Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

Đà Nẵng khánh thành cầu vượt 3 tầng lớn nhất Đông Nam Á

(ĐSPL) -Sáng nay 29/3, hàng nghìn người Đà Nẵng chứng kiến lễ khánh cầu vượt 3 tầng lớn nhất Đông Nam Á, đây là công trình trọng điểm chào mừng 40 năm giải phóng Đà Nẵng.
Dự án nút giao thông khác mức Ngã ba Huế là nút giao lập thể hình xuyến hoàn chỉnh, kết hợpcầu vượt 3 tầng (tầng mặt đất cho các nhánh rẽ đường bộ không giao với đường sắt. Với thiết kế tầng mặt đất cho các nhánh rẽ đường bộ không giao với đường sắt.
Cầu vượt tầng 1 là vòng xuyến trên cao với 4 làn xe chạy, chiều rộng 15m, các nhánh rẽ rộng 16m. Cầu vượt tầng 2 dành cho hướng ưu tiên từ tỉnh Thừa Thiên - Huế vào trung tâm TP Đà Nẵng và ngược lại với 4 làn xe chạy, có bề rộng 17m.
Đà Nẵng khánh thành cầu vượt 3 tầng lớn nhất Đông Nam Á - Ảnh 1

Một góc Cầu vượt ngã ba Huế - Đà Nẵng. Ảnh: Báo Quảng Nam

Dự án được khởi công vào 28/09/2013, với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 hơn 1.700 tỷ đồng theo hình thức B-T (xây dựng - chuyển giao). Theo kế hoạch, công trình được hoàn thành trong vòng 18 tháng và khánh thành đúng dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975 - 29/3/2015).
Nút giao thông này nằm ở phía tây bắc Đà Nẵng, trên địa phận quận Thanh Khê, Cẩm Lệ và Liên Chiểu. Đây là ngã ba giao cắt giữa quốc lộ 1A với đường Điện Biên Phủ (trục chính đi vào trung tâm) và tuyến đường sắt bắc - nam.
Điểm nhấn kiến trúc của dự án này là tháp cầu dây văng parabol có hai mặt phẳng dây nằm giữa vòng xuyến tròn. Tháp cầu vượt 2 tầng có hình Parapol với những sợi dây văng được sắp xếp theo mặt cong như những cánh tay uốn lượn mang bóng dáng một vũ điệu của thần Siva.
Cầu vượt ngã ba Huế tương đương quy mô và khối lượng của cầu Trần Thị Lý, cầu Rồng (cộng lại), nhưng các đơn vị thi công chỉ làm bằng một nửa thời gian thi công hai cầu nói trên.

Video: Cận cảnh cầu vượt 3 tầng đầu tiên ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Tâm Tiến - Tổng Giám đốc tập đoàn Trung Nam - cho biết đây là công trình đạt kỷ lục về tốc độ giải phóng mặt bằng, đợt I là 100% số hộ dân bàn giao đất. Để hoàn thành đúng tiến độ, đơn vị đã huy động hơn 1.000 kỹ sư, công nhân thi công liên tục 3 ca/ngày.
Các hạng mục công trình đã đạt được tiến độ như dự kiến. 100% số cọc khoan nhồi đã được thực hiện (324/324 cọc), 51/51 mố/trụ, 42/42 nhịp, đường dẫn cầu hoàn thành 95%, đã thực hiện được 56.500 m3/58.000 m3 tương ứng 97% diện tích ghi trong hợp đồng.
Sau khi đưa vào sử dụng, công trình góp phần giảm thiểu tình trạng ùn tắc, tai nạn giao thông tại khu vực. Đây còn là một công trình kiến trúc đẹp, đặt tại vị trí cửa ngõ phía bắc, biểu tượng cho TP. Đà Nẵng phát triển năng động, sáng tạo và nhân văn.
MAI NGUYÊN (Tổng hợp)
Xem thêm video:

Vì sao người dân bức xúc với đề án thay thế cây xanh đô thị?

Những ngày qua, chuyện Hà Nội chặt bỏ hàng loạt cây để thay thế cây đô thị đúng chủng loại đã gây bức xúc trong dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng, việc thiếu thông tin, đánh giá tác động môi trường có thể gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân…
Cây xanh phát triển luôn gắn với đất đai, khí hậu, không gian sống… Song hiện nay, cây xanh được trồng trên đường phố chưa được quan tâm đúng mức, gây xung đột môi trường sống với hạ tầng kỹ thuật đô thị. Khi Hà Nội chủ trương chặt bỏ 6.700 cây không đúng chủng loại để thay thế cây đô thị, điều này ngay lập tức đã làm "nóng" dư luận. Bởi nếu thực hiện, đây sẽ là cuộc “cách mạng xanh” quy mô lớn đầu tiên được triển khai ở Hà Nội. Tuy nhiên, nếu cùng một lúc loại bỏ một số lượng cây xanh lớn như vậy, lý do đưa ra chỉ vì “cây không đúng chủng loại” thì chưa thuyết phục.

