì bản thân và gia đình quá đói. Sau được đăng trong cuốn "Thiên Thai" tuyển tập nhạc Văn Cao, từ ngà đó ông liên tục đấu tranh cho "Nhân văn giai phẩm" cùng các nhạc sĩ lỗi lạc như Phạm Duy, Ngô Thụy Miên...nhằm phản đói chính quyền CS ép buộc các nhạc sĩ viết nhạc tuyên truyền chiến tranh, đi ngược lại cốt cách của người làm nghệ thuật. Năm 1954, hai người bạn đồng môn của Văn Cao chạy thoát vào Nam, người bạn già này bèn ngậm ngùi với những tác phẩm thơ mộng như "Mùa xuân đầu tiên" của ông bị cấm lưu hành cho đến năm 1992.

+ Năm lần đàm phán với Việt Minh. Lần thứ hai là quan trọng hơn cả vì nó có sự góp mặt của Tổng thống Kim cùng các nội các giáp mặt với một thành viên phe VM. Xin trích nguyên văn hồi ký "Một cơn gió bụi" của ông :

“Đảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.

“Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến, tôi nói ‘chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?

“Người ấy nói: – Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trì nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.

– Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.

– Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.

– Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.

– Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia.

“Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.

“Tôi nói: – Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?

– Chúng tôi sẽ cướp quyền để tỏ cho cả nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.

– Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?

– Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.

– Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”.

Vâng, lịch sử dân tộc luôn công bằng nhưng liệu thứ lịch sử được kẻ chiến thắng làm méo mó có còn công bằng được hay không? Nó sẽ nảy sinh những chiều tranh luận! Lịch sử không chỉ kể về quá khứ, mà nó còn có giá trị đến hiện tại và tương lai, chính hành động của nhà cầm quyền đương thời sẽ chứng minh cho luận điệu nào là đúng và phù hợp lòng dân nhất. Lịch sử không chỉ kể về quá khứ, mà nó còn có giá trị đến hiện tại và tương lai.

3. Nói về bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:

Bản tuyên ngôn này thực chất là hoàn toàn không cần thiết, vì từ ngày 11/3 trước đó, Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người kế vị vua Tự Đức đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ mà Tự Đức đã kết với người Pháp rồi. Thế nên việc làm của Hồ Chí Minh chỉ là thừa thãi, vô nghĩa.

+ Ngày 13-7-1945, đích thân Trần Trọng Kim ra Hà Nội thương thuyết. Toàn quyền Nhật Bản Yuichi Tsuchihashi chịu trả ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, vốn là nhượng địa của Việt Nam cho Pháp từ năm 1888.

+ Nam Kỳ (cũ) nay là Nam Bộ vốn là thuộc địa của Pháp, theo quy chế riêng. Vì vậy, lúc đầu người Nhật trì hoãn việc trả Nam Bộ, nhưng sau người Nhật chịu giao Nam Bộ lại cho Việt Nam từ ngày 8-8-1945.

+ Nhưng vì nguyên nhân khách quan Nhật hoàng đầu hàng quân đồng minh ngày 14-8 sau khi liên tục nhận hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, trong thế hỗn mang, Nhật chưa kịp trao trả Nam Bộ cho Quốc gia Việt Nam, thì đã bị Việt Minh đảo chính.

+ Ngày 20-8-1945, Trần Trọng Kim từ bỏ ý định tiếp tục cầm quyền và tuyên bố đã hoàn thành hai sứ mệnh lịch sử là thống nhất lãnh thổ và đặt định nền tảng hành chánh căn bản cho đất nước. Chính phủ của ông họp phiên cuối cùng ngày 23-8-1945 rồi tự giải tán. Về phía vua Bảo Đại, hai ngày sau, 25-8-1945, nhà vua tuyên chiếu thoái vị.

Đi sâu hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng, còn bản tuyên ngôn tại Ba Đình ngày 2/9 của Hồ Chí Minh thì dài lòng dòng, mang nặng tính cách xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ chốt liên hệ tới độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp.

Mỹ đến thời điểm đó hầu như là một đồng minh của họ Hồ, như đã nói ở trên, ít người biết Mỹ đã cho quân nhảy dù xuống Ba Đình hôm đó để bảo vệ và xa hơn năm 1932, OSS (tiền thân CIA) đã can thiệp để cứu Hồ từ HongKong. Điều đó giải thích vì sao trong “Tuyên ngôn độc lập” của mình, ông ta chỉ công khai chỉ trích duy nhất Pháp, dù có trích dẫn từ cả hai nước đồng minh.

Như đã nói phía trên, là một con người mang nặng tư tưởng Cộng Sản, Hồ Chí Minh sẽ không dễ gì thuận theo người Mỹ thành lập một chính quyền minh bạch. Và sự thật là sau “Tuần lễ vàng” và xa hơn là hai cuộc “Cải cách ruộng đất” đẫm máu, bộ mặt của một tổ chức cộng sản càng rõ ràng hơn, khiến nước Mỹ từ ủng hộ Hồ Chí Minh sang cổ vũ hết mình cho cụ Ngô Đình Diệm. Với cùng một hệ tư tưởng, người tự xưng là “cha già dân tộc” này đã giao cho quân đội Mao Trạch Đông quyền kiểm sát thay thế nhằm tránh phải đối mặt với sự quay lại của người Pháp vốn đã được thoả thuận trong các hiệp định mà các bên có liên quan đã ký kết. Đó là một quyết định không những sai lầm mà đem lại tác dụng ngược với những mong đợi của ông ta. Bằng những viện trợ nhỏ giọt từ một Trung Quốc tiêu điều sau Thế Chiến II, nạn đói không những không được đẩy lùi, nó còn gia tăng hơn về mức độ, cướp đi mạng sống của gần 2 triệu con người.

Sau khi người Pháp thất bại trong việc bảo vệ thuộc địa của mình vào năm 1954 và phải ký kết hiệp định Geneva, hơn 1 triệu người tị nạn gốc Bắc (đã tìm đường tháo chạy trong lúc Nam - Bắc tạm thời tự do mở cửa biên giới, và rất có thể số người tị nạn sẽ còn nhiều hơn bội phần nếu hệ thống thông tin thời kỳ đó không bị hạn chế hoặc là thời gian cho cuộc tị nạn dài hơn. Không có lửa thì sẽ không có khói, và qua bài viết này, chúng tôi hy vọng những bạn đã nhận ra đâu phe chính nghĩa sẽ hiểu thêm về cái thứ được gọi là “độc lập” mà quân Việt Minh đã giành lấy từ việc cướp chính quyền hợp pháp của Trần Trọng Kim vào ngày này 72 năm trước. Thứ “độc lập” đó không có ý nghĩa gì ngoại trừ việc đăt nước ta dưới ách cai trị lớn hơn của quân Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, hơn cả là đặt hàng triệu người con miền Bắc dưới tư tưởng "bạo động và tuyên truyền cướp chính quyền" của Việt Minh hay chính là Đảng Cộng sản về sau này. Đây chính là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn tới cuộc nội chiến 21 năm sau đó, và rồi là hàng chục năm tăm tối chưa có hồi kết khi mà nền dân chủ cuối cùng trên đất Việt bị xoá sổ...
Posted by