Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015


Chánh niệm: một điều trị sức khỏe tâm thần có hiệu quả nhưng không phải là một thuốc chữa bách bệnh

Đó là giá rẻ với một loạt các lợi ích sức khỏe - nhưng có một thiếu giáo viên và cung cấp NHS là chắp vá


Hình ảnh ảo giác của một chất lỏng đầu cảm động.
 Chánh niệm dựa trên liệu pháp nhận thức có thể có hiệu quả như thuốc điều trị trầm cảm tái diễn, nghiên cứu đã tìm thấy. Ảnh: Fredrik Sköld / Alamy

Nó có thể là một thực hành Phật giáo cổ xưa, đồng chọn tham gia và bóp méo bởi các học viên người nổi tiếng, nhưng các nhà khoa học và các học viên y tế đã phát hiện ra rằng chánh niệm có những lợi ích cụ thể cho bệnh nhân tâm thần. Các chuyên gia y tế, quá, đang bắt đầu để mang nó nghiêm túc.
Tư vấn tâm thần học Tiến sĩ Florian Ruths giải thích lý do tại sao: "MBCT [ chánh niệm dựa trên liệu pháp nhận thức ] là một sự can thiệp mạnh mẽ -đó là không lông hoặc thay thế. Các MBCT khóa học được dựa trên nghiên cứu khoa học vững chắc, và Nice [Viện Y tế Quốc gia và Chăm sóc sắc] đã đề nghị nó kể từ năm 2005 để giữ cho bệnh nhân bị tái phát trầm cảm dễ bị tổn thương trầm cảm-miễn phí. "


Tháng trước, nghiên cứu phát hiện ra rằng MBCT có thể có hiệu quả như thuốc điều trị trầm cảm tái phát, và có thể làm việc tốt hơn so với dùng thuốc cho bệnh nhân có tiền sử lạm dụng thời thơ ấu.
The Oxford Centre Niệm , một phần của Đại học khoa tâm thần học Oxford, đã tìm thấy rằng khoá học MBCT giảm nguy cơ tái phát vào trầm cảm bằng 44%. Có bằng chứng mới cho thấy MBCT cũng có hiệu quả trong điều trị rối loạn lo âu, căng thẳng và điều kiện sức khỏe tâm thần khác. Bệnh nhân ung thư cũng đã được hưởng lợi từ nó.
Nhưng bất chấp những phát hiện này, chánh niệm là không thích hợp cho một số nhóm bệnh nhân như Tiến sĩ Christina Surawy, một nhà tâm lý học lâm sàng, cảnh báo: "MBCT là không thích hợp cho những bệnh nhân trong sự kìm kẹp của một phụ thuộc ma túy hoặc rượu, vì họ sẽ không có thể tham gia đầy đủ các liệu pháp. Ngoài ra, bệnh nhân gần đây có tang chế, có thể thấy MBCT quá áp đảo. "Ruths vang những mối quan tâm, và nói thêm rằng nó không phải là hữu ích cho các bệnh nhân trong cơn trầm cảm nặng. Những bệnh nhân này nên đợi đến khi phục hồi đến một trạng thái nhẹ hoặc vừa phải trước khi tham gia với MBCT.
Ruths cho biết thêm rằng không giống như một số thuốc điều trị, tác dụng phụ rất hiếm với MBCT, dù "tác dụng phụ nhẹ như một giảm tạm thời trong tâm trạng trước khi có cải thiện tâm trạng, được phổ biến hơn nhưng quản lý". Ông nhấn mạnh rằng điều quan trọng là cho MBCT trị liệu để được đào tạo để đối phó với bất kỳ tác dụng phụ và hỗ trợ bệnh nhân của mình một cách thích hợp.