Anh Hoàng Văn Hùng (Nguyễn Trãi, Thanh Xuân) cho biết: “Trồng một cây xanh phải mất ít nhất hàng chục năm mới cho bóng mát. Nếu thay thế một loạt, thì đồng nghĩa với việc những năm sắp tới, Hà Nội sẽ thiếu bóng cây xanh. Mùa hè sắp đến, thành phố vốn đã ngột ngạt bởi nắng nóng, khói bụi, ô nhiễm… nay còn thiếu cây xanh thì không biết sẽ như thế nào. Đành rằng thành phố chủ trương loại bỏ cây sâu mục, cong queo, nguy hiểm để bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão nhưng nên thay thế dần dần, xen kẽ giữa các cây. Hơn nữa, tại sao thành phố lại chặt bỏ hàng loạt cây đang xanh tốt để trồng mới các loại cây khác mà chưa có sự tham khảo ý kiến của người dân?”, anh nói.

Đề án cải tạo, thay thế cây xanh đô thị hai bên đường phố giai đoạn 2014-2015 đã được UBND thành phố Hà Nội thông qua theo Quyết định 6816/QĐ-UBND ngày 11-11-2013. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều người dân vẫn không hiểu chuyện gì xảy ra khiến nhiều cây bị đốn hạ đồng loạt, trong khi có không ít cây nếu quan sát bằng mắt thường bên ngoài thì không thấy dấu hiệu sâu mọt, bệnh tật. Nhiều gốc cây còn lại trên đường cho thấy đây là những cây còn khỏe mạnh.

Về vấn đề này, lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, cây xanh đô thị hiện có khoảng 70 loài, trong đó có các cây trồng từ thời Pháp thuộc và sau ngày giải phóng Thủ đô, đến nay đã xuất hiện dấu hiệu sâu mục ở thân, gốc, rễ bị hỏng nên rất nguy hiểm, nhất là loại cây xà cừ. Hơn nữa, nhiều cây cong nghiêng, phát triển không đều như phượng, cơm nguội, quếch, bàng, trứng cá, long não… không đạt chuẩn cây đô thị. 

Việc thay thế cây xanh trong thành phố cần có lộ trình rõ ràng cùng sự tham gia của toàn thể xã hội.

Đặc biệt, nhiều tuyến phố tồn tại loại cây lâm nghiệp, chẳng hạn cây keo trên tuyến đường Nguyễn Trãi, Nguyễn Chí Thanh. Do là cây lâm nghiệp nên tuổi thọ của cây ngắn, cành giòn dễ gẫy, nguy hiểm cho người đi đường. Ngoài ra, một số cây do người dân tự trồng trên một số tuyến phố chưa phù hợp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, phát triển chậm, cong xấu làm mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng chất lượng hệ thống cây xanh trong thành phố… cũng cần phải loại bỏ.
Hiện nay, hệ thống cây xanh ở Hà Nội chưa đồng nhất do nhiều yếu tố khách quan. Ngày trước, khi kinh tế đất nước còn khó khăn, thành phố chưa tính toán, nghiên cứu trồng cây gì một cách bài bản. Ngày nay, quá trình đô thị hóa phát triển, thành phố chú trọng chỉnh trang đô thị, thay dần những loại cây không chuẩn bằng các loại cây đạt chuẩn, sao cho phù hợp Quy hoạch hệ thống công viên cây xanh thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050, từng bước xây dựng thành phố đạt tiêu chí đô thị văn minh, xanh, sạch, đẹp. 
Chủ trương, chính sách cải tạo thay thế cây xanh là hợp lý, đô thị nào cũng cần như thế. Tuy vậy, trong quá trình triển khai do công tác thông tin không kịp thời, đầy đủ, các đơn vị thực hiện đã hạ chuyển và thay thế hàng loạt cây trên một số tuyến phố, dẫn tới dư luận bức xúc.
Sau khi kiểm tra tình hình, lắng nghe ý kiến công luận, UBND thành phố đã yêu cầu Sở Xây dựng, UBND các quận và các đơn vị dừng việc thay thế, hạ chuyển cây xanh hiện nay để rà soát việc thay thế cây xanh, bảo đảm đúng quy hoạch và yêu cầu quản lý, phát triển đô thị. Trước khi triển khai, Sở Xây dựng phối hợp chính quyền địa phương, cơ quan thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Rút kinh nghiệm, Sở Xây dựng thay đổi phương thức thực hiện, gắn biển công khai cây cần thay thế, thay bằng chủng loại cây gì, thời gian thực hiện… để người dân giám sát. 
Nhiều người hy vọng, thời gian tới, thành phố Hà Nội sẽ có cách làm khoa học, điều chỉnh sao cho phù hợp để Thủ đô ngày một văn minh, sạch, đẹp.
Hợp tác cùng Thời Nay

