Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

LỊCH SỬ

Sự thật về Tướng Giáp : Đừng bốc phét nữa

Tôi là một gã Bắc Kỳ . Từ lớp vỡ lòng đến đại học tôi được học dưới cái gọi là « mái trường XHCN » . Anh tôi là một bộ đội phục viên . Cháu ruột là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Bộ Binh đang tại chức . Tôi đi nghĩa vụ quân sự 3 năm , mang quân hàm Trung Uý , chức Đại Đội Phó , có tham gia một vài trận đánh ở chiến trường Campuchia .
Dài dòng một chút để các bạn hiểu : tôi không liên hệ gì đến Việt Nam Cộng Hoà . Tôi không hận thù , không chống cộng . Tôi chỉ muốn được chia sẻ chút suy nghĩ của mình trước những thậm từ mà thiên hạ đang sử dụng để tung hô Tướng Giáp : « mãi mãi là một biểu tượng sống động của trí tuệ » ; « Thiên tài quân sự » ; « Đại trí , đại nhân , đại dũng » ; « Vị Tướng huyền thoại » ; « Nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại » ; « Một nhân cách lớn » . Có thiệt vậy không ?
* * *
Những Điều Tận Mắt
Khoảng đầu năm 1983 , ông Giáp đến thăm một trường đại học . Khi đó ông đã thôi chức Bộ Trưởng Quốc Phòng , đang là Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch . Tôi thấy ông vẫn mặc quân phục , mang quân hàm Đại Tướng . Bọn sinh viên chúng tôi đang ở tuổi trên dưới 20 , rất ngưỡng mộ ông , kéo đến nghe ông nói chuyện . Không ngờ những bài phát biểu của ông rất nhạt , chung chung , vô thưởng vô phạt , với những sáo ngữ mòn cũ , giáo điều thường thấy trong các nghị quyết của chi bộ , chi đoàn như là Đảng ta , nhân dân ta anh hùng , quân đội ta anh dũng , thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác Hồ , quyết tâm , vượt mức , lập thành tích , quán triệt , phát huy …
Không có gì sắc sảo , mới lạ . Màng nhĩ của tụi tôi bấy giờ đã khá quen với những ý tưởng và ngôn từ của các giáo sư đại học thời Tây còn lại , hoặc những vị cỡ như Bùi Tín nói về thời sự quốc tế , Trần Quốc Vượng nói về Hà Nội học , hay Xuân Diệu bình thơ . Vì thế nghe Tướng Giáp nói xong chúng tôi thất vọng quá . Sau này tôi lại thấy mỗi khi đi thăm các cơ sở , ông Giáp đều bắt đầu lời phát biểu kiểu như : Thay mặt đ/c Lê Duẩn uỷ viên BCT Tổng Bí Thư … đ/c Trường Chinh uỷ viên BCT Chủ Tịch hội đồng nhà nước … đ/c Phạm Văn Đồng uỷ viên BCT , Chủ Tịch hội đồng chính phủ , và các đ/c khác trong trung ương … tôi xin gởi lời thăm đến các đồng chí …
Thì ra ở đâu ông cũng ăn nói na ná như nhau
Ngày 30 /04/1995 , kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam . Năm chẵn , nên tổ chức rất hoành tráng ở thành Hồ . Truyền hình Mỹ chiếu trực tiếp lễ duyệt binh , có phần phỏng vấn Tướng Giáp và Tướng Westmoreland . Ý họ là để cho hai vị tướng đã từng đối đầu ở chiến trường có dịp trò chuyện với nhau . Sau lời phát biểu khá khiêm tốn của Tướng Westmoreland , đến lượt Tướng Giáp – ông nói đại ý rằng chúng tôi vô cùng tự hào vì Việt Nam là một thuộc địa nhỏ bé nhưng đã đánh thắng được hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ .
Một thiên tài quân sự , một chính khách lỗi lạc , một nhà ngoại giao tài ba, mà lại phát biểu như vậy sao . Tôi tự hỏi .
Từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò
Ngày 22/11/1944 , ông Giáp cùng với 34 chiến sĩ đã qua một cơn chuyển dạ đớn đau , rồi sinh hạ QĐNDVN duới gốc đa Tân Trào , tỉnh Tuyên Quang . Đến tháng 05/1948 , tức 3 năm rưỡi sau , ông Giáp được ông Hồ Chí Minh phong cho chức Đại Tướng . Khi ấy ông Giáp mới 37 tuổi . Riêng điều này thì « huyền thoại » thiệt . Cả thế giới đến nay mới xuất hiện hai Đại Tướng được phong vượt 17 cấp bậc như thế ! Ông Giáp ở Bắc Việt Nam , và Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên ! Từ đó người ta gọi ông Giáp là « Tướng Giáp » . Ông giữ những chức vụ : Uỷ viên Bộ Chính trị , Bí thư Quân uỷ Trung ương , Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng , Tổng Tư Lệnh QĐNDVN cho đến năm 1982 .
Vào cuối thâp kỷ 60 , trước và sau khi ông Hồ chết , nội bộ ĐCSVN xảy ra « Vụ Án Xét Lại Chống Đảng » do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phát động . Ông Giáp trở thành đích ngắm của vụ án , nhưng ông lại không bị đánh trực tiếp , mà đòn hiểm lại nhằm vào những người đồng chí trung thành của ông ở chiến dịch Điện Biên Phủ : Thượng Tướng Chu Văn Tấn tư lệnh Quân Khu Việt Bắc , Thiếu Tướng Đặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần , Tướng Lê Liêm một uỷ viên đảng uỷ , Trung Tướng Trần Độ chỉ huy đại đoàn 312 , mũi tấn công chính vào sở chỉ huy Pháp , và là người tiếp nhận sự đầu hàng của Tướng De Castries , Đại Tá Đỗ Đức Kiên cục trưởng tác chiến , Đại Tá Phạm Quế Dương , ông Hoàng Minh Chính , và nhiều người khác nữa . Tất cả bị vu cáo cùng một tội « chống đảng , xét lại , làm gián điệp cho nước ngoài » . Điều trớ trêu là Tướng Giáp biết rõ là nguỵ tạo , nhưng ông không bao giờ mở miệng , hoặc có một động thái nào để bảo vệ , hay giúp đỡ những người bạn cũ đang bị đối xử rất tàn ác .
Đại hội Đảng V – 1982 , ông Giáp bị đưa ra khỏi bộ chính trị , mất chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng , và được « phân công » về làm trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch . Thực chất đây là một vụ cách chức , hay nói trắng ra là ông Lê Đức Thọ đã hạ nhục ông Giáp một cách không thương tiếc . Ông Giáp vẫn không có một hành động gì dù nhỏ nhất như là từ chức , xin về hưu để tỏ thái độ , và giữ gìn khí tiết của một người làm Tướng . Ông tỏ ra như một đứa con ngoan vâng lời cha mẹ . Dân Bắc Kỳ phải ngán ngẩm mà than rằng :
« Xưa làm Bộ Trưởng Quốc Phòng
Nay làm Bộ Trưởng đặt vòng tránh thai »
Hay :
« Bác Hồ nằm ở trong lăng ,
Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng , giật mình
Rằng giờ chúng nó linh tinh
Tuổi tên của mình chúng ném xuống ao
Ao nào thì có ra ao
Cái tròn cái méo , cái nào cũng sâu
Hỏi rằng Tướng Giáp đi đâu
Dạ thưa Tướng Giáp … lo khâu đặt vòng » .
Một bài vè khác thì chẳng còn úp mở gì :
« Ngày xưa Đại Tướng cầm quân
Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em
Ngày xưa Đại Tướng công đồn
Ngày nay Đại Tướng công l … chị em » .
Khi hai ông Duẩn – Thọ về thăm Bác , tưởng rằng vòng kim cô trên đầu Tướng Giáp sẽ được gỡ ra . Nhưng không , nó còn bị siết chặt hơn bởi một cặp bài trùng mới : Đỗ Mười – Lê Đức Anh ( được biết đến là MA , viết tắt từ Mười – Anh ) . MA đã giáng một đòn trực tiếp vào ông Giáp với một bản cáo trạng gồm 8 tội danh :
1 . Ông Giáp từng là con nuôi của chánh sở mật thám Đông Dương , Louis Marty .
2 . Ông Giáp cầm đầu vụ án Xét Lại Chống Đảng từ năm 1957-1958 .
3 . Ông Giáp bán bí mật quân sự cho Đại Sứ Liên Xô Serbakov .
4 . Trong chiến dịch Điện Biên Phủ , ông Giáp hèn nhát , sợ chết quanh quẩn trong hầm , không dám ra ngoài . Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch .
5 . Ông Giáp nhận định tình hình kém , vội vàng giải tán 80 000 quân , để khi Pháp – Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ .
6 . Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội , nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn .
7 . Ông Giáp hèn nhát , sợ B-52 của Mỹ rải thảm , nên không đi B ( chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975 ) .
8 . Ông Giáp đã có vợ , nhưng lại ăn nằm với một phụ nữ đã có chồng . Cô này đến nhà riêng ông Giáp dạy đàn piano .
Đỗ Mười kết luận phải khai trừ ông Giáp ra khỏi ĐCSVN . Lê Đức Anh nương tay hơn , chỉ gạt ông Giáp ra khỏi ghế « uỷ viên trung ương » – một vị trí an ủi mà thời Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vẫn còn bố thí cho ông .
Người ta ví von rằng trận đòn mà MA đánh ông Giáp cũng giống như trận đòn mà Đặng Trần Thường đánh Ngô Thì Nhậm ở Quốc Tử Giám cách đây 200 năm . MA đánh Giáp bằng những tội danh rất hiểm . Thường đánh Nhậm bằng roi tẩm thuốc độc . Nhậm đau lắm nhưng vẫn đối đáp khí khái , ăn miếng trả miếng , bảo vệ được thanh danh , để lại tiếng thơm cho đời sau . Còn Tướng Giáp thì vẫn nhũn như con chi chi , nhịn nhục , không dám nói năng gì . Có phải lòng kiêu hãnh của một vị Đại Tướng đã thành gỗ đá , không bao giờ bị thương tổn ?
Có người lại bảo ông Giáp phục kích , chờ cơ hội . Đúng , ông Giáp đã chờ cho đến khi cả hai ông MA đã vào tuổi 90 , sức khoẻ cạn , quyền lực hết , không còn ảnh hưởng nhiều đến phong cảnh chính trị Việt Nam thì ông Giáp mới dám mở miệng để đòi lại danh dự . Tiếc thay , Tướng Giáp chỉ đòi công lý cho cá nhân ông , còn những đồng đội trung thành của ông ở Điện Biên Phủ ông chẳng hề bận tâm .
Dân Hà Nội thì đàm tiếu rằng con đường tòng chính của Tướng Giáp đầy gian nan vất vả , ông đã hành quân qua một chặng đường dài từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò . Cây Đa Nhà Bò là một trạm hộ sinh nằm trên phố Lò Đúc , Hà Nội , dành cho những phụ nữ thuộc giới bình dân , chuyên đỡ đẻ , nạo phá thai , khám phụ khoa , thông vòi trứng , hút điều hoà kinh nguyệt , điều trị rong kinh huyết trắng ( Ngẫm ra , dân Hà Thành thâm thiệt ! ) .
Viết về Tướng Giáp mà không phân tích một trận đánh do ông chỉ huy , thì rất là thiếu sót . Tôi quyết định chọn trận đánh cuối cùng trong cuộc đời cầm quân của ông . Đó là một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu giữa hai người anh em cùng ý thức hệ Cộng Sản : Quân Đội Nhân Dân Việt Nam ( QĐND ) do Tướng Giáp chỉ huy và Hồng Quân Trung Hoa ( HQTH ) do Tướng Dương Đắc Chí là tư lệnh .
Cuộc chiến Việt-Trung tháng 02/1979
QĐND hoàn toàn bị bất ngờ
Để trừng phạt Việt Nam , HQTH đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số Sư Đoàn độc lập , bao gồm 300 000 binh sĩ , 550 xe tăng , 480 khẩu pháo , 1 260 súng cối , hoả tiễn , chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1 700 máy bay phía sau .
Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng HQTH đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công . Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp Trung Đoàn , hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ , và ngày giờ khai hoả của đối phương , nói gì đến tình báo chiến lược .
Mờ sáng ngày 17/02/1979 , HQTH tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1 400 KM , trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên , Lai Châu , Lào Cai , Hà Giang , Cao Bằng , Lạng Sơn và Quảng Ninh .
Việt Nam hoàn toàn không hay biết gì . Khi HQTH tràn qua biên giới , thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Văn Tiến Dũng , tổng tham mưu trưởng , đang thăm viếng xứ Cao Miên . Dân chúng không được thông báo trước , trẻ em , người già , và phụ nữ có thai , không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa . HQTH đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngoạn mục . Không hiểu Tướng Giáp biện minh thế nào cho việc không hay biết gì về giờ nổ súng của đối phương .
Thất bại về tình báo và nhận định tình hình
Tháng 11/1978 , Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan , Malaysia và Singapore. Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Tàu Cộng sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia . Đặng đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông , phải dạy cho chúng một bài học . Có lẽ vì lời của Đặng quá khiếm nhã , báo chí Tàu Cộng chỉ dùng nửa sau của câu nói .
Ngày 28/01/1979 , Đặng thăm Mỹ , và tuyên bố « Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi » , « Tàu Cộng kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam » . Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ . Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước Cộng Sản sẽ nổ ra .
Sau 3 ngày thăm Mỹ , Đặng đến Nhật . Tại đây , Đặng vẫn giọng điệu hung hăng « để trừng phạt Việt Nam , dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động » ; « không trừng phạt kẻ xâm lược , sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền » , « Đối phó với loại người vô ơn như thế , không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả » . Các nhà ngoại giao Nhật ngạc nhiên vì lời lẽ và thái độ phi ngoại giao của Đặng .
Cũng khoảng thời gian này , TASS – hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Tàu Cộng đang áp sát biên giới Việt–Trung .
Từ Nhật về , Đặng chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17/02 . Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ ( 1962 ) ; không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế , trong phạm vi trên duới 50 cây số từ biên giới .
Bằng chứng Đặng sẽ trừng phạt Việt Nam đã rõ như ban ngày , nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam tin rằng Tàu Cộng là một nước XHCN anh em , và nhân dân Tàu Cộng yêu chuộng hoà bình , sẽ không ủng hộ chiến tranh . Tàu Cộng sẽ không tấn công , hoặc nếu có thì chỉ từ cấp Sư Đoàn đổ lại .
Thiếu tin tình báo , nhận định và phân tích tình hình sai , không nắm được thời điểm nổ súng , thời gian , không gian , và quy mô chiến dịch của đối phương , đã dẫn đến việc Tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới . Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ , bộ đội địa phương , và một vài Trung Đoàn độc lập .
Một thất bại về chiến thuật
Kế hoạch hành quân của Tàu Cộng chia làm 3 giai đoạn .
Giai đoạn 1 : từ 17/02 đến 25/02 , phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam , làm chủ thị xã Cao Bằng , Lào Cai , và hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng , để mở đường cho cuộc tấn công vào Lạng Sơn .
Giai đoạn 2 : từ 26/02 đến 05/03 , chiếm được thành phố Lạng Sơn , và hai thị trấn Sa Pa va Phong Thổ .
Giai đoạn 3 : từ 05/03 đến 16/03 , bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới , trước khi rút về .