Tình trạng thiếu giáo viên MBCT đúng trình độ, và sự cần thiết phải mở rộng quyền truy cập vào các can thiệp dựa trên chánh niệm cho những người có điều kiện lâu dài, đã được ghi nhận trong chánh niệm tất cả các bên của năm nay báo cáo tạm thời của quốc hội nhóm, Mindful quốc Anh . Báo cáo mô tả tâm niệm như "một, can thiệp chi phí thấp hiệu quả với một loạt các lợi ích".
Giữa lúc cao điểm để đào tạo đủ giáo viên MBCT để đáp ứng nhu cầu tăng cao, nỗ lực đang được thực hiện để tránh bất kỳ sự suy giảm chất lượng của thực hành. Anh Network cho Mindfulness-Based Giáo viên đã được sản xuất hướng dẫn thực hành tốt tất cả giáo viên MBCT nên tuân theo.
Tiến sĩ Clara Strauss, chì nghiên cứu tại SussexNiệm Centre, nhấn mạnh rằng các giáo viên MBCT trong đào tạo tìm hiểu để có một thái độ chấp nhận: "Chánh niệm không phải là về việc thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực, nó về học tập để ngồi với và chịu đựng tất cả những kinh nghiệm của chúng tôi, bao gồm cả kinh nghiệm khó khăn, với lòng từ bi đối với chúng ta.
"Một giáo viên thiếu kinh nghiệm có thể đáp ứng với cuộc đấu tranh của một người với kinh nghiệm khó khăn với sự phán xét ​​vô ý, khuyến khích người để cố gắng tránh hoặc thay đổi này, và do đó, điều quan trọng là đào tạo MBCT là kỹ lưỡng và rằng các hướng dẫn thực hành tốt được theo sau. Một tảng của các hướng dẫn thực hành tốt là giáo viên MBCT có một thực tập chánh niệm cá nhân được thành lập và đánh giá cao bản chất chung của khổ đau của con người, chứ không phải dạy từ một lập trường hoàn toàn trí tuệ. "
Giáo sư Willem Kuyken, giám đốc Mindfulness Trung tâm Oxford, dẫn Dự án Aspire , một nghiên cứu được thành lập vào năm 2013 để điều tra truy cập của bệnh nhân để MBCT trên khắp nước Anh. Ông nói tiếp cận với MBCT suốt NHS là chắp vá và "hiệu quả xổ số mã bưu điện".


"Để cải thiện tiếp cận MBCT chúng ta cần một sự kết hợp của hành động từ trên xuống, chẳng hạn như nhận ủy viên và các nhà quản lý cấp cao trên tàu, và hành động từ dưới lên ... giáo viên chánh niệm chủ động và giảng viên thiết lập các dịch vụ địa phương có chất lượng cao và khuyến khích GPs để chỉ bệnh nhân sẽ được hưởng lợi từ điều trị MBCT, "ông nói. Nhưng Kuyken thừa nhận môi trường tài chính khó khăn có nghĩa là tin tưởng sức khỏe tâm thần thường không thể làm cho MBCT một ưu tiên: ". Kinh doanh cốt lõi của họ là điều trị các căn bệnh nghiêm trọng hơn là ngăn ngừa tái phát, trong đó có thể có nghĩa là phương pháp điều trị như MBCT được ngồi ngoài"
Bất chấp sức ép về tài nguyên, có những ví dụ thành công NHS cung cấp dịch vụ dựa trên chánh niệm, bao gồm cả Trung tâm Nottingham cho chánh niệm . Thiết lập vào năm 2010, dịch vụ này đã được đào tạo khoảng 100 giáo viên MBCT (chủ yếu là các y tá, bác sĩ và các nhà tâm lý học) và chữa trị cho hơn 1.000 bệnh nhân.
Tim Sweeney, MBCT dẫn lâm sàng tại trung tâm, mô tả sự tiến bộ của mình: "Dân số bệnh nhân đã đón MBCT. Phản hồi bằng lời nói và bằng văn bản của bệnh nhân đã được phần lớn rất tích cực và các biện pháp của trầm cảm và lo âu trong chương trình trung bình giảm đáng kể sau khóa học.
"Đối mặt với sự cắt giảm ngân sách, nó được tương đối đơn giản để tích hợp MBCT vào sự tin tưởng của chúng tôi. Đó là không có trí tuệ: các lập luận ủng hộ chồng lên cho cả bệnh nhân và nhân viên. Nó có hiệu quả, và có thể được thực hiện có sẵn cho số lượng lớn người dân như là một can thiệp nhóm ... Thật hiếm cho bệnh nhân để tìm thấy nó vô ích, và nghiên cứu đã tìm thấy rằng các kết quả được so sánh với điều trị bằng thuốc chống trầm cảm đang diễn ra. "

Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes

Cựu Đại sứ Du lịch Việt Nam diện trang phục cổ điển, sang trọng, không kém cạnh sắc vóc khi chụp ảnh cùng ngôi sao đình đám Trung Quốc.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Lý Nhã Kỳ nhận lời tham dự Liên hoan phim Cannes lần thứ 68, diễn ra tại Pháp từ 13 đến 24/5. Ngày 13/5 (giờ Pháp), người đẹp Việt diện trang phục ren sang trọng, xuất hiện nổi bật tại sự kiện điện ảnh quốc tế, quy tụ các ngôi sao đình đám thế giới. Tại đây, nữ diễn viên Mùa hè lạnh có dịp gặp gỡ và chụp ảnh cùng Phạm Băng Băng. Ngôi sao Hoa ngữ thu hút giới truyền thông với bộ váy dạ hội thêu hoa lộng lẫy. Trang phục chỉn chu giúp người đẹp Việt không kém cạnh về sắc vóc khi chụp ảnh cùng nàng Hoa đán.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Khi bước vào buổi tiệc sau đó, Phạm Băng Băng thay đổi xiêm y. Cô khoác lên mình bộ cánh in hoa thanh lịch, sắc màu tươi trẻ. Trang phục cổ điển cùng lối trang điểm nhẹ nhàng giúp Lý Nhã Kỳ tự tin trò chuyện, giao lưu cùng "nàng Võ Mỵ Nương".
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Lý Nhã Kỳ và ê-kíp khéo léo chọn trang phục dự tiệc ren trắng, giúp cô nổi bật trên thảm đỏ sự kiện điện ảnh Cannes.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Phong cách trang điểm mô phỏng từ diễn viên huyền thoại Audrey Hepburn ăn nhập với bộ cánh mang âm hưởng thời trang những năm 70.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Nữ diễn viên Mùa hè lạnh lộng lẫy trong bộ cánh ren tối giản và tinh tế. Trang sức kim cương và phụ kiện clutch hợp tổng thể.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Phong cách thời trang của Lý Nhã Kỳ tạo được ấn tượng với giới truyền thông Pháp.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Mỗi lần tham dự các sự kiện quốc tế, Lý Nhã Lỳ đều để lại dấu ấn riêng, giúp cô khẳng định phong cách và được ghi nhận là một trong những biểu tượng thời trang đẳng cấp của làng giải trí Việt.
Lý Nhã Kỳ đọ sắc Phạm Băng Băng trên thảm đỏ Cannes
Người đẹp Việt tiếp tục được truyền thông Pháp chú ý khi bước vào sảnh tiệc.
Ảnh: Lê Thiện Viễn

Sự thật về bức thư Lưu Quang Vũ gửi Xuân Quỳnh đang xôn xao dư luận

Theo PGS.TS Lưu Khánh Thơ, việc cộng đồng mạng xã hội lan truyền, ngợi ca bức thư nói trên khiến gia đình cố nhà thơ cảm động và tự hào.

Ngày 11/5, một trang fanpage đăng tải bức thư của nhà thơ Lưu Quang Vũ gửi cho vợ là nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. Bức thư tình lãng mạn với dòng chữ mực xanh ngay ngắn ngay lập tức gây sốt trên mạng xã hội.

Tuy nhiên, đại diện gia đình nhà thơ Lưu Quang Vũ đã đưa ra những ý kiến xác thực về nguồn gốc bức thư này.

Bức thư chép tay đang gây nhiều tranh cãi
Bức thư chép tay đang gây nhiều tranh cãi

Bức thư được cho là của nhà thơ, nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ gửi cho vợ (thi sĩ Xuân Quỳnh) được đăng tải trên mạng xã hội đã như những con sóng lan truyền tới cộng đồng và nhiều bình luận, tranh cãi.

Số đông người hâm mộ bày tỏ sự ngưỡng mộ tình yêu của hai thi sĩ nổi tiếng đồng thời đưa ra lời khen về nét chữ - nét người của nhà thơ Lưu Quang Vũ. Bên cạnh đó cũng nảy ra nhiều phản biện cho rằng đây chỉ là bức thư được người khác chép lại và đang gây ra những hiểu nhầm.

Một trong số những bút tích của nhà thơ Lưu Quang Vũ
Một trong số những bút tích của nhà thơ Lưu Quang Vũ

Sáng ngày 13/5, PV Báo Gia đình & Xã hội đã liên hệ với PGS.TS Lưu Khánh Thơ - em gái của nhà thơ Lưu Quang Vũ, cũng là người đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu công phu về cuộc đời, sự nghiệp của cố nhà thơ Lưu Quang Vũ nhằm xác minh lại nguồn gốc bức thư này.

"Những ngày vừa qua, tôi đã tiếp nhận rất nhiều thông tin về bức thư nói trên. Tôi xin khẳng định rằng, nội dung bức thư là hoàn toàn chính xác của anh trai tôi - nhà thơ Lưu Quang Vũ - gửi nhà thơ Xuân Quỳnh. Còn về hình thức, đó hoàn toàn không phải bức thư gốc do chính tay anh tôi viết".

PSG.TS Lưu Khánh Thơ
PSG.TS Lưu Khánh Thơ

PGS.TS Lưu Khánh Thơ cũng cho biết thêm, hiện những tài liệu về tác phẩm, bút tích của nhà thơ Lưu Quang Vũ đã được bà đưa vào những công trình nghiên cứu và kho tư liệu của gia đình. Theo PGS.TS Lưu Khánh Thơ, việc cộng đồng mạng xã hội lan truyền, ngợi ca bức thư nói trên khiến gia đình cố nhà thơ cảm động và tự hào. Tuy nhiên, xét ở góc độ khác thì những hiểu nhầm về hình thức bức thư cũng cần được xác nhận rõ ràng và không thể tiếp tục lan truyền những thông tin sai lệch.