Tạo dựng đồng thuận xã hội bằng tinh thần Diên Hồng

Ở bất cứ đâu, bất cứ lĩnh vực nào, chỉ cần có từ hai người trở lên, đã cần đến sự đồng thuận. Ngay một gia đình, là tế bào nhỏ nhất của xã hội cũng không thể thiếu sự đồng thuận này.
Các cụ bảo: “Thuận vợ thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn”. Ghê chưa? Đến cả Biển Đông mênh mông vĩ đại như thế, nếu vợ chồng có được sự đồng tâm nhất trí thì nó cũng chỉ bé tẻo teo như một vũng trâu đầm. Đối với xã hội, một cộng đồng rộng lớn, mỗi người một ý, sự đồng thuận lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Vì thế, khi sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến khối đoàn kết toàn dân. Người thường bắt nhịp bài hát “Kết đoàn”. Trước khi từ giã chúng ta, Người cũng lại dặn chúng ta phải giữ gìn sự đoàn kết “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Người còn nói: “Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết - Thành công, Thành công, Đại thành công”. Đây là câu nói rất hay, rất nổi tiếng của Người. Thoạt đầu, ta tưởng Người nhấn mạnh yếu tố “đoàn kết”, như một phép tu từ. Nhưng không. Người dặn chúng ta rất cụ thể. Ba lần Người nhắc đến Đoàn kết, là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Thiếu một trong ba yếu tố này, đất nước đều rất khó có được sự bình yên.
 Sức mạnh của sự đồng thuận (Ảnh minh họa: Internet)
Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta thấy cha ông chúng ta rất tài trong nghệ thuật ứng xử với dân để có được sự đồng thuận của toàn xã hội. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống Nguyên Mông, lúc ấy thế giặc lại rất mạnh. Chúng đã đã làm chủ được hầu hết các nước mà chúng xâm chiếm. Giờ chúng lại muốn nuốt nốt dải đất này. Vua Trần mở hội nghị Diên Hồng để nghe ý dân. Câu hỏi Vua đưa ra là “Hàng” hay “Đánh”. Các bô lão, những trí tuệ đại diện cho dân đều ủng hộ Vua đánh. Một vị tướng tài còn nói: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chặt đầu tôi đi đã!”.
Và thế là dưới ngọn cờ nghĩa của Vua, toàn dân đã đứng dậy đánh bại quân Nguyên Mông. Không phải thắng một lần mà những ba lần. Lúc ấy, nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí lại rất thô sơ. Không có Liên Xô, Trung Quốc và cả hệ thống Xã hội chủ nghĩa, cũng không có sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế như chúng ta sau này, lúc ấy hoàn toàn đơn thương độc mã, vua chỉ có dựa vào dân thôi mà đã ba lần chiến thắng kẻ thù hùng mạnh nhất, tàn bạo nhất của cả loài người.
Một điều kỳ diệu nữa trong phép ứng xử của Vua Trần, là sau khi chiến thắng Nguyên Mông, quan quân có đệ trình lên Vua một hòm tài liệu của một số viên chức chính quyền đã liên lạc với giặc. Nhưng Vua Trần Thánh Tông đã đem hòm tài liệu đó đốt trước mặt bá quan để yên tâm trăm họ, bởi chúng ta đã giành được độc lập, đẩy lui được quân thù thì việc cần nhất bây giờ là đoàn kết quốc gia để xây dựng lại đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các học trò xuất sắc của Người sau này cũng tiếp nhận được bài học của ông cha để dựng nước, giữ nước và đưa đất nước đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Muốn được dân tin yêu, đồng thuận thì cán bộ phải tin dân, nghe dân, sát cánh đồng cam cộng khổ cùng dân, và đặc biệt, cần đàng hoàng minh bạch trước dân. Phải để dân biết thì dân mới đồng thuận và ủng hộ được. Khi dân đã lên tiếng góp ý hoặc phản đối thì cần phải xem lại chính mình, chứ đừng vội quy chụp cho dân là phản động hay bị địch kích động.
Dân mình rất tốt. Họ từng lấy tính mạng mình bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính quyền trong những năm gian nan nhất, tăm tối nhất của lịch sử đất nước. Hàng vạn con em họ còn nằm ở dưới đất kia mà đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Không ai quay lưng lại, phản bội lại những giọt máu thiêng của cha ông mình, con em mình. Nghe dân, tin dân, hết lòng vì dân thì sẽ có được sự đồng thuận của toàn xã hội.
