Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Nhà Thanh khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của VN

Nhà Thanh khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của VN

 Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.


Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) - nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán). 
Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam. 
Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in. 

Nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch sách Danh hoàn Chí lược 

Ở trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851). 
Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 - triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) - niên hiệu Quang Tự. 
Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Sách Danh hoàn chí lược. Dòng chữ nhỏ bên phải ghi người giám định Bích Tinh Tuyền, Lưu Ngọc Ba. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi Hòe Lý Đường Bản 
Dòng chữ bên phải ghi Quang tự Mậu tuất Mạnh Thu. Dòng thứ hai bên trái ghi Thượng Hải thư cục đại ấn 

Nội dung của sách chủ yếu tóm lược vị trí địa lý, lịch sử… của các nước trên thế giới. Sách còn vẽ bản đồ của các nước trên thế giới: từ Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia … cho đến Ả Rập. 
Đặc biệt, ở trang 24, 25 của tập sách này có in tấm bản đồ Trung Quốc, mang tên “Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ” (Bản đồ toàn quốc thống nhất đời nhà Thanh). Trên bản đồ này đều có vẽ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, như: Việt Nam, Mông Cổ, Ấn Độ, Triều Tiên... 
Đáng chú ý, ở phần biển đảo, Trung quốc chỉ vẽ đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam), Đảo Đài Loan (của Trung Quốc)… sau đó ghi chú là biển nhưng không hề vẽ và ghi chú đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc. (Bản đồ thứ 1, có ghi chú: Hoàng Thanh Nhất thống dư địa toàn đồ).

Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa dịch) 
Bản đồ của nhà Thanh không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ ghi đảo Quỳnh Châu (Hải Nam) và đảo Đài Loan 

Đặc biệt hơn nữa, ở tấm bản đồ in tại trang 40, 41 của cuốn sách này thì bên cạnh việc vẽ bản đồ đường biển Trung Quốc lại có vẽ eo biển Quảng Nam (và ghi rõ là Nam Việt - tức Việt Nam). Bên cạnh eo biển Quảng Nam, bản đồ này còn vẽ đảo Thất Châu Dương – biển Thất Châu (cả khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Vạn lý Trường Sa. Nếu theo bản đồ Trung Quốc thì Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc biển Thất Châu Dương - một cách gọi tên khác mà người Trung Quốc xưa thường dùng và ghi chú trên bản đồ để chỉ khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam (không có ghi khu vực biển Thất Châu Dương này thuộc địa giới của Trung Quốc).

Bản đồ đã chú thích trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa thuộc địa phận biển Việt Nam 

Ở tấm bản đồ trang 55 và 56 - chủ yếu vẽ về biển, đảo và các nước giáp Trung Quốc: biển Ấn Độ Dương (Trung Quốc gọi là Tiểu Tây Dương) và có cả ghi chú về Ấn Độ Dương. Trên bản đồ này còn cho biết về biển và đảo Trường Sa của Việt Nam giáp với đảo Quỳnh Châu (Hải Nam - thuộc Quảng Châu, Trung Quốc). Vẽ cả hình tượng bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trên bản đồ này còn vẽ khu vực biển đảo Quảng Nam: Trong đó vẽ và ghi Thất Châu Dương (Hoàng Sa, Trường Sa), vẽ cả cửa biển Lộc Nại của Quảng Nam và vẽ đảo Côn Lôn của Việt Nam.
Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa chú thích) 

Đáng chú ý ở trang 88, 89 giúp cho người đọc hiểu về luồng lạch, hướng gió và các bãi đá ngầm ở trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa và phương hướng, độ dài (tính theo cách tính canh giờ của người xưa) đi trên biển để tới được các nước khác nếu xuất phát từ cửa biển: đảo Trường Sa của Việt Nam. 
Phần phiên âm của sách được nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch như sau: “…Sách Hải quốc văn kiến lục có nói: Vùng Nam Dương (biển phía nam) là nơi thuyền buôn của vùng Mân Việt thường đến. Đường biển nơi đây nhiều chỗ nguy hiểm. Người chỉ huy thuyền đi qua biển này cần phải cẩn thận. Nguy hiểm nhất là nơi có hòn đảo Áo Khí. Thủy trình đi khoảng 7 canh giờ từ đảo Áo Khí đến đảo Lạc Tế. Đảo này nhỏ mà bằng phẳng. Ven đảo có nhiều đá ngầm ngổn ngang, thuyền không đến được; thu hút không khí, dòng chảy ở bốn phía. Trên đảo có nhiều cây cỏ mọc cao hơn một trượng, có núi Đông Sư Tượng, nếu muốn đến thì phải theo dòng nước mà đi. Không thể đi ngược lên phía Bắc vì nhiều doi cát nổi chìm, dài khoảng 200 dặm. Đi lên phía bắc thì có đảo và trên đảo có núi Sa Mã Kỳ. Hai ngọn núi này đối mặt vào nhau (ngọn núi Sa Mã Kỳ và Đông Sư Tượng). 