Bà Lưu Khánh Thơ cho biết, vì lý do công việc nên những tài liệu liên quan đến toàn bộ bức thư trên sẽ được bà cung cấp trong một vài ngày tới. Hiện tại, bà và những người trong gia đình đều đã nắm được thông tin đang gây tranh luận trên mạng xã hội những ngày vừa qua nhưng thông tin đó được bắt đầu từ đâu, ai là người "sao chép" bức thư thì gia đình cố nhà thơ chưa biết.

Bản gốc bức thư Sao chép khi chưa xử lý hình ảnh
Bản gốc bức thư "Sao chép" khi chưa xử lý hình ảnh

Sau nhiều tranh luận, một số nguồn tin trên mạng xã hội cho biết, bức thư "sao chép" xuất phát là từ một bạn nữ vốn hâm mộ hai thi sĩ Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh nên đã chép lại bức thư của nhà thơ Lưu Quang Vũ và chia sẻ trên trang cá nhân cách đây 4, 5 năm. Hình ảnh bức thư "sao chép" này được người khác lấy lại, làm hiệu ứng cho cũ hơn, giống với màu giấy mực của những năm 1970 và đăng tải, chia sẻ với nhiều người.

Nhắc đến hai thi sĩ tài hoa Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, người ta không chỉ nhớ tới những sáng tác nổi tiếng như: Nàng Sita (Lưu Quang Vũ); Sóng (Xuân Quỳnh), Hoa cỏ may (Xuân Quỳnh)… mà còn bởi mối tình đầy kỉ niệm của họ.

Theo Thùy Phương
Báo Gia đình & Xã hội

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Việt-Nam : Trung Quốc trơ trẽn: Xây đảo ở Trường Sa để thực...

Việt-Nam :

Trung Quốc trơ trẽn: Xây đảo ở Trường Sa để thực...
: Trung Quốc trơ trẽn: Xây đảo ở Trường Sa để thực hiện nghĩa vụ quốc tế (GDVN) - Ngụy biện trơ trẽn đại loại như bà Hoa Xuân Oánh đưa r...



Trung Quốc trơ trẽn: Xây đảo ở Trường Sa để thực hiện nghĩa vụ quốc tế

(GDVN) - Ngụy biện trơ trẽn đại loại như bà Hoa Xuân Oánh đưa ra không thể đánh tráo được bản chất hung hăng, bất chấp luật pháp quốc tế mà Trung Quốc đang làm.

Bà Hoa Xuân Oánh trong cuộc họp báo ngày hôm qua của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

   Tân Hoa Xã ngày 8/5 dẫn lời bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng, việc nước này xây dựng một số tính năng hàng hải (thực tế là các đảo nhân tạo bất hợp pháp, bao gồm sân bay và sẽ trở thành pháo đài quân sự) ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) là để thực hiện tốt hơn trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc, cũng như nghĩa vụ trong việc tìm kiếm cứu nạn hàng hải, đảm bảo an ninh hàng hải, nghiên cứu khoa học biển.
Hoa Xuân Oánh trích dẫn vi dụ trong tháng 2/1987 phiên họp lần thứ 14 Đại hội đồng Ủy ban Hải dương học liên chính phủ (IOC) của UNESCO thông qua kế hoạch mới về quan sát mực nước biển toàn cầu đã "giao cho" Trung Quốc xây dựng 5 trong số 200 trạm quan sát biển trên toàn thế giới. Chưa bàn đến thông tin này đúng hay sai, nhưng nó vô giá trị, vô nghĩa, vô lý và phi pháp khi Trung Quốc đang tiến hành xây dựng trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
7 điểm đảo mà Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp họ đã dùng quân xâm lược, chiếm đóng bất hợp pháp từ năm 1988, 1995. Đến bây giờ Bắc Kinh vẫn ra rả tuyên truyền họ có cái gọi là "chủ quyền không tranh cãi" với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cũng như gần 90% diện tích Biển Đông, nhưng cứ hỏi đến bằng chứng thì Bắc Kinh lại lờ tịt hoặc tìm cách đánh trống lảng. Hoạt động cải tạo, xây dựng của Trung Quốc hiện nay ở Trường Sa là hoàn toàn phi pháp, vô giá trị vì nó đang được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam - PV.
Bà Oánh nói tiếp, về quy mô xây dựng (bất hợp pháp) ở Trường Sa, vì Trung Quốc là nước lớn "nhận trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế giao phó", quy mô công trình xây dựng của Trung Quốc cần tương xứng với trách nhiệm, nghĩa vụ của một nước lớn và đáp ứng nhu cầu thực tế. Đây là tuyên bố khôi hài, trơ trẽn đến mức khó có thể tưởng tượng. Sau khi xâm lược, chiếm đóng 6 bãi đá của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã dựng lên 6 pháo đài kiên cố, đặt vũ khí và quân đồn trú trái phép.
Pháo đài quân sự kiên cố và binh lính Trung Quốc đồn trú trái phép tại đá Chữ Thập, Trường Sa, Khánh Hòa, Việt Nam.