Ngày 21/02 , khi chiến dịch đang diễn ra rất ác liệt , tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã tiến về bờ biển Việt Nam . Cầu hàng không của Liên Xô giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc . Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria đã chở vũ khí tới Hà Nội .
Trước tình hình đó ngày 23/02/1979 , Đặng sợ Liên Xô nhúng tay , nên lên tiếng về « cuộc chiến sẽ giới hạn trong vòng 50 KM , và sẽ rút quân trong 10 ngày tới . Rõ ràng Tàu Cộng không có ý định tấn công vào Hà Nội . Họ chỉ ba hoa rằng « ăn sáng ở Lạng Sơn và ăn tối ở Hà Nội » .
Việt Nam lại tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài , và Hà Nội sẽ bị tấn công . Từ nhận định sai lầm này mà dẫn đến việc dồn hết công sức , và tâm trí vào việc xây dựng « Phòng Tuyến Sông Cầu » , để cố thủ Hà Nội . 7 tỉnh biên giới gần như bị bỏ ngỏ , phải tự chiến đấu trong tuyệt vọng , tự gánh vác lấy sức nặng của cuộc chiến , không được chi viện . Trận chiến tại Đồng Đăng là một thí dụ :
Đồng Đăng là một thị xã nằm sát biên giới Việt-Trung , cách thành phố Lạng Sơn 14 KM về phía Đông Nam . Trận đánh bắt đầu sáng 17-2 và là trận ác liệt nhất . Đây là trận địa phòng thủ của Trung Đoàn 12 Tây Sơn , thuộc Sư Đoàn Sao Vàng , QĐND . Phía Tàu Cộng dùng 2 Sư Đoàn Bộ Binh , 1 Trung Đoàn xe tăng , và chi viện của 6 Trung Đoàn pháo binh , ( Tương quan lực lượng là khoảng 10 đánh 1 ) . Pháo đài Đồng Đăng tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã , ( Pháo đài này được Pháp xây dựng rất kiên cố , vì ở đây đã diễn ra khá nhiều va chạm đẫm máu giữa Pháp và nhà Thanh trước đây ) . Việt Nam chỉ có 2 Tiểu Đoàn trấn giữ , bị Tàu Cộng bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp Sư Đoàn . Lực lượng phòng thủ không hề được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng , trụ được 22 ngày đêm . Cuối cùng HQTH cũng đã làm chủ được khu vực bên ngoài Pháo Đài , nhưng Tàu Cộng không gọi được đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng . Tàu Cộng chở bộc phá tới đánh sập cửa chính , dùng súng phun lửa , thả lựu đạn , phun chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn . Khi chiếm được Pháo Đài Đồng Đăng , HQTH đã dùng 10 tấn thuốc nổ để phá hệ thống cố thủ này .
Việt Nam lúc đó đã có ít nhất 5 Sư Đoàn đang ở miền Bắc , trong đó có sư 308 – là một Sư Đoàn thiện chiến đã từng đánh ở Điện Biên Phủ và Khe Sanh . Nếu 5 Sư Đoàn này được tham chiến vào buổi bình minh của cuộc chiến thì tình thế sẽ hoàn toàn có lợi cho phía QĐND . HQTH không thể tiến sâu vào lãnh thổ VN , không thể làm chủ được thời gian , không thể đạt được những những mục tiêu như họ muốn , và họ sẽ không có lý do gì để tuyên bố là « Chiến Thắng » . Đây là một sai lầm mang tính chiến thuật mà Tướng Giáp và bộ Tổng Tham Mưu của QĐND phải chịu trách nhiệm .
Một kết thúc mập mờ dẫn đến một sai lầm chiến lược
Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của Sư Đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hoả lực , ngày 04/03/1979 , Lạng Sơn thất thủ .
Sáng 05/03 , Tàu Cộng tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt , chiến thắng vẻ vang , và quyết định rút quân .
Cùng ngày 05/03 , Việt Nam phát lệnh « Tổng Động Viên » . Những quân đoàn chủ lực của QĐND có xe tăng , pháo binh , và không quân từ chiến trường Campuchia trở về , cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc , Việt Nam đã vào vị trí vây hãm HQTH . Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích , mà phần thắng sẽ thuộc về tay QĐND .
Nhưng tiếc thay , Việt Nam lại tuyên bố « Thiện Chí Hoà Bình » , rằng truyền thống ông cha ta … rằng lòng cao thượng … rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta … Việt Nam sẽ để cho HQTH rút quân an toàn .
Sự thực trên đường rút quân , HQTH vẫn chém giết , vơ vét , và phá hoại . Vụ thảm sát ngày 09/03 tại Đổng Chú , huyện Hoà An , Cao Bằng là một thí dụ . HQTH đã dùng búa , dao giết 43 người , gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai , 20 trẻ em , và 2 người đàn ông , rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối . HQTH có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở , chiếm giữ những điểm cao quan trọng , và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui .
QĐND đã không tổ chức những trận đánh cấp tập , vu hồi , tạt sườn trên đường rút quân của HQTH . Kết thúc cuộc chiến một cách mập mờ , nửa vời , đánh rắn giữa khúc , nửa nạc nửa mỡ . HQTH coi thường ý chí và kinh nghiệm chiến đấu của QĐND , và còn mỉa mai rằng chưa được « vuốt râu cọp » . Họ không tôn trọng danh tiếng của một đạo quân thiện chiến .
Quyết định « Thiện Chí Hoà Bình » của Việt Nam hình như là một thái độ thủ hoà , nhưng hoà vào một thế vô cùng bất lợi . Từ đó , trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới , Tàu Cộng luôn ở thế kẻ cả , áp đảo , và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ . Đây là hệ luỵ từ sai lầm mang tính chiến lược do Tướng Giáp và Bộ Tổng Tham Mưu gây ra .
« Anh Đặng »
Đặng Tiểu Bình là người đã phát động cuộc chiến đẫm máu , man rợ , gây ra bao nhiêu đau thương và dẫn đến những hệ luỵ cho đất nước Việt Nam nhiều năm sau đó . Đặng đã từng gọi lãnh đạo của Việt Nam là « những thằng du côn của phương Đông » , « lũ tiểu bá » , « đám vô ơn , bội bạc » . Thế mà 10 năm sau , khi những vết thương trên thân mình Tổ Quốc vẫn còn đang chảy máu , ngày 3-9-1990 , ba ông Nguyễn Văn Linh , Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng bí mật đến Thành Đô , tỉnh Tứ Xuyên , hy vọng được yết kiến Đặng Tiểu Bình . Đặng không gặp , để cho hai đàn em Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp . Cả ba ông Linh , Mười , Đồng rất tiếc vì đã không gặp được « anh Đặng » . Ông Võ Văn Kiệt ở nhà cũng tiếc hùi hụi , phàn nàn rằng « nếu có anh Đặng , thì anh Tô ( Đồng ) mới nên đi » .
Kẻ tử thù của của nhân dân Việt Nam , nay được các nhà lãnh đạo Việt Nam gọi bằng « Anh » thân thiết quá .
Cũng khoảng thời gian đó , Tướng Giáp đến thăm Tàu Cộng , và xin được gặp Tướng Dương Đắc Chí – Tổng Tư Lệnh trong cuộc chiến biên giới với Việt Nam năm 1979 . Nhưng Dương Tướng quân từ chối , nói : « Đời nào tôi lại gặp ông ta . Mộ của các cán bộ chiến sĩ vẫn còn chưa xanh cỏ ! » .
Chỉ vài thông tin để các bạn thấy được cái gọi là « Đại trí , Đại nhân , Đại dũng » của những lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam , trong đó có Đại Tướng Võ Nguyên Giáp .
( Trong bài này tôi có tham khảo tài liệu của các tác giả Bùi Tín , Trần Quang Cơ , Trần Vũ , và Bharat Raksha và trang mạng Talawas . Tôi cảm ơn các tác giả kể trên ) .
Trần Hồng Tâm , C/N :02/02/2013
https://toiac.wordpress.com/2013/10/08/su-that-ve-tuong-giap-dung-boc-phet-nua/?fbclid=IwAR1NzdFmwuOMuK6GbN8eXIt4J_7LcIit-R-PcdZQnoS1_x4kCCO6jXI3jrs