Toàn trang chữ Hán (đã dịch trong bài viết) 

Theo đường thủy trình trên biển là phải đi bốn canh giờ mới tới địa đầu Sa Mã Kỳ, lại có những doi cát liên tục ở phía nam đến Việt hải (biển Việt) gọi là Trường Sa đầu (địa đầu Trường Sa). Cứ đi về phía nam thì lại thấy nhiều doi cát nổi lên, theo đó mà đi thì đến Vạn Lý Trường Sa. Phía nam Trường Sa có nhiều bãi đá ngầm lởm chởm, đi tiếp là đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Đây là đất nguy hiểm của vùng Nam Dương, hay có gió bão lớn ở ngoài biển, thuyền đi biển đậu ở ngoài này thường gặp bão gió. Có những thuyền đi lạc đường mà gặp phải nơi đó thì rất nguy hiểm. Một cửa Trường Sa nằm ở phía tây bắc cùng với đảo Nam Áo. Ở phía tây nam là đảo Đại Tinh (Biển bình lặng¬) tạo thành thế chân vạc ở cửa nam bắc, ước rộng phải đi chừng khoảng ngũ canh (đơn vị đo lường thời cổ thường tính theo giờ). Thuyền buôn của người Việt thường đậu ở đó; phía Nam là đảo Lã Tống (Lucson - Philipin), Văn Lai, Tô Lập. Thuyền buôn thường qua mấy nước đó để trao đổi buôn bán, khi xuất phát đều từ cửa Trường Sa mà đi. Nếu gặp gió bắc thì lấy chuẩn từ đảo Nam Áo. Gặp gió Nam, lấy đảo Đại Tinh làm chuẩn để tới Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến (Quảng Đông). Nếu đi về phía Nam của Nam Dương phải đi từ cửa Sa Mã Kỳ (Đài Loan) đến các nước ở Lữ Tống (Philipin), giáp phía Tây Dương. Muốn đến Chiết Giang, Mân Việt… Nhật Bản phải đi theo hướng phía Tây biển Thất Châu, Côn Lôn rồi đến Vạn Lý Trường Sa ngoại (ngoài Vạn lý Trường Sa), qua cửa biển đảo Sa Mã Kỳ - đi theo đường thẳng dây cung mới an toàn. Từ Trung Quốc mà đến nước Indonesia phải đi phía ngoài Vạn lý Trường Sa. Nơi đây biển mờ mịt, không lấy gì làm chuẩn được cho nên muốn đi phải theo những doi cát ở biển Việt rồi mới đến Thất Châu Dương và từ đó đi tới Indonesia; Vùng biển này nước mênh mông nên giới hạn cũng mênh mông…”. (Trích sách “Danh hoàn Chí lược”).


Bản đồ chưa chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam 
Bản đồ đã chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam 


Thông qua tư liệu đã nêu ở cuốn sách này, giúp chúng ta có thêm những bằng chứng quý giá để góp phần khẳng định ngay từ thời nhà Thanh, các bản đồ của Trung Quốc đã vẽ các đảo trên vùng biển của họ chỉ có đảo Hải Nam, Đài Loan là gần với khu vực biển Việt Nam. Điều đó khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa (biển Thất Châu Dương, theo tên gọi trên bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh) là thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
    theo VTC News



Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

ĐI TÌM MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

ĐI TÌM MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

Ng Hien Le 2


MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

NẰM LẶNG LẼ TẠI LẤP VÒ

–  Mộ Nguyễn Hiến Lê hả ? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ.
Chị Dương vừa nói vừa lắc cái đầu nhỏ nhắn làm đuôi tóc vẫy vùng sau lưng. Giọng nói nhẹ nhàng của cô gái miền Tây không chút giấu giếm và đùa giỡn. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật.
Có lẽ nào, tôi tự nhủ trong lòng. Ông Nguyễn Hiến Lê mà chị ấy không biết sao. Tôi cứ nghĩ một vị học giả lẫy lừng như ông chí ít ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ, chị là một nhân viên kế toán kiêm luôn chân giữ thư viện huyện mà lại lạ lẫm với cái tên quen thuộc ấy sao. Kỳ lạ! Ngửa mặt nhìn tấm bảng hình chữ nhật treo vững vàng trên bậu cửa, tôi nhẩm lại dòng chữ “Phòng Văn hóa Thông tin huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp”. Không lẽ nào.
Khi đọc xong cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, tôi nổi hứng muốn đi tìm mộ tác giả để thắp một nén nhang biết ơn. Nhớ có lần đọc trong một cuốn sách nói rằng mộ ông nằm ở Lai Vung, tôi phóng xe Honda đến đó. Tôi nghĩ, với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như ông, chắc sẽ có một khu mộ đàng hoàng mà chỉ cần hỏi nhỏ người dân ở đó là biết. Cho nên, ngay cả khi chị Dương nói một câu rất chân thật nhưng phũ phàng, tôi cũng không suy suyển lòng tin.
Ng Hien Le 1

Tôi tự an ủi, chắc chị nghe không rõ tiếng tôi, cũng có thể là chị chưa kịp nhớ ra. Tôi cẩn thận ghi tên ông ngay ngắn vào một tờ giấy rồi đưa chị đọc. Chị đọc đi đọc lại một cách chậm rãi như thể đầu óc đang làm việc hết công suất để sàng lọc từng milimet trí nhớ hòng tìm ra cái tên Nguyễn Hiến Lê. Cuối cùng, chị trả lại tôi mảnh giấy với nụ cười e lệ :
–  Chị không biết thật rồi. Chắc anh Tú, trưởng phòng Văn hóa Thông tin biết. Để chị dẫn em vô gặp anh ấy nhé.
Tôi lẽo đẽo theo chị trong lòng khấp khởi mừng. Nếu quả thật người tôi đang đi tìm có ở Lai Vung và nổi tiếng như thế thì trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện biết là cái chắc. Anh Tú có phòng làm việc riêng, trên bàn chiếc máy tính nối mạng. Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, anh nhún vai nói giọng rề rà nhưng chắc nịch.
–  Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Chắc em lầm với ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc rồi.
Tôi nhủ thầm, người miền Tây thích đùa và biết cách đùa khéo quá. Chắc anh ấy thử mình thôi chứ với chức vụ anh ấy mà không biết ông Nguyễn Hiến Lê thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi cố nở một nụ cười hỏi lại anh bằng giọng nhẹ tênh:
–  Anh không biết ông ấy thật à ?
–  Thật mà. Ông ấy là ai vậy em ? Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ. Nhìn chiếc máy tính, tôi đề nghị:
–  Anh cho em mượn máy tính chút nhé ? Anh đồng ý.
Tôi gõ tên ông vào Google, cả một núi thông tin về ông xổ ra nhưng không có một chi tiết nào đả động đến chuyện mộ ông hiện ở đâu. Anh trưởng phòng đứng cạnh tôi nheo mắt chăm chú đọc. Cuối cùng anh à lên một tiếng:

Ng Hien Le 4

–  Ông này cũng nổi tiếng dữ hen.
Thấy anh có vẻ say sưa, tôi bỏ ra ngoài hiên ngồi mong nguôi ngoai cơn thất vọng đang dâng lên trong lòng. Có vẻ như ông trời cũng biết tôi buồn, nên đang nắng ngon lành, tự dưng đổ mưa xối xả. Cơn mưa giữa trưa đuổi bắt nhau trên những tấm tôn lúp xúp, xám màu. Mưa níu chân tôi lại nơi góc hiên thư viện. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo, tôi tự hỏi mình còn cách nào không, còn mối quan hệ nào tôi chưa chạm tới để tìm ra mộ ông không. Tôi có cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để tìm kiếm một linh hồn bí ẩn trên sách vở. Giây phút linh hồn mỏng manh kia vút lên trời cao khiến tôi thấy lòng hồi hộp một cách lạ kỳ. Tôi chỉ mới hỏi han hai người, quá ít để đi tới một kết luận. Hẳn phải còn một khe hở nào đó mà tôi chưa tìm ra.
Chợt nhớ bà cô dạy văn hồi cấp 3. Quê của cô ở Lai Vung thế nào cô cũng có chút thông tin về mộ ông Nguyễn Hiến Lê nếu nó thật sự ngự trị tại đây. Cô là người học cao hiểu rộng chắc sẽ giải đáp được thắc mắc cho tôi. Không chần chừ đến một giây, tôi hăng hái bấm số điện thoại của cô. Tiếng bên kia đầu dây đánh thức những dây thần kinh trong người tôi đến mức phấn khích như người chết đuối vớ được chiếc phao. Nhưng đôi khi, phao không đưa ta đến bờ được. Cô biết ông nhưng không biết mộ ông nằm ở đâu. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết không, và dặn tôi chờ.
Còn ai có thể trả lời câu hỏi của tôi đây ? Nhà giáo không biết liệu nhà văn có hơn không ? Nghĩ thế tôi không ngần ngại bấm số của một anh nhà văn. Tôi tin rằng giới văn nghệ sĩ rất rành mấy chuyện bên lề này. Anh bạn tôi là người hay giang hồ vặt, lại thêm dân miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay ho.

 Ng Hien Le 5

Nhưng câu hỏi của tôi thuộc loại khó nuốt, anh biết rất rõ ông Nguyễn Hiến Lê nhưng cái vụ mồ mả thì anh bí. Anh nói sẽ gọi những bạn văn của anh để hỏi xem có ai biết không. Lại một lời hứa.
Đã hỏi hai “nhà” rồi, tôi hăng hái hỏi nốt nhà báo cho đủ bộ tam. Nhà báo đi còn ác liệt hơn nhà văn và giao thiệp rộng, sao lại không hỏi thử nhỉ ? Đã mất công đi xuống tận đây thì lẽ nào lại đi về tay không ? Tôi tìm số anh nhà báo quê miền Tây. Sau hồi chuông thứ nhất, anh bắt máy liền. Vừa nghe câu hỏi của tôi xong, anh đáp lại bằng một tràng cười sặc sụa. Có vẻ như chuyện tôi đang làm buồn cười lắm. Khi không lại đi tìm mộ một người không phải họ hàng thân thích, chưa một lần gặp mặt, chỉ biết qua những trang sách. Thật điên rồ ! Cuối cùng, anh cũng nín được cười để trả lời tôi một cách rõ ràng và mạch lạc rằng không biết.
Ngoài kia mưa vẫn rơi, gió vẫn thổi, và tôi ngồi đây, lục tìm trong danh bạ số điện thoại của một người quen ở Đồng Tháp, bất chợt bàn phím ngừng ở số tổng đài 19001080. Tại sao lại không gọi nhỉ ? Tổng đài là nơi giải đáp mọi thắc mắc từ quan trọng đến tầm phào mà. Hơn nữa, nơi ấy đâu chỉ có một cái đầu. Tôi bấm số tổng đài. Tiếng tút tút dài đằng đẵng kết thúc bằng giọng nhẹ nhàng của cô nhân viên. Nhưng nghe yêu cầu của tôi xong, giọng cô có vẻ khác. Tôi nghĩ rằng cô đã phải nhịn cười. Cô nói tôi chờ máy để cô tra cứu thông tin. Một phút. Ba phút. Năm phút trôi qua. Đến phút thứ sáu, cô nói rằng tổng đài của cô chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm. Tôi có thể thông cảm và hiểu cho yêu cầu kỳ quặc này, nhưng sẽ thật là có lỗi với người đã khuất khi ông mất đến nay là tròn 25 năm. 25 năm mà chưa cập nhật thì bao giờ mới cập nhật đây?