  Năm 1999, Trung Quốc chiếm tiếp đá Vành Khăn và tuyên bố xây dựng "nơi trú ẩn cho ngư dân". Kết quả là nơi trú ẩn đâu không thấy, một công sự nhà nổi quân sự kiên cố đã mọc lên cùng đầy đủ ụ súng, pháo đài. Ngày nay, trên các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp trên 7 bãi đá Chữ Thập, Gạc Ma, Xu Bi, Ga Ven, Tư Nghĩa, Châu Viên, Vành Khăn với tổng diện tích lên tới 2000 mẫu Anh, theo Lầu Năm Góc, và vẫn đang tiếp tục phình ra. Pháo đài, ụ súng, tháp canh, radar cũng đã được nhìn thấy.
Theo cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trong buổi họp báo hôm 8/5 có người đề nghị Bắc Kinh bình luận về việc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) công bố hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Việt Nam "cải tạo đất lớn" ở Biển Đông, Hoa Xuân Oánh nói rằng bà chưa thấy báo cáo mà phóng viên đề cập. Nói rồi bà Oánh tiếp tục luận điệu vu vạ, chụp mũ cho Philippines, Việt Nam "từ lâu đã tiến hành xây dựng, cải tạo quy mô lớn" ở cái gọi là "quần đảo Nam Sa".
Trong ngày 8/4, Reuters dẫn nguồn tin từ CSIS nói rằng Việt Nam đã cải tạo, xây dựng căn cứ ở đảo Sơn Ca và bãi đá Tây và dường như công việc này bắt đầu từ trước khi Trung Quốc thực hiện một loạt dự án cải tạo, xây dựng (bất hợp pháp). Mira Rapp Hopper, Giám đốc Sáng kiến châu Á về các vấn đề hàng hải của CSIS nói với Reutes rằng, đúng là Việt Nam có xây dựng, cải tạo ở 2 điểm này, nhưng so với quy mô và mức độ thì thua xa hoạt động xây dựng cải tạo của Trung Quốc.
Bà cho rằng, hỉnh ảnh chụp vệ tinh cho thấy Việt Nam đã mở rộng 65 ngàn mét vuông ở đá Tây và 21 ngàn mét vuông ở đảo Sơn Ca. Nhưng chỉ riêng đá Chữ Thập, Trung Quốc đã bồi lấp 900 ngàn mét vuông. Trước tháng 1/2014 Trung Quốc mới chỉ bồi lấp (phi pháp) được 5 héc ta, nhưng diện tích này đã tăng vọt lên 800 héc ta hiện nay, rộng hơn 400 lần chỉ sau một năm. Diện tích Việt Nam mở rộng kể từ tháng 1/2009 đến nay là khoảng 24 héc ta, Reuters dẫn nguồn tin Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết.
Ảnh chụp vệ tinh đảo nhân tạo bất hợp pháp Trung Quốc tạo ra ở đá Tư Nghĩa tháng 11/2014.