Ta hãy vào mạng nghe cuộc nói chuyện của Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh trong suốt bốn tiếng đồng hồ với cán bộ, nhân dân Đà Nẵng, lại truyền hình trực tiếp cho toàn dân biết. Nguyễn Bá Thanh là một cán bộ sâu sát. Ông quán xuyến rất cụ thể, từ việc đặt các thùng rác thế nào cho đến các Sở, ban, ngành đã làm được cái gì, cái gì phải chấn chỉnh ngay.
Ông Nguyễn Bá Thanh chúc Tết người nghèo Đà Nẵng (Ảnh: Thanh Hà)
Ông công khai cho người dân số điện thoại di động của mình để nếu thấy có gì không ổn, bức xúc thì thông báo cho ông biết để xử lý ngay. Nhờ thế, ông xây dựng được Đà Nẵng thành một thành phố nề nếp và quy củ nhất nước. Đà Nẵng cũng là một thành phố đáng sống nhất trong khu vực. Đó là đánh giá của bạn bè Quốc tế. Ở đây còn có một bệnh viện ung thư điều trị miễn phí cho người nghèo. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà không ít người dân đã gọi Đà Nẵng là thành phố Nguyễn Bá Thanh.
Gần đây, bà Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng đã lập facebook để nghe tiếng nói của dân về ngành mình phụ trách. Bà còn trực tiếp xin việc cho con một liệt sĩ đã hy sinh trên đảo Gạc Ma vào làm việc trong ngành của mình ở một bệnh viên ngay trên chính quê hương của cô. Nhiều người dân đã ứa nước mắt trước nghĩa cử cao đẹp của bà.
Các chiến sĩ giữa chốn tiền tiêu hay nơi đầu sóng ngọn gió cũng rất yên lòng. Họ lại sẵn sàng hy sinh, vì biết vợ con mình sẽ được hậu phương thương yêu đùm bọc mà không bị đói rét bần hàn. Với lối ứng xử như thế, làm sao không tạo được sự đồng thuận của xã hội.
Tất nhiên, không phải ai cũng làm được như Nguyễn Bá Thanh hay Nguyễn Thị Kim Tiến. Bởi Bộ Y tế chỉ là một ngành và Đà Nẵng cũng là một địa bàn nhỏ gọn, dễ bao quát. Nhiều địa phương khác cũng thế. Nhưng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thì phức tạp hơn nhiều. Với địa bàn có dân số trên dưới mười triệu, nếu công khai số điện thoại, thì điện thoại sẽ bị tắc nghẽn ngay và cán bộ cũng sẽ chẳng làm được việc gì, ngoài việc ngồi…nghe điện thoại. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà không thể thiết lập được truyền thông với dân.
Tôi nghĩ, chúng ta nên tạo một đường dây nóng, để nếu có chuyện oan khuất, những nỗi bức xúc, hay những việc khuất tất của cán bộ cơ sở, người dân đều có thể báo ngay với cán bộ trực tiếp hoặc những người có trách nhiệm cao nhất chỉ bằng một cú “nhấp chuột”, mà không cần phải cơm nắm, khăn đùm, ăn bờ ngủ bụi, lôi thôi, lếch thếch kéo nhau đến “Phòng Tiếp dân”, ngồi chầu chực trước nhà Lãnh đạo, hoặc cờ quạt, biểu ngữ đi biểu tình, trông rất nhếch nhác. Vừa khổ cho bà con, vừa khổ cho anh em công an phải giải thích, thuyết phục, hay có khi phải trấn áp những kẻ gây gổ. Rồi việc nọ nọ việc kia. Thật chẳng ra làm sao cả!
Trong khi đó, chúng ta chỉ cần một tổ giúp việc lãnh đạo, tiếp nhận tất cả mọi thông tin từ dân rồi xử lý ngay, không để tồn đọng thành nỗi bức xúc trong dân. Những việc của cơ sở thì giao cơ sở phải giải quyết nghiêm túc, dứt điểm với sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng cấp trên.
Nếu cán bộ cơ sở mà không giải quyết được dứt điểm những vụ việc của địa bàn mình, để người dân phải khiếu kiện vượt cấp, thì cán bộ đó có nên tồn tại nữa hay không? Nếu có đường dây nóng như thế, lại được xử lý nghiêm túc như thế, tôi tin mọi nỗi bức xúc của dân sẽ được giải tỏa, mà cán bộ cũng sẽ không dám nhũng nhiễu dân, không dám làm những việc khuất tất.
Đời sống xã hội sẽ trở nên trong lành. Chúng ta đã từng có một thời như thế. Thời ấy còn mù mịt bom đạn, đất nước với muôn vàn khó khăn mà chúng ta còn làm được. Bây giờ, đất nước đã yên hàn rồi, đời sống nhân dân cũng đã được cải thiện rất nhiều. Chả lẽ chúng ta lại không làm được hay sao?./.
Trần Đăng Khoa/VOV

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

KHOA CỬ NGÀY XƯA


NHÂN MÙA THI
NÓI CHUYỆN THI CỬ

          Đã có học, tất phải có thi. Đó là lẽ tự nhiên, bởi “thi”, suy cho cùng là để “kiểm tra” những cái đã học. Trên thế giới, trong các hệ thống giáo dục, cấp học nào cũng có những kỳ kiểm tra để đánh giá mức độ lĩnh hội của người học như vậy. Tuy nhiên, sự học nói chung, trong đó nội dung học tập và phương pháp giảng dạy, cũng như tổ chức thi cử, mỗi thời đại, mỗi nền giáo dục đều nhắm tới một mục tiêu riêng. Và trong chiều hướng tiến bộ của nhân loại nói chung, của các nền giáo dục nói riêng, thông qua những cải cách, việc học tập và thi cử ngày càng được hầu hết các quốc gia đổi mới, điều chỉnh cho phù hợp.

THI CỬ NGÀY XƯA
THỜI NHO HỌC PHONG KIẾN



          -Về tổ chức thi cử:
          Ở nước ta, từ xưa, dưới chế độ phong kiến, nhà nước cũng đã thường xuyên tổ chức các khoa thi,  mục đích là để chọn nhân tài ra giúp việc nước. Lịch sử ghi nhận khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm Ất Mão (1075) dưới thời Lý Nhân Tông, cho đến khoa thi cuối cùng vào năm Kỷ Mùi (1919) thời vua Khải Định triều Nguyễn, trải gần 900 năm. Thời đó, trường công thì ít, chỉ ở tỉnh, phủ hay huyện mới có;  còn trường tư thì rải rác khắp các thôn làng – thường do các  thầy  đồ - những Nho sinh thi hỏng,  hoặc đỗ nhưng không muốn ra làm quan,  những người  đã về hưu -  tổ chức dạy cho một nhóm nhỏ học trò, thuộc nhiều lứa tuổi.
          Nhưng thi cử không phải được tổ chức hằng năm như hiện nay, mà thường có kỳ hạn khá dài: 12 năm một lần vào thời Lý, giảm xuống còn 7 năm thời Trần và còn 3 năm từ thời Lê cho tới thời Nguyễn.  Khoa thi thường tổ chức ở tỉnh hoặc liên tỉnh cho mọi lưa tuổi từ trẻ tới già, gọi là thi Hương. Ở khoa thi này, nếu sĩ tử  vượt qua hết bốn giai đoạn  từ dễ đến khó (gọi là 4 trường) sẽ đỗ Cử Nhân (trước năm 1828 gọi là Hương Cống), nếu chỉ vượt qua 3 trường sẽ chỉ được Tú Tài (trước năm 1828 gọi là Sinh Đồ). Người đỗ đầu ở khoa thi Hương  được gọi là Giải Nguyên.
          Chỉ những người đỗ Cử Nhân ở khoa thi Hương mới được tập trung tham dự kỳ thi Hội, là khoa thi ở cấp trung ương, thường là năm sau của kỳ thi Hương. Đây được coi là cuộc kiểm tra, đánh giá cao nhất đối với nhân tài của đất nước, là “nguyên khí của quốc gia”. Do tính chất quan trọng và quyết định của kỳ thi nên thường là do bộ Lễ đứng ra tổ chức. Đỗ khoa thi này được phong là Tiến Sĩ  (trước 1442 gọi là Thái học sinh). Tuy vậy, để xếp hạng cao thấp, các vị Tiến Sĩ này phải qua một “cửa ải” cuối cùng gọi là thi Đình, là kỳ thi tại sân đình nhà vua. Ở đó, nhà vua trực tiếp ra  đề, và sau khi hội đồng giám khảo hoàn tất việc chấm bài, cân nhắc điểm số, chính nhà vua tự tay phê kết quả.
          Tùy theo điểm số, những người đỗ Tiến Sĩ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp: Cao nhất là bậc 1 (Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp) gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa). Kế đó là bậc 2 (Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp)  gọi là Tiến Sĩ Xuất thân hay Hoàng Giáp. Sau cùng là  bậc 3 (Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp) gọi là Đồng Tiến Sĩ xuất thân. Và người đỗ đầu khoa thi Đình  được gọi là Đình Nguyên.

          -Về nội dung đề thi:
          Nói về nội dung đề thi cũng là nói về  nội dung của chương trình dạy và học của các thầy trò thời phong kiến nước ta, nghĩa là lấy Nho học làm nền tảng. Học trò gọi là Nho sinh. Ngay từ nhỏ, ở bậc sơ học, học trò đã phải học các sách Sơ học vấn tân, Tam tự kinh, Tứ tự kinh, Ngũ ngôn, Hiếu kinh,… Lớn lên bắt đầu làm quen với những sách kinh điển của Nho giáo, như Tứ thư  (Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung), sau đó đến Ngũ kinh ( Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu), rồi Bắc sử (sử Tàu) và Nam sử (sử Việt). Ngoài ra còn phải học thêm Đường thi, Tống thi, các áng văn tiêu biểu, danh tiếng trong lịch sử  Việt Nam lẫn Trung Quốc.
          Vì vậy mà nội dung  các bài thi trải qua 4 kỳ thường là:
          -Kỳ 1 : hỏi về về tứ thư, ngũ kinh
          -Kỳ 2 : hỏi về về chiếu, chế , biểu
          -kỲ 3 : làm thơ hoặc phú
          -Kỳ 4 : làm văn (gọi là văn sách)
          Xem như vậy để thấy rằng, nội dung bài vở, tri thức mà các học trò, các Nho sinh  ngày xưa phải học, phải đọc, phải viết (bằng chữ Hán) thật sự là một khối lượng khổng lồ, bao la, đòi hỏi người học phải gian nan vất vả và quyết tâm biết chừng nào mới mong có được một kết quả khả quan ở các kỳ thi. Tuy nhiên cũng từ đó, nhìn kỹ lại ta mới thấy rằng, tất cả những tri thức ấy chỉ nhắm vào một mục tiêu là đào tạo ra những con người trên nền tảng tư tưởng của Nho giáo, là rèn luyện cho con người từng bước “Tu thân, Tề gia, Trị quốc và Bình thiên hạ”. Nói cách khác là “học làm người” để có ích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội và tích cực hơn là đứng ra gánh vác việc nước ở mọi cương vị khác nhau, là “làm quan” để giúp cho triều đình, triều đại.
          Vì vậy, dù khối lượng tri thức có khổng lồ,  nội dung bài vở có bao la, nhưng xét ra vẫn rất hạn hẹp so với “cái học” trong thời đại ngày nay. Nó chỉ có giá trị trong phạm vi “học làm người”, trong “phép xử thế”, tất nhiên là theo quan niệm của Nho giáo. Bởi vậy, “cái học thời xưa” thường bị các nhà canh tân cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 cho là  “cái học từ chương vô bổ”, không thực dụng và cũng không giúp ích gì cho công cuộc canh tân đất nước và chống ngoại xâm.
          Từ đó, trong thi cử,  học thuộc lòng là cách hay nhất để làm được bài, thậm chí viết đúng từng chữ, từng câu. Lẽ tất nhiên ở các kỳ thi về thơ phú và văn sách, thí sinh cũng được yêu cầu có những “suy luận” riêng, nhưng những  “luận điểm” ấy cũng không thể nào nằm ngoài quan điểm của tư tưởng Nho giáo, của các sách đã học, đã đọc và nghiền ngẫm – vốn là “ý thức hệ” đã tồn tại hàng ngàn năm của các triều đại quân chủ phong kiến trước đây tại nước ta.

THI CỬ THỜI PHÁP THUỘC



          -Chữ Quốc ngữ
Nói đến giáo dục đào tạo và thi cử thời Pháp thuộc cũng nên biết qua về sự ra đời của chữ Quốc ngữ, bởi đây có thể xem như một cuộc “cách mạng về chữ viết” ở nước ta kể từ đầu thế kỷ 17, khi mà hàng ngàn năm trước đó văn hóa Nho học chỉ sử dụng toàn chữ Hán và sau này có thêm chữ Nôm. Chữ Hán và chữ Nôm là hệ thống chữ viết theo lối “hình tượng” xuất xứ từ Trung Quốc, trong khi chữ Quốc ngữ viết theo dạng La-tinh. Chính từ nhu cầu truyền đạo mà các giáo sĩ Thiên Chúa thời ấy đã sáng tạo ra mẫu chữ viết này từ các mẫu tự La-tinh – là chữ viết có gốc gác phương Tây gần gủi của họ. Francisco de Pina và  Alexandre de Rhodes được coi là  “thủy tổ chữ quốc ngữ” trong đó người tiên phong sáng tạo là Francisco và Alexandre đã có công hệ thống hóa, chỉnh lý, thực nghiệm và phổ biến dưới hình thức những cuốn sách để giảng đạo bằng chữ Việt, loại chữ viết độc đáo này – mà hầu như ở phương Đông, chỉ có duy nhất ở Việt Nam.
Lẽ tất nhiên từ khi hình thành cho đến lúc hoàn thiện chữ viết như ngày nay là cả một quá trình lâu dài, là công trình của cả tập thể, và không thể không ghi nhận  sự đóng góp công sức của nhiều người về sau, trong đó có những tín đồ Thiên Chúa giáo người Việt. Điều lưu ý là công cuộc sáng tạo và truyền bá chữ Quốc ngữ trong bối cảnh “Hán học” của triều Nguyễn là không hề được công khai, dễ dàng, nói khác là lịch sử không thể ghi nhận một cách rõ ràng. Tuy vậy, căn cứ vào những tài liệu liên quan tới các hoạt động truyền giáo của giáo hội Thiên Chúa trước đây tại Việt Nam, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương và Nguyễn Thiếu Dũng cho rằng “chiếc nôi” cho ra đời chữ Quốc ngữ chính là Hội An (cư sở được thành lập năm 1615) và Thanh Chiêm (đô lỵ của dinh trấn Quảng Nam) thời đó. Giáo sĩ F. de Pina được ghi nhận đã đến Đàng Trong – cụ thể là Hội An vào năm 1617, rồi đến Thanh Chiêm năm 1623, và sau đó đã thường xuyên đi lại giữa hai cư sở này. Đó chính là những nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để học hỏi và nghiên cứu tiếng Việt  cho các nhà truyền giáo thời bấy giờ.

-Về tổ chức học tập và thi cử [*]
Ngay từ khi hòa ước năm Giáp Tuất (1874) được ký, công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn lãnh thổ Nam Kỳ, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp, rồi hòa ước Qúy Mùi (1883) và Patenôtre năm Giáp Thân (1884) biến Bắc Kỳ và Trung Kỳ thành đất bảo hộ của Pháp, việc đầu tiên của thực dân Pháp là khai tử nền Nho học, vốn đang tồn tại từ lâu đời, và thay thế bằng một hệ thống giáo dục để phục vụ cho guồng máy cai trị, nằm trong ý đồ khai thác thuộc địa của họ.
Các mốc lịch sử : 1864: Kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ. 1878: Chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chính được thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ. 1915: Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ và 1919 (Kỷ Mùi) là kỳ thi Hội cuối cùng ở Trung Kỳ, đã cho thấy thực dân Pháp quyết tâm thực hiện  ý đồ đó như thế nào. Và tờ Gia Định báo, tờ Công báo bằng quốc ngữ đầu tiên được súy phủ Sài Gòn cho ra đời kể từ năm 1865 cũng nằm trong ý đồ truyền bá chữ Pháp và chữ quốc ngữ - hai chữ viết cùng một mẫu tự La-tinh.
Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở  Sài Gòn năm 1864 và Hà Nội năm 1905 để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt, rồi các Trường Hậu Bổ ở Hà Nội 1903 và ở Huế năm 1911 là những nơi đào tạo đầu tiên để đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân sự cấp bách của chính quyền thực dân buổi sơ khai.
Sau đó, dần dần, người Pháp bắt đầu xây dựng tại Việt Nam một nền giáo dục, với một hệ thống lấy khuôn mẫu từ “chính quốc” nhưng được điều chỉnh và thêm bớt cho phù hợp với thực tế ở Việt Nam cũng như Đông Dương và chủ yếu là để đạt mục đích khai thác thuộc địa. Hệ thống giáo dục ấy được gọi là “Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ” (Enseignement Franco-Indigène), ở đây là Giáo Dục Pháp-Việt, gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.
Về giáo dục phổ thông có 3 bậc học:
-Bậc Tiểu học (Enseignement Primaire) với học trình 6 năm (gồm lớp Đồng ấu, lớp Dự bị, lớp Sơ đẳng, lớp Nhì năm thứ nhất, lớp Nhì năm thứ hai và lớp Nhất), trong đó học xong lớp Sơ đẳng học sinh thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược (Primaire Élémentaire), và học hết lớp Nhất, học sinh thi bằng Tiểu Học Yếu Lược.
-Bậc Cao Đẳng Tiểu học (Primaire – tương đương  trường Cấp 2 hiện nay) với học trình 4 năm. Học xong  thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu học (còn gọi là bằng Thành Chung).
-Bậc Trung học (Enseignement Secondaire)  với học trình 3 năm. Học xong 2 năm đầu thi lấy bằng Tú Tài phần thứ nhất và học tiếp năm cuối với học trình được phân 3 ban (Toán, Khoa học, Triết) thi lấy bằng Tú Tài toàn phần (Baccalauréat).
Về giáo dục Cao Đẳng và Đại học:
-Trường Cao Đẳng (École Supérieur): là loại trường chuyên nghiệp, đào tạo ra các chuyên viên có nghề chuyên môn như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư,…nhập học ngoài hội đủ điều kiện về văn bằng, còn phải qua một kỳ thi tuyển (concours) khó khăn. Nhưng nếu trúng tuyển sẽ được cấp học bổng ăn học suốt học trình. Đổi lại, sau khi thi tốt nghiệp, ra trường  phải làm việc cho chính quyền ở lĩnh vực được đào tạo trong một thời gian nhất định, nếu không, phải bồi hoàn tiền học bổng đã cấp.
-Trường Đại Học (Université): là loại trường chỉ trang bị cho sinh viên một căn bản tri thức trong một lĩnh vực nhất định nào đó nhưng không mang tính chất nghề nghiệp chuyên môn như ở trường Cao Đẳng. Nhập học chỉ cần đủ điều kiện về văn bằng là được ghi danh không qua thi tuyển, không hạn định tuổi tác và số lượng (chỉ tiêu đầu vào). Sinh viên phải tự túc về học phí và khi tốt nghiệp, cá nhân phải tự tìm kiếm việc làm.

-Về nội dung chương trình học và đề thi
Mặc dầu mục tiêu giáo dục và đào tạo ở thời kỳ này là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhưng khác với thời phong kiến chỉ đào tạo con người biết ứng xử, biết chỉ huy, lãnh đạo, nền giáo dục thời Pháp thuộc đã bắt đầu mở rộng cánh cửa hiểu biết cho người học ra các ngành nghề chuyên môn về khoa học tự nhiên:  vạn vật học, y học, dược học, thú y, nông lâm học, công chánh, … song song với những ngành nghề về khoa học xã hội: thương mại, luật, pháp chính, sư phạm, triết học.
Qua bậc phổ thông, người học được trang bị một số kiến thức cơ bản chung chung cho mọi lĩnh vực của đời sống,  vào Cao Đẳng, Đại học, người học bắt đầu được trang bị những kiến thức chuyên môn, chuyên sâu về một lãnh vực nhất định theo sự chọn lựa của mình. Vì vậy, cho dù khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng chồng chất,  phức tạp nhưng mỗi người học chỉ theo đuổi một hai lĩnh vực, không phải ôm đồm hay quá tải.
Tuy nhiên, hệ thống giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc, cũng như hệ thống giáo dục của Pháp ở chính quốc thời ấy, bên cạnh một số ưu điểm, vẫn mang nhiều nhược điểm. Về hình thức học, vẫn mang tính “học vẹt” với công thức:  người thầy trao tri thức từ sách giáo khoa và học trò tiếp nhận, ghi nhớ nằm lòng. Điểm nổi bật là hệ thống thi cử  ở cả 3 bậc học đều mang tính chọn lọc quá cao,  quá nhiều tầng nấc, khiến đầu ra bị bóp nghẹt, dẫn tới nền giáo dục thiếu đi tính đại chúng.
*Bài: NGUYÊN THANH  *Hình ảnh: sưu tầm

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Xác phi công Vũ Ngọc Khanh sinh năm 1952

KBCHN: Ai là thân nhân vui lòng vào facebook hoặc nhắn tin KBCHN bacha52@gmail.com
Vào những năm 79-80, sau khi hòa bình lập lại, người nhà mình trong quá trình khai hoang đất đai ở khu vực ngoại vi An Lộc đã phát hiện hài cốt của một quân nhân VNCH với thẻ bài, nón bay ... 

Rất nhiều khả năng, người lính này đã tử trận trong trận chiến An lộc 1972 (nơi được tìm thấy là khu vực Xa Cam, vùng ngoại vi An lộc, trong cánh rừng cách quốc lộ 13 khoảng 2km)

Thẻ bài mang tên: VU NGOC KHANH
72/600.199
O.POS

Sau đó, gia đình đã an táng ông ấy ở góc vườn và cất giữ những di vật để mong có ngày thân nhân tìm lại. Việc này, đến bây giờ mình mới biết.



Thương cảm với số phận người lính này, mình gửi thông tin lên đây, mong bạn bè gần xa chia sẽ, biết đâu người nhà họ sẽ nhận ra và đón về.

Mong các bạn giúp đỡ.
(Nếu có thông tin gì, xin mọi người nhắn trên fb của mình.)
https://www.facebook.com/civic011106


 

 

 
Nguồn: KBCHN.NET

Bác sỹ từ chối mổ vì biết bệnh nhân là người viết báo



Một bạn đọc vừa có đơn gửi báo Điện tử Người đưa tin, lên án vấn đề y đức và tố cáo những việc làm bất thường của ông Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Bạn đọc có tên là Trang, trú tại Hà Tĩnh cho biết: Thấy bụng có triệu chứng khác thường nên đã đến Phòng Khám theo yêu cầu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương (số 56, phố Hai Bà Trưng, TP Hà Nội) để kiểm tra sức khỏe.
Sau khi kiểm tra, các bác sỹ cho biết, Trang có khối u ở ổ bụng phải được chỉ định cần tiến hành phẫu thuật. Người thăm khám là bác sỹ Phạm Thanh Nga, đưa bệnh nhân gặp PSG.TS Vũ Bá Quyết (là giám đốc bệnh viện). Bác sỹ Nga giới thiệu: Ông Vũ Bá Quyết một bác sỹ đầu ngành về lĩnh vực phẫu thuật sản phụ khoa ở Việt Nam.
Bác sỹ từ chối mổ vì biết bệnh nhân là người viết báo - Ảnh 1
Kết quả chẩn đoán của bệnh nhân Trang.
Chiều ngày 20/3/2015, ông Quyết nói chuyện với bệnh nhân về bệnh lý và phương pháp mổ nội soi bóc tách khối u. Ông yêu cầu Trang và người thân sắp xếp thời gian tiến hành phẫu thuật. Rồi các phương án, lịch mổ được sắp xếp xong trong ngày.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu hồ sơ, hỏi về lý lịch bệnh nhân, ông Quyết phát hiện Trang đã từng cộng tác viết báo nên từ chối mổ. Ông bất ngờ nói với bệnh nhân Trang: “Cô về lên mạng đọc đi, chính tôi đây này, tôi là người bị các cô lôi lên báo chí thế này thế nọ”.
Mặc dù không hiểu ông Quyết đang nói gì, nhưng bệnh nhân Trang vẫn cố giải thích: “Cháu chỉ là sinh viên, tranh thủ cộng tác viết báo, chứ chưa phải là phóng viên báo chí gì. Cháu rất mong được bác cứu mổ cho cháu”.
Không hề rung động trước lời kêu cứu của bệnh nhân, ông Quyết đẩy bệnh nhân ra khỏi phòng: “Thôi thôi, ra ngoài đi! Tôi có thể mổ cho bất cứ trường hợp nào còn báo chí thì không bao giờ…”, bệnh nhân Trang khẳng định lại lời ông Quyết.
Bác sỹ từ chối mổ vì biết bệnh nhân là người viết báo - Ảnh 2
PGS.TS Vũ Bá Quyết: "Báo chí các người có quyền viết, còn tôi có quyền không mổ".
Sau khi nhận được nội dung tố cáo, chúng tôi đã liên hệ qua điện thoại với PGS.TS Vũ Bá Quyết. Ông Quyết một lần nữa tuyên bố: “Báo chí các người có quyền viết, còn tôi có quyền không mổ. Mổ rồi, dây dưa báo chí rắc rối lắm” (!?).
Được biết, sau khi bị bác Quyết từ chối mổ, bệnh nhân Trang đã được chuyển qua để làm thủ tục phẫu thuật tại một bệnh viện khác tại Hà Nội.
Xuân Hồng

Nguồn : Người đưa tin