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2010

Tấm Lòng Biển: Hồi ký của một thuyền nhân Việt Nam

Tấm Lòng Biển, một hồi ký về chuyến hải hành vượt biên của nhóm thuyền nhân người Việt năm 1985, những người may mắn thoát khỏi bàn tay tử thần nhờ lòng nhân từ của một thuyền trưởng người Đại Hàn, đã ra mắt độc giả tại California vào tháng 8 năm nay. Ngay trong lời giời thiệu, cuốn sách được nói đến như lời kể chuyện chân thành và giản dị, nêu cao tấm lòng bác ái trong một con người bình dị và cũng chính tấm lòng đó đã đưa đến một câu chuyện thật đẹp về tình người, về sự biết ơn và tình bạn đã nảy sinh giữa ân nhân và người thụ ơn. Trong bài sau đây, Lan Phương sẽ gửi đến quí thính giả đôi nét về cuốn sách và câu chuyện với tác giả Nguyễn Hùng Cường và một thuyền nhân từng có mặt trong chuyến hải hành đó nay đã an cư lạc nghiệp tại Hoa Kỳ.
Câu chuyện bắt đầu năm 1985 khi chiếc ghe mỏng manh chở 96 thuyền nhân vượt biên trốn chạy chế độ cộng sản Việt Nam, hư máy, lênh đênh trên hải phận quốc tế đã bị nhiều tàu bè qua lại dửng dưng bỏ đi không vớt. Trước cơn bão dữ sắp sửa ập tới, thuyền trưởng một tàu đánh cá của Nam Hàn không đành đoạn quay lưng lại trước đám người khốn khổ đó, đã cương quyết bất chấp lệnh của công ty và có lẽ cũng là chính sách của nhiều quốc gia lúc bấy giờ, đã quá mệt mỏi trong việc cưu mang luồng sóng thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi nhất quyết quay tàu lại, hạ lệnh cho thủy thủ vớt những người này lên tàu, chăm sóc chu đáo cho họ cho đến khi tàu về tới hải khẩu Pusan và thuyền nhân được đưa vào trại tỵ nạn an toàn tại Nam Hàn. Trong câu chuyện, tác giả Nguyễn Hùng Cường còn nhắc tới sự kiện mà thuyền nhân sau khi được tàu đánh Kwang Myung 87 vớt, đã chứng kiến cảnh các thủy thủ kết một tấm bè, và họ lo ngại không biết có phải bè được kết để thả họ trở lại biển khơi hay không.
Đến sau này khi tác giả gặp lại,và được vặn hỏi, thuyền trưởng mới thổ lộ cho biết là vớt các thuyền nhân, ông đã 2 lần bất tuân thượng lệnh, lần thứ nhất là cứu thuyền nhân lên tàu, lần thứ hai là họ buộc ông phải kết bè, thả những thuyền nhân đã được cứu vào một hoang đảo gần nhất. Ông không tuân lệnh, nên đã bị mất việc. Ông không hề ân hận dù sau đó cuộc sống của ông gặp nhiều gian nan. Suốt gần 3 năm ông bị phạt không được lái tàu nhưng đến năm 1993 ông đã trở lại công việc này, làm cho nhiều hãng tàu khác nhau, lái tàu trên vùng biển Ấn Độ Dương, và hiện nay thuyền trưởng Jeon Jee Yong đã về hưu. Ông gây một trại nuôi hải sản và sinh sống bằng nghề này, bên cạnh người vợ và cô con gái.