Vấn đề cốt lõi ở đây đầu tiên là các hoạt động xây dựng, cải tạo của Việt Nam hoàn toàn diễn ra trong vùng biển đảo thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam, khác hoàn toàn về bản chất với hành động xâm lược, chiếm các bãi đá và biến chúng thành đảo nhân tạo bất hợp pháp để tiếp tục mục đích bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông. Nếu Trung Quốc vẫn khăng khăng họ có "chủ quyền", hãy đưa bằng chứng ra trước công luận quốc tế và chấp nhận để tòa án phân xử. Nhưng điều này sẽ không bao giờ xảy ra được - PV.
Thứ hai, 7 bãi đá mà Trung Quốc cất quân xâm lược, chiếm đóng bất hợp pháp của Việt Nam ở Trường Sa đều đã mọc lên các pháo đài quân sự kiên cố ngay sau đó. Trong bối cảnh vừa bị Trung Quốc chiếm các bãi đá này, xây dựng và liên tục củng cố pháo đài quân sự mà Việt Nam không lo tăng cường phòng thủ, liệu có thể giữ được các đảo, đá, rặng san hô trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của mình hay không? Hoạt động phòng thủ này hoàn toàn hợp pháp, chính đáng, và cần nhấn mạnh rằng Việt Nam giữ đất giữ biển, không lấn của ai.
Thứ ba, ngày nay trên các đảo nhân tạo vừa bồi lấp ở 7 bãi đá này, Trung Quốc tiếp tục củng cố và bành trướng sức mạnh quân sự với ít nhất 3 sân bay manh nha hình thành ở đá Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn, thay đổi căn bản hiện trạng và đang đe dọa trực tiếp hòa bình, ổn định ở khu vực, có thể châm ngòi leo thang xung đột. Tuyên bố chung của hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 26 đã thể hiện rõ mối quan ngại về điều này. Các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản cũng đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ.
Vì vậy, những lời ngụy biện trơ trẽn đại loại như bà Hoa Xuân Oánh đưa ra không thể đánh tráo được bản chất hung hăng, bất chấp luật pháp quốc tế mà Trung Quốc đang làm ở Biển Đông. Dư luận khu vực và quốc tế chắc chắn sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn để phản đối các hành động leo thang gây hấn, bởi một khi xảy ra xung đột ở Biển Đông thì hòa bình, an ninh khu vực bị phá vỡ và có rất nhiều quốc gia bị thiệt hạ 
   (GDVN)       Hồng-Thủy

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Lý Quang Diệu nói về Sài Gòn trước năm 1975