ng-hien-le-8

Chị Dương thấy tôi cầu cứu hết mọi nơi mà không kết quả gì cũng ái ngại giùm tôi.
– Em tính đi đâu bây giờ ?
– Em cũng không biết nữa. Tôi nghĩ đến đoạn đường về.
– Em có muốn về nhà chị ăn cơm không ?
Có người nhắc, tự dưng cái bụng tôi đâm ra dở chứng. Tôi biết người miền Tây rất hiếu khách nhưng không ngờ hôm nay lại được mục kích sự hào sảng ấy. Cớ gì lại từ chối lòng tốt của một người như chị nhỉ?
– Em không làm phiền chị chứ?
– Phiền gì đâu. Về cho biết nhà. Sau này có xuống Lai Vung thì ghé nhà chị chơi.
Trời đã tạnh. Cơn mưa ban trưa như gột rửa cái nóng mùa hè, để lại những vũng nước loang loáng trên đường. Chị chạy xe đi trước, tôi rà rà theo sau. Mái tóc chị bay bay trong gió làm tôi nhẹ lòng. Nếu chuyến đi này không tìm được mộ ông Lê thì ít nhất, tôi cũng có thêm được một người chị dễ thương. Tóm lại là không lỗ.
Từ phòng Văn hóa Thông tin đi chừng 2 km nữa là tới nhà chị. Ngôi nhà lá nằm im ắng bên đường quốc lộ. Cả nhà đang xem ti vi nên không ai chú ý đến tôi. Mọi người chỉ lao xao về tôi khi nghe tôi hỏi mộ ông.

 ng-hien-le-7

Nguyễn Hiến Lê. Ba má chị là người sống gần hết một đời ở đây cũng không biết mộ ông ở đâu. Thấy vậy, tôi không hỏi thêm ai nữa. Tôi còn nhớ lời tựa của ông Nguyễn Hiến Lê mở đầu cho cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục có đoạn như sau : “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không ? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích cùng dật sự về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau.
Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao. Có như vậy các người cầm bút mới có tài liệu để soạn sách, còn như bây giờ thì một nhà văn Việt viết tiểu sử Tản Đà còn khó hơn viết tiểu sử của Molier, của Shakespeare, của Tolstoi. Thực là ngược đời nhưng rất dễ hiểu. Vì tra cứu ở đâu bây giờ để viết về đời sống của Tản Đà ?” Thật không ngờ, điều ông luôn canh cánh trong lòng đến khi mất lại vận vào chính đời ông.
Tôi đi tìm nơi an nghỉ của ông chỉ vì lòng kính trọng. Theo tôi, ông là một trí thức thứ thiệt lúc nào cũng trăn trở vun vén cho văn hóa nước nhà. Ông đã góp vào nền văn hóa Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ gấp bốn lần thời gian ông làm việc. Nhưng quan trọng hơn, đó là nhân cách sống của ông: giản dị và tự trọng. Một con người như thế rất đáng để tôi đi tìm và thắp một nén nhang chứ.
Có điều, tôi vô duyên, không tìm được mộ ông dù biết là ông chỉ nằm đâu đó quanh đây. Tôi biết ông qua một người thầy đáng kính. Đúng rồi, người thầy của tôi. Sao tôi không nghĩ ra nhỉ ? Tôi cuống quýt gọi điện, thầy cười nói đi mà không rủ, ra nông nỗi này ráng chịu. Thì thầy cũng chưa tới mà, xem như chuyến này em đi dò đường trước, lần sau dẫn thầy đi mới ngon lành chứ. Thầy cười ha hả bảo được, rồi nhắn cho tôi địa chỉ mộ ông.
Tôi hí hửng chạy lại khoe với chị Dương cái tin : “Mo Nguyen Hien Le o chua Phuoc An – gan nga tu Cai Buong, Vinh Thanh, Lai Vung”. Cả nhà chị xúm xít quanh tôi khi nghe nói tôi đã tìm ra nơi an nghỉ của ông. Tôi sung sướng đọc to rồi hồ hởi hỏi đường đi đến đó, nhưng lạ thay, tôi đọc xong mà chẳng ai hiểu đó là đâu. Cuối cùng, ba chị Dương đoán một hồi mới rõ đó là ngã tư Cai Bường, thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò chứ không phải Lai Vung. Té ra, cả cuốn sách tôi đọc lẫn tin nhắn của thầy đều sai tên huyện. Ba chị Dương dặn:

ng-hien-le-6

 Từ Lai Vung con đi thêm khoảng 10km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết.
Từ biệt ngôi nhà thân thiện, tôi tiếp tục cuộc khám phá. Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa khấp khởi. Tôi thấy con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Đường mưa vắng tanh không một bóng người. Tịnh như chốn này chỉ có mình tôi và linh hồn ai đó đang luẩn khuất trong mưa, hí hửng và reo vui.
Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át chào đón tôi. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1km đường đất nữa là tới chùa Phước Ân. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Người thiên cổ về chốn điền viên này nằm, sáng nghe tiếng chuông chùa, chiều nghe tiếng sóng vỗ, làm tôi cũng phát ham.
Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm lẫn thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Đang khi tôi không biết hỏi ai thì có một bà cụ đi ra. Bà mặc áo nâu sòng, mái tóc đã hoa râm. Tay bà cầm cỗ tràng hạt đang lẩm bẩm tụng kinh. Nghe tôi hỏi mộ ông, bà nói:

Tr cau hoi 2

– Ông Lê viết sách chứ gì?
– Vâng ạ.
Nhìn tay chân tôi tím tái, bà lặng lẽ mời vào phòng khách. Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có bà con thân thích gì với ông ấy không ? Sao lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió như thế này ? Làm thế nào mà biết ông nằm ở đây ? Tôi ngồi hầu chuyện bà cụ một hồi đủ để giải thích cho bà hiểu tôi chẳng là gì của ông cả và đi tìm mộ ông chỉ để thắp một nén nhang vì lòng mộ mến thôi.
Nghe xong bà cười, rồi bà kể tôi nghe chuyện cách đây khoảng một tháng, cũng có cậu sinh viên đến viếng mộ ông ấy. Cậu ta còn mua trái cây, đèn nhang cho ông ấy nữa. Bà chưa đọc sách ông nên hỏi ông ấy viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn còn có người nhớ đến.
Tôi trả lời ông ấy không những viết hay mà còn rất hữu ích nữa. Nghe thế, bà dẫn tôi vào chánh điện, nơi khung ảnh ông Nguyễn Hiến Lê được treo bên cạnh người vợ thứ hai của ông, bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi ông mất, bà Liệp xuất giá đi tu và trước khi bà mất, bà nói con cháu hãy đem ông bà về đây an nghỉ. Phía sau lớp kính mờ ảo, nụ cười ông vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần đời.
–  Đi theo bà, bà dẫn cháu ra mộ ông ấy.
Bên trái chùa có một khoảng đất rộng dành cho những người đã qua đời an nghỉ. Ngôi mộ ông Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong số khoảng 20 ngôi mộ khác. Không có gì đặc biệt cho thấy đó là ngôi mộ của một con người lỗi lạc. Nó nhỏ nhắn và giản dị như chính cuộc đời ông. Cạnh mộ, hoa đổ nhang tàn.
Tôi cắm vào lư hương nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay. Cay cay khóe mắt. (theo Trần Thị Trung Thu)

Ng Hien Le 3

Những năm cuối đời
Năm 1980 ông Nguyễn Hiến Lê về lại Long Xuyên. Cùng năm ông bắt đầu viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đến tháng 9 năm 1980 thì hoàn thành. Đồng thời ông tách những đoạn nói về văn nghiệp ra riêng, sửa chữa, bổ sung và biên tập lại thành cuốn sách Đời viết văn của tôi. Tác phẩm này được sửa chữa xong vào năm 1981, sau đó sửa chữa thêm và hoàn chỉnh vào năm 1983.
Ông lâm bệnh và mất lúc 8 giờ 50 phút ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Bệnh viện An Bình, Chợ Lớn, hưởng thọ 73 tuổi. Linh cữu của ông được hỏa thiêu vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 tại đài thiêu Thủ Đức. Việc hỏa táng và làm tang lễ, ma chay đơn giản là ý nguyện của Nguyễn Hiến Lê lúc sinh thời.
Sau khi hỏa thiêu,di cốt của ông được đem về chôn cất trong khuôn viên nhà bà Nguyễn Thị Liệp (người vợ thứ hai của ông) ở thành phố Long Xuyên. Năm Kỷ Mão (1999), bà Liệp tạ thế và được an táng trong khuôn viên chùa Phước Ân ở Rạch Cai Bường (thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), thì tro cốt của ông cũng được đặt bên trên phần mộ của bà.
Ðôi nét về cụ Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông được biết đến như một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục.
Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau đó làm việc tại miền ​Nam. Sau thời điểm  tháng Tám năm 1945, ông đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.
Nguyễn Hiến Lê đã dành trọn phần đời còn lại của mình để miệt mài viết sách. Ông có khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn, dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dụcvăn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…


,9 SG Vien Chau 3

Ông làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày, gồm sáu tiếng đọc tài liệu và hơn sáu tiếng để viết. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt thời gian biểu này, ông đã hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên trẻ. (theo Wikipedia)

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy?

Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy?

Thứ Bảy, ngày 31/10/2015
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy?
(PLO) - Ngày 23-5, sau bài phát biểu quan trọng tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Ban Ki Moon đã đến thăm, thắp hương ở nhà thờ họ Phan Huy xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
Ngày 30-10, trên Facebook lưu truyền thông tin cho rằng Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon có mối quan hệ dòng họ ở Việt Nam. Một số hình ảnh được đưa ra gồm ảnh ông Ban đến thăm, viết lưu bút tại nhà thờ dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
Để tìm hiểu thông tin này, phóng viên Pháp Luật TP.HCMđã đến nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn để tìm hiểu. Tiếp phóng viên, ông Phan Huy Thanh, người trông coi nhà thờ dòng họ Phan Huy, cho biết ông có mặt trong lễ tiếp đón ông Ban Ki-moon, lúc hơn 16 giờ ngày 23-5-2015.
Ông Thanh kể lại: Lúc đó người trong họ đã ra một hiệu ảnh trong xã để nhờ chụp ảnh. PV đã liên hệ với hiệu ảnh và có đươc chùm ảnh này. Chùm ảnh do chị Thủy, nhân viên hiệu ảnh chụp trong sự kiện chiều hôm đó. 
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 1
Ông Phan Huy Thanh, người trông coi nhà thờ dòng họ Phan Huy cho biết ông có mặt trong lễ tiếp đón ông Ban Ki-moon, lúc hơn 16 giờ ngày 23-5-2015. 
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 2
Đoàn vào nhà thờ họ
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 3
 Ông Ban Ki Moon dừng lại trước cổng ngắm nhìn hàng chữ Hán được viết trên cổng vào nhà thờ.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 4
 Ông Ban Ki Moon trò chuyện với  ông Phan Huy Huân, trưởng họ Phan Huy ở Sài Sơn.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 5
Ông Ban Ki Moon thắp hương lên bàn thờ họ Phan Huy.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 6
Và thành kính trước ban thờ dòng họ Phan Huy...
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 7
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 8
 Ông Ban Ki Moon đang xem gia phả của dòng họ Phan Huy.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 9
Ông Ban Ki Moon xem Thứ thế đồ, danh sách dòng tộc họ Phan Huy. 
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 10
Tại đây, ông ngồi viết lại những dòng lưu bút.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 11
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 12
Bản lưu bút được cho là của ông Ban Ki Moon viết tại nhà thờ họ Phan Huy.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 13
      Ông Ban Ki Moon đi tham quan xung quanh nhà thờ, thấy một cháu nhỏ, ông với tay qua tường và bồng cháu bé.  
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 14
Đại diện dòng họ Phan Huy tặng sách viết về dòng họ cho ông Ban Ki Moon.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 15
Ông Ban Ki Moon cũng dành thời gian chụp lảnh lưu niệm với đại diện dòng họ Phan Huy.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 16
Ông Ban Ki Moon chào mọi người trong dòng họ Phan Huy ra về. Chuyến thăm nhà thờ kết thúc sau khoảng 30 phút.
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 17
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 18
 Ông Phan Huy Thanh tại nhà thờ họ,
Chùm ảnh độc quyền: Ông Ban Ki - Moon làm gì tại nhà thờ họ Phan Huy? - ảnh 19
 Nhà thờ họ Phan Huy được công nhận Di tích lịch sử cấp quốc gia.
http://plo.vn/thoi-su/chum-anh-doc-quyen-ong-ban-ki-moon-lam-gi-tai-nha-tho-ho-phan-huy-588267.html
HUY HÀ - VIẾT LONG -CTV

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

CHÙM ẢNH] Bí mật 3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh ở Sài Gòn và Bình Định

CHÙM ẢNH] Bí mật 3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh ở Sài Gòn và Bình Định

(TNO) Võ Tánh (danh tướng theo phò Nguyễn Ánh) có đến 3 ngôi mộ, trong đó một cái nằm ở Bình Định và hai cái ở TP.HCM. Theo tục lệ dân gian, khi một người chết mất xác hoặc vì lý do nào đó mà người ta phải tạo mộ giả (mộ gió) để hương khói, thờ cúng là chuyện bình thường. Nhưng một vị tướng mà có đến 3 ngôi mộ thì quả là chuyện hiếm.

3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 1Sau khi tuẫn tiết vào năm 1801, Võ Tánh được chôn cất trong nội cung thành Hoàng Đế, ngày nay thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, Bình Định. Ngôi mộ hình tròn trên có đắp biểu tượng một con dơi, không có bình phong tiền nhưng có bình phong hậu, bên mộ có 2 con nghê đá ngồi chầu
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 2Trong ảnh là toàn cảnh ngôi “mộ gió” của Võ Tánh do Nguyễn Ánh cho xây dựng tại Gia Định cũng trong năm 1801 (hiện nằm ở hẻm 19 đường Hồ Văn Huê, quận Phú Nhuận, TP.HCM)
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 3Mặt trước bức bình phong tiền vẽ hình con hổ
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 4Mặt sau vẽ hình “Long mã hà đồ” - trên lưng con long mã có cột thanh gươm trên chồng binh thư, quanh mình long mã là những đốm lửa tượng trưng cho người có tài thao lược, nhưng phải tự thiêu để tỏ khí tiết
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 5
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 6Cổng mộ, hương án, mộ phần và bình phong hậu. Trên bình phong vẽ hình “vân hạc” ngụ ý Võ tướng công đã cưỡi hạc về trời…
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 8Đền thờ Võ Tánh ở phía trước ngôi mộ
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 7
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 9Bên trong đền thờ, bài vị Võ Tánh được đặt thờ trên chánh điện
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 10
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 11 Ở nhà võ ca trước đền thờ, Phòng Thông tin Văn hóa quận Phú Nhuận có cho phép một nhóm họa sĩ sơn mài mượn làm xưởng vẽ. Thời gian rảnh rỗi, nhóm họa sĩ này đã vẽ lại, trang trí những bức bình phong, ô hộc trong khu lăng mộ. Các họa sĩ Nguyễn Minh, Văn Chiến (trong ảnh trên) kể rằng hồi ấy họ vừa vẽ xong 2 bức bình phong lớn và 6 ô hộc nhỏ quanh lăng mộ thì có một ngôi trường trong vùng đến đặt họ vẽ trang trí trong trường, cũng đúng số lượng tranh họ vừa vẽ ở lăng Võ Tánh (2 bức lớn, 6 bức nhỏ)
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 12Còn trong ảnh này là mộ “ông Võ Tánh” trên đường Nguyễn Thái Bình (quận Tân Bình, TP.HCM). Ngôi mộ này có chiều dài khoảng 10 m, rộng chừng 7 m
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 13
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 14Cận cảnh mặt trước ngôi mộ
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 15Hai bia đá khắc chữ Hán của người dân quanh vùng đem đến “tạm trú” bên trái mặt tiền phần mộ, có đặt bát nhang và tượng Thần Tài, Ông Địa
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 16Ngôi mộ có mái trũng bám đầy rêu xanh, xung quanh có tường thành bao quanh, bốn góc mộ có xây trụ cột
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 17 Một đoạn bờ thành phía sau mộ bị xô lệch, nứt nẻ. Bên trái là phù điêu “hoa điểu” chỉ còn lại vài họa tiết
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 18Phù điêu bình hoa và tượng một con thú ở góc bờ thành
3 ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh 19Chị Tâm - người đặt bàn máy may dưới cây đa trước mộ hằng ngày vẫn quét tước, nhang khói vì “ông rất linh” cho chị luôn đắt hàng kể từ khi ra đây ngồi (đã được 4 - 5 năm). Tôi hỏi chị Tâm: “Mộ này chôn mấy người, chị?”. Chị đáp: “Ba người, hổng thấy 3 ô bia đó sao?”. Tôi hỏi: “Nếu như mộ ông Võ Tánh ở đây là “mộ gió” thì 2 người được chôn theo là ai?”, nhưng chưa có câu trả lời...
Hà Đình Nguyên