Trong số những người được thuyền trưởng cứu vớt là ông Nguyễn Hùng Cường, tác giả cuốn sách.
Sau khi ổn định cuộc sống ở nước Mỹ, quốc gia cho ông tỵ nạn, và sau khi đón được vợ con sang đoàn tụ, tác giả, luôn bị thôi thúc phải gặp lại ân nhân, đã nhất định tìm kiếm. Cuối cùng ông đã toại nguyện. Cộng đồng người Việt đã long trọng tiếp đón, vinh danh vị thuyền trưởng tại Califfornia và báo chí của hai cộng đồng Việt-Hàn đã nhắc nhở đến câu chuyện cảm động này rất nhiều. Sau đó, tác giả lại sang Hàn Quốc để thăm viếng gia đình ân nhân rồi về hưu sớm để hoàn tất cuốn hồi ký và làm nhiều công tác thiện nguyện.
Câu chuyện đã được công ty Thúy Nga đưa lên một băng video. Còn cuốn hồi ký của ông Nguyễn Hùng Cường được đón nhận như thế nào?
Ông Cường nói: "Tôi rất mừng bởi vì lần đầu tiên tôi chỉ in ra có 1 ngàn cuốn và cho đến giờ phút này tôi đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Việt Nam trên toàn thế giới, sách bán rất chạy."
Hành động nhân ái, vị tha của thuyền trưởng Jeon Jee Yong và lòng biết ơn của thuyền nhân Nguyễn Hùng Cường đã gieo mầm cho một tình bạn khắng khít giữa hai người. Nhưng kết quả của cái hạt giống tốt đó đã không chỉ ngưng ở đây, nó còn lan tỏa đi xa hơn thế nữa. Sau buổi lễ vinh danh thuyền trưởng diễn ra tại California năm 2004, tình thân hữu giữa hai cộng đồng Hàn Việt ở Nam California ngày càng nảy nở.
Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện của một doanh nhân Việt Nam mở khách sạn Ramada ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn ở quận Cam, bang California đáng lẽ sẽ khó làm ăn, nhưng ông Cường cho biết:
"Ban đầu thì anh ấy mở dịch vụ khách sạn ấy ở ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn và anh rất là lo bởi vì không biết là có thành công hay không. Nhưng với sự chịu khó làm ăn, và nhất là sự tiếp xúc rất khéo léo của anh, và đặc biệt là qua biến cố hai cộng đồng được tiếp đón vị thuyền trưởng người Đại Hàn thì không ngờ dịch vụ của anh chủ khách sạn đó đã gặt hái được thành công tốt đẹp."

Tác giả Nguyễn Hùng Cường cũng ôm ấp nhiều tâm nguyện khi ngồi viết cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển. Dự tính thứ nhất mà ông đã thực hiện được, đó là gửi số lợi nhuận về giúp cho các cơ quan từ thiện tại Việt Nam qua các vị chân tu của các tôn giáo. Tâm nguyện thứ nhì là tìm người bảo trợ và người phiên dịch cuốn hồi ký từ Việt ngữ sang Hàn ngữ.
Ông Cường nói: "Tôi cũng đang cố gắng để mà thực hiện phần dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Hàn cuốn Tấm Lòng Biển và dĩ nhiên tôi cũng sẽ dùng tất cả những lợi nhuận từ ấn bản bằng tiêng Hàn đó để giúp cho các học sinh nghèo khổ ở bên Hàn quốc mà tôi có thể dùng danh từ mà tôi gọi là bên ngoại, bởi vì đối với cộng đồng Việt Nam thì tôi gọi là bên nội, còn đối với cộng đồng của đất nước Nam Hàn thì tôi gọi là phía bên ngoại. Và tôi cũng sẽ làm tâm nguyện của tôi đối với họ hàng bên ngoại là như vậy. Và cái tâm nguyện thứ ba là nếu trường hợp sau này kết quả đối với cái hãng phim ở bên Đại Hàn như họ từng có đặt vấn đề với tôi, họ muốn quay một cuốn phim từ cuốn Tấm Lòng Biển này thì tôi cũng đã chuyện trò với họ và cũng đã được họ chấp thuận. Tuy nhiên, thủ tục thì chưa đến giai đoạn cuối bởi vì cần phải có những thủ tục về pháp lý thành ra tôi cũng chưa biết là nó sẽ đi về đâu. Tuy nhiên, nếu được kết quả qua kế hoạch để làm phim thì tôi cũng có thể dùng số tiền mà hãng phim có thể trích ra cho tôi để tôi làm một cái foundation, và foundation đó đứng dưới tên của tôi và đứng dưới tên của ông thuyền trưởng và tôi với ông thuyền trưởng sẽ dùng ngân quĩ của foundation đó để giúp cho cô con gái của ông thuyền trưởng được qua du học tại Hoa Kỳ theo như ý nguyện của cô ấy mà tôi đã biết."
Và như hầu hết mọi thuyền nhân tỵ nạn, sau khi đến quốc gia mới để lập lại cuộc đời, ai cũng phải lo hội nhập và tất bật với công ăn việc làm và đủ mọi thứ chuyện. Nhiều người đã quên mất câu chuyện cũ, quên các bạn đồng hành và mất liên lạc với nhau. Câu chuyện của vị thuyền trưởng nhân từ được đưa lên video Paris By Night và trong cuốn hồi ký đã giúp nhóm thuyền nhân 96 người bắt liên lạc lại với nhau. Điển hình là anh Tính Trần, lúc ra đi mới 15 tuổi. Nay thì anh đã có vợ con và làm chủ một cơ sở làm ăn nhỏ, cuộc sống hoàn toàn ổn định.
Anh nói lên cảm nghĩ sau khi xem cuốn băng video và cuốn Tấm Lòng Biển: "Coi cuốn Paris By Night không thôi đã thấy ngậm ngùi rồi. Đọc cuốn sách còn ngậm ngùi hơn nhiều tại vì trong cuốn sách có nhiều chi tiết mà chú Cường liên lạc với ông thuyền trường, người mà mình chịu ơn người ta quá nhiều mà cuối cùng không tài nào kiếm được, chỉ có chú Cường chú ấy bỏ nhiều công sức và thời giờ ra đi kiếm thì chú ấy mới kiếm ra. Đọc thì ngậm ngùi lắm. Cái điểm làm xúc động nhất là ông thuyền trưởng giúp mình mà cuối cùng vì mình mà ông ấy mất việc làm, thì mới cảm thấy là ông ấy hy sinh vì mình quá nhiều mà đôi khi mình là người mang ơn mà không biết tới."
Anh Tính cũng cho biết về ước nguyện của anh đối với vị ân nhân cứu tử. Anh nói: "Em đã nói với chú Cường là ráng làm sao mà gây được một cái quĩ nào để anh em thuyền nhân của mình trong khả năng nhỏ bé của mỗi người mà trả ơn cho người đã cứu vớt mình."
Quí thính giả nào muốn liên lạc với tác giả cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển:
Nguyễn Hùng Cường
(714) 588-4919
huongcuong_dcct@yahoo.com.

Quí vị vừa theo dõi đôi nét về cuốn hồi Ký Tấm Lòng Biển của một thuyền nhân Việt Nam, nói lên lòng biết ơn trước hành động nhân từ, vị tha của thuyền trưởng đã cứu vớt ông và các bạn đồng hành.

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 1996

Việt Nam sử lược

Chương V: Bắc thuộc lần thứ ba (603-939)

I. Nhà Tùy (589-617)

Nhà Tuỳ làm vua bên Tàu được 28 năm thì mất. Trong bấy nhiêu năm thì sử không chép chuyện gì lạ, chỉ nói rằng năm Ất Sửu (605), vua nhà Tuỳ nghe nói ở Lâm Ấp có nhiều của, bèn sai tướng là Lưu Phương đem quân đi đánh.
Vua Lâm Ấp lúc bấy giờ là Phạm Phạm Chí đem quân ra giữ những chỗ hiểm yếu, ở bên này sông Đồ Lê (?) để chống cự với quân Tàu. Nhưng chẳng bao lâu quân Lâm Ấp phải thua bỏ chạy. Lưu Phương thừa thế tiến quân sang sông đuổi đánh, gặp đại binh Lâm Ấp kéo đến, có nhiều voi, thế rất mạnh. Lưu Phương bèn dùng mưu: sai quân đào hố lấy cỏ phủ lên, rồi sai quân ra đánh nhử, giả tảng bại trận. Quân Lâm Ấp đuổi theo được một quãng, voi sa xuống hố, quân sĩ loạn cả. Khi bấy giờ quân Tàu mới quay trở lại lấy cung nỏ bắn, voi khiếp sợ xéo cả lên quân Lâm Ấp mà chạy. Lưu Phương cũng phát bệnh về đến nửa đường thì chết.