 Một chút hơi khó tưởng tượng khi có 1 thành phố như thế này cách Sài Gòn chưa tới 2h bay
Một điều khá thú vị nữa là những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước,Lý Quang Diệu – thủ tướng đầu tiên của Singapore – đã từng nói hi vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn.
Tuy nhiên, cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam đã đi quá xa và tạo ra những bước ngoặt lớn, tất nhiên phần còn lại đã trở thành lịch sử. Lý Quang Diệu đã quá nhạy bén và sáng suốt tận dụng được cơ hội ngàn năm có một để đưa Singapore trở thành 1 nước như ngày nay, vì chắc chắn rằng phương Tây sẽ tìm mọi cách kìm kẹp cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam bằng cách tạo dựng ảnh hưởng lên những đồng minh bao gồm Nhật, Hàn, Singapore, Đài Loan, Thái lan, Malaysia, Philipines…
Cảng trung chuyển hàng không lớn nhất khu vực ở Sài Gòn được chuyển sang Thái Lan, còn Singapore tận dung cơ hội để xây dựng cảng trung chuyển đường biển lớn nhất khu vực. Những vị thế mà đúng ra là của Việt Nam .
(Sài gòn những năm 1960)
(Sân bay Tân Sơn Nhất 50 năm trước)
đường phố sài gòn 1975
(Đường phố sài gòn trước năm 1975 – ít ai có thể thấy 1 chiếc xe gắn máy nào và đây là thế kỷ 20?)
Lý Quang Diệu cũng thừa nhận cuộc chiến ở Việt Nam là “Lợi ích không ngờ”
Tại sao dân chủ kiểu Mỹ và phương Tây không hiệu quả ở châu Á
Câu hỏi đặt ra là tại sao Singapore mà không phải nước nào khác ở Đông Nam Á phát triển mạnh mẻ như vậy?
Câu trả lời hợp lý nhất là yếu tố lãnh đạo kiệt xuất của những nhà lãnh đạo Singapore đã làm được điều đó. Và điểm mấu chốt tiếp theo là gì?
Đó là dân chủ chuyên chế kiểu Singapore. Lý Quang Diệu rất coi trọng người tài và ông ta không tin là dân chủ kiểu Mỹ là cách hiệu quả ở châu Á, lý luận đơn giản của ông ấy là một người có trình độ thấp thì không thể có lá phiếu bằng với 1 người có trình độ cao được. Có vẻ hơi “độc tài”, nhưng mà đó là điều đã tạo nên sự phát triển nhanh chóng ở Singapore.
(Lưu ý là không phải là nước Mỹ không trọng người tài, mà theo 1 cách khác, các bạn có thể đọc thêm ở quyển ” Đối Thoại Với Lý Quang Diệu – Nhà Nước Công Dân Singapore: Cách Thức Xây Dựng Một Quốc Gia” , các bạn tìm hiểu kỹ cũng sẽ thấy là lãnh đạo của Mỹ thường là có gốc gác là luật sư, còn lãnh đạo của Trung Quốc chẳng hạn, lại đa số có gốc gác kỹ thuật, cách trọng nhân tài khác nhau)
So sánh giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng dễ nhận thấy quan điểm của Lý Quang Diệu khá đúng, ít nhất là về mặt phát triển kinh tế. Trung Quốc và Ấn Độ có vị thế tương đương nhau, nhưng trong vài chục năm Trung Quốc đã vươn lên khá xa, không khi Ấn Độ tỏ ra khá chậm chạp, dù bộ phận kinh tế tư nhân ở Ấn Độ cũng khá mạnh.
Điều này cũng thể hiện rõ ở Thái Lan, khi mà dân chủ quá đà, thì các phe áo vàng áo đỏ cứ thay phiên nhau biểu tình, phá hoại sự phát triển kinh tế.
Về mặt khoa học, thì Tâm Lý học đám đông cũng khẳng định là đám đông sẽ kém hơn cá nhân rất nhiều trong việc ra quyết định hay nhận ra được cái gì đúng và sai. Và người châu Á thì thường a dua, không dám thể hiện cái tôi trước đám đông nên thường quyết định của đám đông thường là rất tệ và không có gì nổi trội.
Điều gì khiến Việt Nam có thể bứt phá?
Nói một cách đơn giản, trong kinh tế học có 2 điều quan trọng:
1. Incentives matters – động cơ và lợi ích khá là quan trọngg
2. There is no free lunch – không có bữa trưa miễn phí
Và áp dụng điều này vào cách tưởng thưởng cho giới công chức nhà nước ở Việt Nam thì sẽ thấy rõ điều vô lý. Chúng ta không thể có những người giỏi nhất làm việc trong nhà nước nếu quyền lợi cá nhân của họ không tốt, cụ thể tiền lương và cơ hội làm việc.
Điều này thể hiện rõ nhất ở thế hệ 8x, gần như +90% những người xuất sắc thuộc thế hệ 8x mà tôi biết đều làm ở khu vực tư nhân, các công ty nước ngoài chứ không phải là nhà nước. Một đất nước mà những người tài năng nhất thuộc giới trẻ không xem việc tham gia vào nhà nước như là một cơ hội tốt thì sẽ khó mà phát triển.
Thực tế, khá nhiều bạn bè tôi có năng lực, từng rất năng nổ trong các hoạt động đoàn hội, cũng dần rút ra các hoạt động này khi ra trường. Dù không phải là họ không thích.
Nhiều người khen Lý Quang Diệu là người tài giỏi, còn ông ta thì tự nhận là mình không giỏi, nhưng biết sử dụng người giỏi. Việc chiêu dụng và sử dụng người tài có thể xem là điều quan trọng nhất của nhà lãnh đạo. Đã rất nhiều năm nay Singapore đã tìm nhiều cách để chiêu mộ sinh viên ở các nước trong khu vực nhận học bổng, tài trợ học phí để học đại học tại Singapore, và sau đó làm việc tại đây trong ít nhất 3 năm, còn tầng lớp lãnh đạo của Singapore thì được trả lương cao nhất thế giới. Lý Quang Diệu đã khẳng định không có lý do gì mà một bộ trưởng lại được trả lương thấp hơn 1 nhân vật cấp cao của những tập đoàn đa quốc gia.
Còn ở Việt Nam hiện tại, dễ thấy rõ có 3 nhóm cơ bản muốn vào làm nhà nước: muốn an nhàn và ổn định, hoặc muốn “bổng lộc”, hoặc thực sự có tâm (nhưng chưa chắc có tầm).
Người giỏi không phải ai cũng muốn “bổng lộc”, họ muốn làm việc và nhận được quyền lợi 1 cách chính trực đoàng hoàng.
Để Việt Nam có thể bứt phá, việc quan trọng nhất cần làm đó là phải đưa được những người trẻ giỏi, có tâm huyết vào trong bộ máy lãnh đạo nhà nước. Và để thu hút được họ thì cần có những phần thưởng xứng đáng và không được cào bằng cá mè một lứa.
Và để làm được điều đó, không thể triển khai đồng loạt, nâng lương đồng loạt cho công chức thì không giải quyết được vấn đề gì mà chỉ tạo ra thâm hụt ngân sách. Cần có những trọng tâm nhất định: tập trung vào một số địa phương chiến lược và một số ngành chiến lược. Vì nếu làm không khéo, bài toán con gà và quả trứng sẽ không được giải quyết và mọi chuyện lại đâu vào đó.
Cụ thể như thế nào?
Theo tôi cần làm 3 bước sau:
1. Chọn ra 2-3 ngành kinh tế mũi nhọn nhất và dồn hết lực vào ngành này. Chúng ta cần 2-3 ngành đứng đầu thế giới thì tốt hơn rất nhiều so với hàng chục ngành đứng thứ 2. Cần có tiêu chí lựa chọn cụ thể: (1) là xu hướng, nằm trong xương sống hoặc thiết yếu của thế giới trong ngắn và dài hạn (2) là thế mạnh của đất nước (3) có thể đẩy mạnh phát triển sản xuất và xuất khẩu tăng lên 20-30% mỗi năm liên tục trong ít nhất 10 năm. Việt Nam có 2 ngành có thể thoả mãn tiêu chí này, đó là công nghệ thông tin (không phải chỉ là xuất khẩu/gia công phần mềm như một số vị lãnh đạo lầm tưởng, mà là bao gồm rất nhiều mảng từ thương mại điện tử, game, sức khoẻ v.v… ) và nông nghiệp (nông nghiệp Việt Nam khá lạc hậu và có thể cải tiển rất nhiều để tăng năng xuất, chất lượng, thương hiệu v.v… để gia tăng giá trị)
2. Tạo ra những đặc khu kinh tế ở từng địa phương cụ thể và báo cáo trực tiếp lên chính phủ (không qua địa phương). Mỗi đặc khu này bắt đầu chỉ khá nhỏ, điều quan trọng nhất là tạo ra được mô hình tốt để nhân rộng sau 1-2 năm chứ không phải là dồn hết lực vào làm 1 lần mà chưa kịp có điều chỉnh thì mắc phải những sai phạm nghiêm trọng (như Vinashin), rất khó làm 1 cái gì đúng mà không mắc phải khá nhiều cái sai. Mỗi lĩnh vực thì cần 2-3 đặc khu để đối chứng, ví dụ cafe thì 1 đặc khu ở Daklak, 1 đặc khu ở Lâm Đồng, sản xuất phần mềm thì 1 ở SG, 1 ở HN, 1 ở Đà Năng v.v… điều này giúp cho việc học hỏi và sáng tạo được phát triển tốt hơn.
Thành lập những công ty quản lý những đặc khu này, với hội đồng quản trị bao gồm: một nhà chuyên môn, một nhà đầu tư/đối tác nước ngoài, 1 lãnh đạo địa phương, 1 đại diện chính phủ, 2 đại diện từ khu vực kinh tế tư nhân. Hội đồng quản trị này sẽ quyết định nhà quản lý cho công ty đó và đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển cụ thể cho từng năm với những KPI (Key performance indicator) rất rõ ràng. Vốn đầu tư sẽ dựa vào các nguồn từ ngân sách nhà nước và các nhà đầu tư. Điều quan trọng nhất là chọn được những người giỏi nhất vào làm trong những công ty này để họ có thể vận hành được hiệu quả nhất.
Hằng quí sẽ có những đại hội để gặp gỡ, trao đổi những các công ty này, để chia sẻ kinh nghiệm, kêu gọi thêm vốn đầu tư, mở rộng v.v… nhằm tạo ra những mối liên kết chặt chẽ giữa nhiều thành phần và tạo ra những đòn bẩy lớn.
Chỉ sau khoảng 2-3 năm, thì những chúng ta có thể xây dựng được những đặc khu với những mô hình phát triển cực kỳ hiệu quả và mạnh với số vốn đầu tư không lớn, thu hút sự quan tâm ủng hộ của nhiều tầng lớp xã hội và có thể nhân rộng nhanh chóng. Từ 5-8 năm chúng ta có thể đứng đầu ở những ngành cụ thể trong khu vực, và sau đó là châu lục và thế giới.
Tại sao kế hoạch này sẽ thành công?
1. Kế hoạch này đơn giản và rất tập trung, có định hướng chứ không phải lan man ôm đồm nhiều thứ
2. Kế hoạch này ”lean” và “agile”, nói một cách khác là nó có sự mềm dẻo và áp dụng phương pháp thử và sai. Thay vì dành quá nhiều thời gian cho việc lên kế hoạch (mà chắc chắn sẽ sai) thì dành thời gian và công sức để đưa vào thực tế với những mô hình nhỏ và rút kinh nghiệm nhanh chóng từ những sai lầm
3. Thu hút được người tài vì những công ty/đặc khu này sẽ có quyền chủ động đưa ra những ưu đãi cạnh tranh trực tiếp về mặt nhân sự đối với những công ty khác.
4. Tận dụng được sức mạnh của nhiều nguồn lực, từ kinh tế tư nhân, nhà nước, địa phương
5. Không bị mô hình quản lý nhà nước kìm hãm.
6. Tạo ra giá trị cho bộ phận kinh tế tư nhân vì đây sẽ là bộ phận đạt được nhiều giá trị nhất khi các mô hình này được xây dựng thành công
7. Tạo ra giá trị cho địa phương.
8. Nhận được sự ủng hộ của xã hội, truyền thông.
Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.
Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.
Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật  đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.
Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore  ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại – kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.
Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?
Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần,  nhưng chỉ vài  năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.
Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.
Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?
Measure
Measure