II. Nhà Đường (618-907)

1. Chính trị nhà Đường
Năm Mậu Dần (618) nhà Tuỳ mất nước, nhà Đường kế nghiệp làm vua nước Tàu. Đến năm Tân Tị (621) vua Cao Tổ nhà Đường sai Khâu Hoà làm Đại tổng quản sang cai trị Giao Châu.
Từ khi nước ta thuộc về nước Tàu, chỉ có nhà Đường cai trị là nghiệt hơn cả. Nhưng sử chép lược quá: thường hai ba năm mới chép một việc, chắc là những nhà làm sử nước ta sau cứ theo sử Tàu mà chép lại, cho nên mới sơ lược như vậy.
2. An Nam đô hộ phủ
Năm Kỷ Mão (679) vua Cao Tông nhà Đường chia đất Giao Châu ra làm 12 châu, 59 huyện, và đặt An Nam đô hộ phủ (Nhà Đường lúc đó chia nhiều tỉnh bên Tàu ra làm Đô hộ phủ như Tứ Xuyên Đô hộ phủ...Vậy Đô hộ phủ là một chức quan chứ không phải là một chính thể cai trị các thuộc địa như ta hiểu bây giờ).
Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
Mười hai châu nhà Đường là những châu này:
1. Giao Châu: có 8 huyện (Hà Nội, Nam Định v.v…)
2. Lục Châu: có 3 huyện (Quảng Yên, Lạng Sơn)
3. Phúc Lộc Châu: có 3 huyện (Sơn Tây)
4. Phong Châu: có 3 huyện (Sơn Tây)
5. Thang Châu: có 3 huyện (?)
6. Trường Châu: có 4 huyện (?)
7. Chi Châu: có 7 huyện (?)
8. Võ Nga Châu: có 7 huyện (?)
9. Võ An Châu: có 7 huyện (?)
10. Ái Châu: có 6 huyện (Thanh Hoá)
11. Hoan Châu: có 4 huyện (Nghệ An)
12. Diễn Châu: có 7 huyện (Nghệ An)
Ở về phía tây bắc đất Giao Châu lại đặt một châu nữa, gọi là Man Châu, gồm cả những mường ở mạn ấy, lệ cứ hàng năm phải triều cống vua nhà Đường.
Ấy là đại để cách chính trị nhà Đường như vậy. Còn thường thì cũng loạn lạc luôn: Khi thì người trong nước nổi lên đánh phá như Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương: khi thì những nước ở ngoài xâm phạm, như nước Hoàn Vương và nước Nam Chiếu.
3. Mai Hắc Đế (722)
Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường.
Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khoẻ mạnh, thấy quan nhà Đường làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã, ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường, tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp luỹ. Xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế.
Mai Hắc Đế lại kết hiếu với nước Lâm Ấp và nước Chân Lạp để làm ngoại viện.
Vua nhà Đường sai quan Nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang cùng với quan Đô hộ là Quang Sở Khách đi đánh Mai Hắc Đế. Hắc Đế thế yếu chống không nổi phải thua chạy, được ít lâu thì mất.
Nay ở núi Vệ Sơn, huyện Nam Đường, tỉnh Nghệ An, còn có di tích thành cũ của vua Hắc Đế, và ở xã Hương Lãm, huyện Nam Đường còn có đền thờ.
4. Giặc bể
Năm Đinh vị (767) là năm Đại Lịch thứ 2, đời vua Đại Tông nhà Đường, sử chép rằng có quân Côn Lôn và quân Bồ Đà là quân ở những đảo ngoài bể vào cướp phá ở đất Giao Châu, lên vây các châu thành.
Quan Kinh lược sứ là Trương Bá Nghi cùng với quan Đô uý là Cao Chính Bình đem quân đánh phá được lũ giặc ấy. Trương Bá Nghi bèn đắp La thành để phòng giữ phủ trị. La thành khởi đầu từ đấy.
5. Bố Cái Đại Vương (791)
Năm Tân Tị (791) quan Đô hộ là Cao Chính Bình bắt dân đóng sưu thuế nặng quá, lòng người oán giận. Khi bấy giờ ở quận Đường Lâm (bây giờ là làng Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) có người tên là Phùng Hưng nổi lên đem quân về phá phủ đô hộ. Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết. Phùng Hưng mới chiếm giữ phủ thành, được mấy tháng thì mất. Quân sĩ lập con Phùng Hưng là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng mới lập đền thờ và tôn tên là Bố Cái Đại Vương, bởi vì ta gọi cha là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên làm cha mẹ.
Tháng 7 năm Tân Tị ấy, vua nhà Đường sai Triệu Xương sang làm Đô hộ. Phùng An liệu thế chống không nổi xin ra hàng.
6. Việc đánh nước Hoàn Vương
Nước Lâm Ấp từ khi bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương sang đánh, rồi quốc vương là Phạm Phạm Chí dâng biểu tạ tội và xin triều cống như cũ. Đến quãng năm Trinh Quan đời vua Thái Tông nhà Đường, vua Lâm Ấp là Phạm Đầu Lê mất, con là Phạm Trấn Long cũng bị người giết, dân trong ấp mới lập người con của bà cô Phạm Đầu Lê, tên là Chư Cát Địa lên làm vua.
Chư Cát Địa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương quốc. Từ đó về sau thường thường người nước Hoàn Vương lại sang quấy nhiễu ở Giao Châu, và chiếm giữ lấy Châu Hoan và Châu Ái.
Năm Mậu Tí (808) đời vua Hiến Tông, Quan Đô hộ là Trương Chu đem binh thuyền đi đánh, giết hại quân Hoàn Vương rất nhiều. Vua nước ấy bèn lui về ở phía Nam (ở vào quãng tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi bây giờ) và đổi quốc hiệu là Chiêm Thành.
7. Nam Chiêu cướp phá Giao Châu
Về cuối đời nhà Đường, quan lại Tàu lắm người chỉ vì tư lợi, ức hiếp nhân dân như Đô hộ Lý Trác cứ vào những chợ ở chỗ Mường Mán mua trâu, mua ngựa, mỗi con chỉ trả có một đấu muối, rồi lại giết tù trưởng Mán là Đỗ Tồn Thành. Vì thế cho nên người Mường Mán tức giận bèn dụ người Nam Chiếu sang cướp phá, làm cho dân Giao Châu khổ sở trong 10 năm trời.
Ở phía tây bắc đất Giao Châu, tức là ở phía tây tỉnh Vân Nam bây giờ có một xứ người nòi Thái ở. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Trước có 6 chiếu là Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, Chiếu Mông Xá ở về phía nam cho nên gọi là Nam Chiếu.
Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan Tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho và đặt tên là Quy Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) rồi rời đô lên đóng ở thành Thái Hoà (thành Đại Lý bây giờ).
Năm Bính Dần (846) quân Nam Chiếu sang cướp ở Giao Châu, quan Kinh lược sứ là Bùi Nguyên Dụ đem quân đánh đuổi đi.
Năm Mậu Dần (858), nhà Đường sai Vương Thức sang làm Kinh lược sứ. Vương Thức là người có tài lược, trị dân có phép tắc, cho nên những giặc giã đều dẹp yên được cả, mà quân Mường và quân Nam Chiếu cũng không dám sang quấy nhiễu.
Năm Canh thìn (860), nhà Đường gọi Vương Thức về làm quan Sát sứ ở Tích Đông và sai Lý Hộ sang làm Đô hộ.
Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng là đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ. Lý Hộ giết người tù trưởng là Đỗ Thủ Trừng, người Mường lại đi dụ quân Nam Chiếu sang đánh lấy mất phủ thành. Lý Hộ phải bỏ chạy về Tàu. Vương Khoan đem binh sang cứu, quân Nam Chiếu bỏ thành rút về.
Năm Nhâm Ngọ (862), quân Nam Chiếu đánh Giao Châu, nhà Đường sai Thái Tập đem ba vạn quân sang chống giữ. Quân Nam Chiếu thấy quân nhà Đường nhiều lại rút về. Bấy giờ có quan Tiết độ sứ Lĩnh Nam là Thái Kinh, sợ Thái Tập lập được công to bèn mật tâu với vua nhà Đường rằng ở Giao Châu đã yên, thì nên rút quân về. Thái Tập xin để lại 5.000 quân cũng không được.
Tháng Giêng năm Quý Mùi (863), Nam Chiếu đem 50.000 quân sang đánh phủ thành. Thái Tập cầu cứu không kịp, thế bức quá phải tự tử. Trận ấy có tướng nhà Đường là Nguyên Duy Đức đem hơn 400 quân Kinh Nam chạy ra đến bờ sông, thuyền bè không có, Nguyên Duy Đức bảo chúng rằng chạy xuống nước cũng chết, bất nhược trở lại đánh nhau với giặc, một người đổi lấy hai người chẳng lợi hơn sao. Nói đoạn quay trở lại giết được hơn 2000 người, nhưng đêm đến tướng Nam Chiếu là Dương Tư Tấn đem binh đến đánh, bọn Nguyên Duy Đức chết cả.
Quân Nam Chiếu vào thành giết hại nhiều người. Sử chép rằng Nam Chiếu hai lần sang đánh phủ thành, giết người Giao Châu hơn 15 vạn.
Vua Nam Chiếu là Mông Thế Long cho Dương Tư Tấn quản lĩnh 20.000 quân và cho Đoàn Tù Thiên làm Tiết độ sứ ở lại giữ Giao Châu.
Vua nhà Đường hạ chỉ đem An Nam Đô hộ phủ về đóng ở Hải Môn (?), rồi lấy quân các đạo về ở Lĩnh Nam và đóng thuyền lớn để tải lương thực, đợi ngày tiến binh.
Mùa thu năm Giáp Thân (864) vua nhà Đường sai tướng là Cao Biền sang đánh quân Nam Chiếu ở Giao Châu.
8. Cao Biền bình giặc Nam Chiêu
Cao Biền là người tướng giỏi nhà Đường, vốn dòng võ tướng môn, tính ham văn học, quân sĩ đều có lòng mến phục.
Năm Ất Dậu (865), Cao Biền cùng với quan Giám quân là Lý Duy Chu đưa quân ra đóng ở Hải Môn. Nhưng Lý Duy Chu không ưa Cao Biền, muốn tìm mưu làm hại. Hai người bàn định tiến quân. Cao Biền dẫn 5000 quân đi trước, Lý Duy không phát binh tiếp ứng.
Tháng 9 năm ấy quân rợ đang gặt lúa ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), Cao Biền đến đánh lén một trận, giết được nhiều người, rồi lấy thóc gạo nuôi quân lính.
Đến tháng 4 năm sau (866), Nam Chiếu cho bọn Dương Tập, Phạm Nê Ta, Triệu Nặc Mi sang giúp Đoàn Tù Thiên để giữ Giao Châu. Khi bấy giờ có tướng nhà Đường là Lý Trọng Tể đem 7000 quân mới sang, Cao Biền nhân dịp đó mới phát binh được mấy trận, cho người đưa tin thắng trận về kinh, nhưng đi đến Hải Môn, Lý Duy Chu giữ lại, không cho triều đình biết.
Trong triều mãi không thấy tin tức gì, cho hỏi han thì Lý Duy Chu tâu dối rằng Cao Biền đóng quân ở Phong Châu không chịu đánh giặc. Vua nghe tin ấy, nổi giận sai Vương Án Quyền ra thay, và đòi Cao Biền về hỏi tội. Ngay tháng ấy Cao Biền phá quân Nam Chiếu và vây thành La Thành đã được hơn 10 ngày rồi, chỉ nay mai là lấy được, bỗng chốc được tin Vương Án Quyền và Lý Duy Chu sang thay. Cao Biền liền giao binh quyền cho Vi Trọng Tể, rồi cùng mấy người thủ hạ về Bắc. Nhưng trước Cao Biền đã cho người đi lẻn về kinh dâng biểu tâu rõ tình trạng. Vua Đường biết rõ sự tình, mừng lắm, lại cho Cao Biền thăng trật và sai trở sang cầm quân đánh Nam Chiếu.
Bọn Vương Án Quyền và Lý Duy Chu lười biếng không vây đánh gì cả, đến khi Cao Biền trở sang mới đốc quân binh đánh thành, giết được Đoàn Tù Thiên và người Thổ làm hướng đạo là Chu Cổ Đạo. Còn những động Mán Thổ ở các nơi xin về hàng rất nhiều.
Đất Giao Châu bị Nam Chiếu phá hại vừa 10 năm, đến bấy giờ Cao Biền lại lấy lại, đem về nội thuộc nhà Đường như cũ.
9. Công việc của Cao Biền
Vua nhà Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải, phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ. Cao Biền chỉnh đốn mọi công việc, lập đồn ải ở mạn biên thuỳ để phòng giữ giặc giã, làm sổ sưu thuế để chi dụng việc công (có người bảo rằng người Việt Nam ta phải đóng sưu thuế khởi đầu từ Cao Biền).
Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch. Thành ấy bốn mặt dài hơn 1982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước, đắp một đường đê bao bọc ở ngoài dài hơn 2125 trượng linh 8 thước, cao một trượng rưỡi, dày 2 trượng. Trong thành cho dân sự làm nhà hơn 40 vạn nóc (?).
Sử chép rằng Cao Biền dùng phép phù thủy khiến thiên lôi phá những thác ghềnh ở các sông để cho thuyền bè đi được. Thiên lôi ấy có lẽ là Cao Biền dùng thuốc súng chăng?
Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường cứ cưỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp, và hại mất nhiều long mạch.
Năm Ất Tỵ (875) vua Đường sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ ở Tây Xuyên (Tứ Xuyên). Biền dâng người cháu họ là Cao Tầm làm Tiết độ sứ ở Giao Châu.
Nhà Đường tuy lấy lại được đất Giao Châu nhưng bên Tàu lại sắp loạn, giặc cướp dần dần nổi lên, ngôi nhà vua cũng dần dần sắp đổ, nước Tàu lại chia rẽ làm mấy nước, cho nên ở xứ Giao Châu cũng có sự biến cải.
10. Sự trị loạn của nước Tàu
Xét chuyện nước Tàu từ đời nhà Hán cho đến đời bấy giờ, cứ mỗi nhà lên cầm quyền chính trị được vài ba trăm năm, rồi trong nước lại biến loạn, nam bắc phân tranh độ chừng năm bảy mươi năm, khi ấy có một nhà đứng lên dẹp loạn yên nước, lập nên cơ nghiệp một nhà khác.
Phàm sự trị loạn thay đổi trong một xã hội là thường lý, nhưng chỉ lạ có một điều mấy lần bên Tàu loạn cũng tương tự như nhau cả. Xem như khi nhà Hán suy, thì nước Tàu phải cái loạn Tam quốc; hết Tam quốc thì có nhà Tấn thống nhất. Đến khi nhà Tấn suy, thì có Nam Bắc triều; hết Nam Bắc triều thì có nhà Đường nhất thống. Nay nhà Đường suy lại phải cái loạn đời Ngũ Quý. Cái cơ hội trị loạn bên Tàu giống nhau như thế là cũng có lẽ tại cái phong tục và cái xã hội của Tàu. Sự giáo dục không thay đổi, nhân quần trong nước không tiến bộ, cách tư tưởng không khai hoá, cho nên nước tuy lâu đời, mà trình độ xã hội vẫn đứng nguyên một chỗ. Khi có biến loạn là chỉ có mấy người có quyền thế tranh cạnh với nhau, chứ dân trong nước thì hễ thấy bên nào mạnh là làm tôi bên ấy. Nhà Hán làm vua là dân nhà Hán, nhà Đường làm vùa là dân nhà Đường, việc gì cũng đổ cho thiên mệnh, làm dân chỉ biết thuận thụ một bề mà thôi.
Xứ Giao Châu mình tự đời nhà Hán cho đến đời Ngũ Quý vẫn là đất nội thuộc của Tàu, cho nên sự trị loạn bên Tàu cũng ảnh hưởng đến nước mình. Nhờ khi bên Tàu loạn lạc, người Tàu phải bận việc nước, thì bên Giao Châu cũng rục rịch tự lập được năm ba năm. Nhưng chỉ vì nước thì nhỏ, người thì ít, cho nên không thành công được.

III. Đời Ngũ Quý (907-959)

1. Tình thế nước Tàu
Năm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quý hay là Ngũ Đại.
2. Họ Khúc dấy nghiệp: Khúc Thừa Dụ (906-907)
Trước khi nhà Đường sắp mất ngôi độ mấy năm, thì bên Tàu loạn, giặc cướp nổi lên khắp cả mọi nơi. Uy quyền nhà vua không ra đến ngoài, thế lực ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương. Ở Giao Châu, lúc bấy giờ có một người họ là Khúc tên là Thừa Dụ, quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bình Giang và Ninh Giang ở Hải Dương). Khúc Thừa Dụ vốn là một người hào phú trong xứ, mà tính lại khoan hoà, hay thương người, cho nên nhiều người kính phục. Năm Bính Dần (906) đời vua Chiêu Tuyên nhà Đường, nhân khi trong châu có loạn, dân chúng cử ông ấy lên làm Tiết độ sứ để cai trị Giao Châu. Nhà Đường bấy giờ suy nhược, thế không ngăn cấm được, cũng thuận cho ông ấy làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ và gia phong Đồng bình chương sự.
Năm sau nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ẩn làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại Giao Châu.
Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ được non một năm thì mất, giao quyền lại cho con là Khúc Hạo.
3. Khúc Họa (907-917)
Khúc Hạo lên thay cha làm Tiết độ sứ, lập ra lộ, phủ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang việc thuế má, việc sưu dịch và lại cho con là Khúc Thừa Mỹ sang sứ bên Quảng Châu, tiếng là kết hiếu với nhau, nhưng cốt để dò thám mọi việc hư thực.
Lưu Ẩn ở Quảng Châu đóng phủ trị ở Phiên Ngưng được 4 năm thì mất. Em là Lưu Cung (trước gọi là Lưu Nham) lên thay. Được ít lâu, nhân có việc bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu (947) cải quốc hiệu là Nam Hán.
4. Khúc Thừa Mỹ (917-923)
Năm Đinh Sửu (917) Khúc Hạo mất, truyền nghiệp lại cho con là Khúc Thừa Mỹ. Khúc Thừa Mỹ nhận chức Tiết độ sứ của nhà Lương, chứ không thần phục nhà Nam Hán. Vua nước Nam Hán lấy sự ấy làm hiềm, đến năm Quý Mùi (923) sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến sang làm Thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
5. Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiện (931-938)
Năm Tân Mão (931), Dương Diên Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước mới nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự xưng làm Tiết độ sứ. Được 6 năm, Dương Diên Nghệ bị người nha tướng là Kiều Công Tiện giết đi mà cướp lấy quyền.
6. Ngô Quyền phá quân Nam Hán
Khi ấy có người tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền cử binh đánh Kiều Công Tiện để báo thù cho chúa. Ngô Quyền là người làng Đường Lâm, cùng một làng với Phùng Hưng ngày trước (huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) làm quan với Dương Diên Nghệ. Dương Diên Nghệ thấy người có tài trí mới gả con gái cho, và phong cho vào giữ Ái Châu (Thanh Hóa). Khi được tin Kiều Công Tiện đã giết mất Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền liền đem quân ra đánh.
Kiều Công Tiện cho sang cầu cứu ở bên Nam Hán, Hán chủ nhân dịp cho thái tử là Hoằng Tháo đưa quân đi trước, mình tự dẫn quân đi tiếp ứng.
Khi quân Hoằng Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng, thì bên này Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiện (938), rồi một mặt truyền lệnh cho quân sĩ phải hết sức phòng bị, một mặt thì sai người lấy gỗ cặp sắt nhọn, cắm ngầm ở dưới lòng sông Bạch Đằng, xong rồi chờ đến lúc nước thủy triều lên, cho quân ra khiêu chiến; quân Nam Hán đuổi theo, đến lúc nước xuống, Ngô Quyền hồi quân đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy, bao nhiêu thuyền mắc vào cọc gỗ thủng nát mất cả, người chết quá nửa. Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt được, đem về giết đi.
Hán chủ được tin ấy, òa khóc lên, rồi đem quân về Phiên Ngung, không dám sang quấy nhiễu nữa.
Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch, bảo toàn được nước, thật là một người trung nghĩa lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được cái ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy.