Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Sự thừa nhận muộn màng, nhưng quan trọng

Sự thừa nhận muộn màng, nhưng quan trọng

Mặc dù Trung Quốc luôn ra sức tuyên truyền về cuộc chiến xâm lược cách đây 40 năm đối với quần đảo Hoàng Sa, nhưng từ lâu, dư luận quốc tế và khu vực đã sớm nhìn rõ dã tâm của Bắc Kinh.

Nhiều tư liệu đã và đang được giải mật chứng minh, Trung Quốc manh nha âm mưu thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX và tham vọng bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh đã lộ rõ khi nước này xua quân đánh chiếm trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.
Hơn 1 năm trước (5/8/2012), Tân Hoa xã từng đưa tin, Chủ tịch Mao Trạch Đông là người ra lệnh dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 9/8/2012, tờ Nhân dân nhật báo đăng bài thuật lại cuộc chiến này, trong đó điểm mặt 6 chỉ huy trực tiếp hoạch định và chỉ đạo tác chiến lực lượng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Một số chỉ huy kể trên như Vương Xương Thái, thường xuyên được giới truyền thông Trung Quốc và một số đơn vị quân đội mời nói chuyện, tuyên truyền xuyên tạc về vấn đề Biển Đông và trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Thông qua Vương Xương Thái, dư luận được biết, có tới 12 chỉ huy quân đội Trung Quốc trực tiếp tham gia đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch ĐôngChủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông

Tân Hoa xã cho biết, đầu năm 1974, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai cùng Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình đã nhóm họp để bàn mưu đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Nhưng khi đó giới truyền thông Trung Quốc lại cố tình bóp méo sự thật lịch sử với cái gọi là “cuộc chiến phản kích tự vệ trên biển”. Tuy nhiên, khi Trung Quốc tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của mình, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và chính quyền Việt Nam cộng hòa đều bác bỏ thẳng thừng những cáo buộc phi lý, và vô hiệu của Bắc Kinh. Và thấy rõ âm mưu của Bắc Kinh trong việc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (nhận được sự đồng tình của Mỹ), ngày 15/1/1974, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã điều 3 tàu khu trục và một tàu hộ vệ ra nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa để tăng cường phòng thủ và bắn pháo vào đảo Hữu Nhật, nơi Trung Quốc vừa cắm trộm cờ.
Ngày 17/1/1974, các chiến hạm của chính quyền Việt Nam cộng hòa đã giành lại quyền kiểm soát đảo Hữu Nhật và Quang Ảnh. Cũng trong ngày 17/1/1974, binh lính của Hạm đội Nam Hải đã phối hợp với quân thuộc quân khu Hải Nam tiến ra 3 đảo Duy Mộng ( TQ gọi là Tấn Liễu), Quang Hòa (TQ gọi là Thẩm Hàng), Quang Hòa Tây ( TQ gọi la Quảng Kim) của quần đảo Hoàng Sa. Ngay trong đêm 17/1/1974, khi nhận báo cáo tình hình từ Trường Lý Lực, Phó cục trưởng Cục Tác chiến thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Trung Quốc, Thủ tướng Chu Ân Lai đã cùng với Nguyên soái Diệp Kiếm Anh làm báo cáo khẩn gửi Chủ tịch Mao Trạch Đông đề nghị điều quân ra đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa. Khi nhận được báo cáo khẩn do Thủ tướng Chu Ân Lai và Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh đưa tới, Chủ tịch Mao Trạch Đông đắn đo, cân nhắc và không ngủ được bởi 10 giờ sáng hôm sau ông vẫn chưa ngủ dậy.

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân LaiThủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
Sau khi ngủ dậy, Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp tục đọc báo cáo rồi suy nghĩ khá lâu bởi ông khá quen thuộc tình hình quần đảo Hoàng Sa, cũng như mọi động hướng tại đây của chính quyền Việt Nam cộng hòa mấy năm gần đây. Và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã phê vào bản báo cáo của Thủ tướng Chu Ân Lai và Nguyên soái Diệp Kiếm Anh 2 chữ “Đồng ý”, đồng thời giao cho Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy quân đội Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Sau khi nhận “thánh chỉ”, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình đã điều binh khiển tướng, quyết đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Đích thân Thủ tướng Chu Ân Lai gọi điện cho Cục Tác chiến, hỏi chi tiết tình hình quần đảo Hoàng Sa. Sau đó Thủ tướng Chu Ân Lai còn sửa phương án tác chiến do Cục Tác chiến soạn thảo, đồng thời trả lời Quân khu Quảng Châu về việc điều động binh lực. 20 giờ ngày 17/1/1974, được sự ủy nhiệm của Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai chủ trì hội nghị đánh Hoàng Sa với sự có mặt của các đơn vị hữu quan. Sau đó, mặc dù trời đã khuya, nhưng Thủ tướng Chu Ân Lai vẫn chủ trì hội nghị Bộ Chính trị và đề nghị Quân ủy Trung ương thành lập tổ lãnh đạo gồm 5 người do Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh đứng đầu, cùng Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên tham gia để xử lý mọi công việc của Quân ủy Trung ương và tác chiến khẩn cấp. Sau khi thống nhất các phương án, Thủ tướng Chu Ân Lai và Vương Hồng Văn liên danh báo cáo lên Chủ tịch Mao Trạch Đông. Một lần nữa Chủ tịch Mao Trạch Đông đồng ý với kế hoạch đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Diệp Kiếm AnhDiệp Kiếm Anh

Theo mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Quân khu Quảng Châu điều tàu số 396, 389 thuộc Hạm đội quét thủy lôi của Hạm đội Nam Hải và tàu số 271, 274 thuộc Đại đội 73 săn tàu ngầm ở căn cứ Du Lâm, tiến vào vùng biển Hoàng Sa. Đồng thời cử 4 Trung đội dân quân lần lượt tiến vào đóng tại 3 đảo Duy Mộng (TQ gọi là Tấn Liễu đảo hay Tấn Khanh đảo), Quang Hòa (TQ goi là Thẩm Hàng), Quang Hòa Tây (TQ gọi là Quảng Kim). Ngoài ra, Quân khu Quảng Châu còn điều tàu số 281, 282 thuộc Đại đội 74 săn tàu ngầm tiến vào vùng gần đảo Phú Lâm (TQ gọi là Vĩnh Hưng), Hoàng Sa làm nhiệm vụ chi viện; ra lệnh cho Trung đoàn 22 không quân thuộc Hạm đội Nam Hải cử 2 máy bay bay tuần tra trinh sát trên vùng trời đảo Quang Ảnh (TQ gọi là Vĩnh Lạc).
Sáng sớm ngày 19/1/1974, Thủ tướng Chu Ân Lai đề nghị Nguyên soái Diệp Kiếm Anh triệu tập tổ lãnh đạo kể trên để thông báo quyết định bổ sung thêm Tô Chấn Hoa vào tổ này nhằm nghiên cứu, thảo luận phương án tác chiến cụ thể tại quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, Thủ tướng Chu Ân Lai còn gọi điện cho Bộ Tổng Tham mưu cho biết: hôm nay có khả năng khai hỏa, nên quyết định thành lập tổ lãnh đạo để thay mặt Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương giải quyết các vấn đề có liên quan tới tác chiến tại quần đảo Hoàng Sa. Tổ lãnh đạo này gồm 6 người (Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Trần Tích Liên, Tô Chấn Hoa) do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình phụ trách chung. Ngay sau đó, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình cùng 4 thành viên của tổ lãnh đạo đã tới Cục Tác chiến để trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đánh Hoàng Sa.

Đặng Tiểu BìnhĐặng Tiểu Bình
Khi đó tàu 396, 389 nhận lệnh ngăn chặn tàu khu trục Lý Thường Kiệt và tàu hộ vệ của chính quyền Việt Nam cộng hòa; còn tàu săn tàu ngầm số 271, 274, 281 và 389 được lệnh giám sát 2 tàu khu trục Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng của chính quyền Việt Nam cộng hòa. 10 giờ 25 phút sáng 19/1/1974, binh lính Trung Quốc khai hoả, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. 11 giờ 32 phút cùng ngày, Trung Quốc tăng viện và bắn chìm chiến hạm của hải quân chính quyền Việt Nam cộng hoà và cưỡng chiếm trái phép hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Khi nghe tin tàu hộ vệ của chính quyền Việt Nam cộng hoà bị bắn chìm, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Diệp Kiếm Anh khi đó đang chỉ huy tại Cục Tác chiến đã ra lệnh chỉnh lý tình hình thành báo cáo ngắn để gửi gấp lên Chủ tịch Mao Trạch Đông. Sau khi được Chủ tịch Mao Trach Đông phê chuẩn, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và một số người quyết định đổ bộ tác chiến, chiếm 3 đảo Hoàng Sa (TQ gọi là San hô đảo), Hữu Nhât ( TQ gọi là Cam Tuyền), Quang Ảnh ( TQ gọi là Kim Ngân) từ tay chính quyền Việt Nam cộng hòa. Cuộc đổ bộ này bắt đầu từ chiều tối ngày 19/1 và đến 9 giờ 35 ngày 20/1/1974, binh lính Trung Quốc đã chiếm được 3 đảo nói trên.
Sau khi Trung Quốc ngang nhiên chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã thông qua Nguyễn Hữu Chí gửi kháng nghị lên Liên hợp quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an thảo luận vấn đề này. Khi đó, Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc Hoàng Hoa đã giảo biện cho hành động xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa mà Bắc Kinh vừa tiến hành. Ngày 27/2/1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: sẽ thả toàn bộ 48 sĩ quan, binh lính của chính quyền Việt Nam cộng hòa và một sĩ quan liên lạc Mỹ bị bắt trong cuộc chiến xâm lược trái phép quần đảo Hoàng Sa. Đến tháng 5/1974, Quân ủy Trung ương Trung Quốc quyết định điều gấp 3 tàu hộ vệ mang tên lửa từ Hạm đội Đông Hải chi viện cho Hạm đội Nam Hải nhằm duy trì sự chiếm đóng trái phép tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam./.


http://petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/hoang-sa/su-thua-nhan-muon-mang-nhung-quan-trong.html

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Linh xa dừng trước nhà riêng trong tiếng khóc nghẹn

13/10/2013 09:22 GMT+7
8h45, xe rước linh cữu dừng lại trước cửa 30 Hoàng Diệu để thực hiện các nghi lễ tâm linh. Hàng trăm bạn trẻ quỳ phục xuống, lẫn vào tiếng gọi "cha ơi" của hàng chục nghìn người.
Zing News sẽ cập nhật các chia sẻ của bạn đọc vào nội dung tường thuật qua các kênh:
Phần bình luận ở cuối bài viết Chia sẻ lên tường fanpage chính thức của Zing News trên Facebook Chia sẻ trên Zini với hashtag #Võ-Nguyên-Giáp Gửi email về địa chỉ toasoan@news.zing.vn
Lễ truy điệu sáng 13/10 Tự động cập nhật trong: 54 giây
Tại khu vực ngã tư Kim Mã - Nguyễn Chí Thanh người dân đứng chờ sẵn đoàn linh xa
Đoàn xe đi qua nút giao thông Daewoo, nơi tiếng khóc ngất râm ran trong cả hàng chục nghìn người tiễn biệt.
Hình ảnh Linh cữu của Đại tướng được đưa lên xe tang sáng nay
Lúc này, ở hội trường Thống Nhất (TP.HCM), hàng chục nghìn người cũng đã quỳ xuống tiễn đưa Đại tướng.
Hình ảnh sáng nay được truyền hình trực tiếp trên VTV
Clip đoàn linh sa đi qua ngã tư Cửa Nam. Clip: PV Hoàng Anh
Đoàn xe tiếp tục lăn bánh theo lộ trình Trần Phú - Sơn Tây - Kim Mã - Cầu Giấy - Xuân Thủy - Phạm Văn Đồng - Thăng Long đến sân bay Nội Bài
Đoàn Thanh niên tình nguyện quỳ phục ngay dưới lòng đường. Ảnh: Hoàng Thành.
Người dân đứng hai bên đường nước mắt ngắn, nước mắt dài còn trong tay cầm chặt di ảnh của Đại tướng. Ảnh: Hoàng Thành.
Linh cữu Đại tướng dừng lại ở số nhà 30 Hoàng Diệu. Ảnh: Hoàng Thành.
Một bạn trẻ khóc nức nở khi đoàn xe rước linh cữu Đại tướng đi qua
Người dân đứng trên cầu vượt tại ngã tư Xuân Thủy - Phạm Hùng chờ đón đoàn xe rước linh cữu Đại tướng đi qua tuyến đường Xuân Thủy - Phạm Văn Đồng. Ảnh: Độc giả Thu Hà
Đoàn xe đã dừng trước số nhà 30 Hoàng Diệu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần hồi 18h9, ngày 4/10 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Người dân đứng hai bên đường Kim Mã chờ đón đoàn xe đi qua - Ảnh: Độc giả Nguyễn Thanh Hiền
"Người dân hai bên đường khóc òa khi đoàn xe đưa linh cữu Đại tướng đi qua. Họ cùng gọi hai chữ "Cha ơi" trong tiếng nấc nghẹn ngào"
"Cửa nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở số 30 Hoàng Diệu cũng đã mở sẵn để chờ đón đoàn xe rước linh cữu. Hàng chục nghìn người dân đã đứng cả dậy để ngóng chờ đoàn linh xa"
"Tôi có mặt ở Lăng Bác từ lúc 5h sáng để chờ đến giây phút xúc động này. Tôi đến đây chỉ với một tâm niệm nhìn thấy linh cữu của vị tướng tài lần cuối", người đàn ông đến từ huyện Thường Tín, Hà Nội nói.
Người dân đứng xem lễ di quan đầu đường Hoàng Văn Thụ. Đoàn xe đang phải tạm dừng vì tắc, một số xe phải đi đường khác, hai bên đường, người dân đứng chật kín lúc 8h25.
Đoàn xe đi với tốc độ nhanh, đã đi qua Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đoàn xe đi qua Lăng Bác
Cộng đồng mạng chia sẻ cảm xúc
"Đại tướng muôn năm, Đại tướng muôn năm", nhiều người dân hô lớn khi linh cữu của Đại tướng đến đầy phố Hoàng Văn Thụ. Những giọt nước mắt cũng lăn dài trên nhiều gương mặt người dân theo dõi.
Cả nghìn người dân đứng hai bên đường nghiêm trang chào đón Đại tướng. Nhiều máy ảnh, điện thoại của người dân đưa ra ghi lại những hình ảnh xúc động.
Người dân đón chờ linh cữu Đại tướng tại Cửa Nam
Rất nhiều tiếng khóc đã cất lên trong biển người 2 bên đường khi xe linh cữu đi qua.
Đoàn linh xa qua Nhà Hát Lớn. Ảnh: Tùng Lê.
Lúc này, cửa nhà riêng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở số 30 Hoàng Diệu cũng đã mở sẵn để chờ đón đoàn xe rước linh cữu. Hàng chục nghìn người dân đã đứng cả dậy để ngóng chờ đoàn linh xa.
Xe chở linh cữu đang đi qua Lê Thánh Tông.
Đoàn xe đưa linh cữu Đại tướng sẽ đi qua quảng trường Ba Đình - Lăng Bác trước khi đi qua nhà Đại tướng ở 30 Hoàng Diệu
Đoàn xe rước linh cữu Đại tướng sẽ đi từ Trần Thánh Tông - Tràng Tiền - Hàng Khay - Tràng Thi - Điện Biên Phủ - Độc Lập - Hoàng Văn Thụ - Hoàng Diệu - Trần Phú - Sơn Tây - Kim Mã - Cầu Giấy - Xuân Thủy - Phạm Văn Đồng - Thăng Long đến sân bay Nội Bài
Cả nghìn người ở phố Hoàng Diệu đã đứng dậy chờ đón linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi qua. Hàng trăm phóng viên đang có mặt trước căn nhà số 30 để đưa tin về sự kiện.
Đoàn Linh xa chính thức di chuyển đưa linh cữu Đại tướng dời khỏi Nhà Tang lễ quốc gia
Ông Võ Điện Biên, con trai cả của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, gửi lời cảm ơn đến các lãnh đạo Đảng và nhà nước, cùng những người đến dự lễ truy điệu, trước khi đoàn xe chuyển bánh rời về nhà riêng của Đại tướng ở Hoàng Diệu.
Xe lăn bánh ra khỏi nhà Tang lễ Quốc gia Số 5 Trần Thánh Tông.
Xem trực tiếp Lễ truy điệu trên truyền hình .
Các lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam, quốc tế cùng tang quyến theo sau xe linh cữu, bước ra khỏi nhà tang lễ. Ảnh: Hoàng Hà
Ảnh Hoàng Hà
Ảnh Hoàng Hà
Linh cữu của Đại tướng được đặt lên xe tang. Ảnh: Hoàng Hà
Các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các chiến sĩ đưa linh cữu Đại tướng ra phía sân Nhà tang lễ. Ảnh: Hoàng Hà
Linh cữu Đại tướng chính thức di quan
Xem trực tiếp Lễ truy điệu trên truyền hình .
Hình ảnh truy điệu tại Quảng Bình. Cả đất nước đang lặng lại để mặc niệm người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh: Lê Hiếu.
Hình ảnh tại Hội trường Thống Nhất.
Tại hội trường Thống Nhất, TP.HCM, hàng nghìn người dõi theo lễ truy điệu qua màn hình lớn. Không ai giấu được niềm xúc động. Ảnh: Lê Quân.
Các đồng chí Đảng, Chính phủ, lãnh đạo, khác quốc tế và gia đình đang đi quanh linh cữu để tiễn biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi về nơi an nghỉ cuối cùng.
Quân nhạc Hành khúc Tang lễ
Ở Hoàng Diệu, người dân đã đeo cho nhau những dải băng tang, cùng người thân chia sẻ nỗi mất mát của cả dân tộc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết hôn lần đầu với bà Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà yêu nước Nguyễn Thị Minh Khai). Bà Quang Thái trở thành liệt sỹ năm 1946 và để lại một người con gái là Giáo sư Võ Hồng Anh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tái hôn với bà Đặng Bích Hà, con gái Giáo sư Đặng Thai Mai. Bà Hà sinh được 4 người con cùng Đại tướng gồm 2 trai 2 gái. Hiện cả 4 người con này đều rất thành đạt.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Lào Choummaly Sayasone, Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin tưởng niệm Đại tướng.
Ông Võ Điện Biên, con trai trưởng Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu ý kiến
Phút mặc niệm bắt đầu!
Quân nhạc cử Hồn tử sĩ
Xem thêm Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đội tiêu binh nghiêm trang
Bên trong nhà tang lễ
Mùi hương lan tỏa, khiến rất nhiều người sụt sùi.
Lễ truy điệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang được tổ chức tại Nhà tang lễ quốc gia, Hà Nội
Không khí nghiêm trang trong nhà tang lễ, nơi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang đọc điếu văn.Ảnh: Hoàng Hà.
Trước khi linh cữu vị Đại tướng tài ba được cả thế giới biết đến đưa qua nhà số 30 phố Hoàng Diệu, Thượng tá Phạm Văn Lâm, từng công tác tại lực lượng cảnh vệ cho rằng ngoài con đường mang tên Tướng Giáp, căn nhà số 30 phố Hoàng Diệu cũng cần sớm được xem đây là một điểm Bảo tàng.
Tháng 12/1944, Đại tướng được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn. Ông sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là Trưởng Ban Lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đọc điếu văn.
Nghe Quốc ca trên Zing MP3 tại đây
Lễ truy điệu chính thức bắt đầu.
Quốc ca đang được cử lên tại Nhà tang lễ Quốc gia
Đang có mặt ở trước cổng nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trần Đức Quế từng công tác ở Bộ giao thông Vận tải - người có mặt trong buổi sinh nhật vị Đại tướng khi tròn 103 tuổi chia sẻ, mới đây tại một cuộc hội thảo, nhiều người cho rằng nên bỏ tên một số tuyến đường ở Hà Nội như Tràng Tiền - Hàng Khay - Tràng Thi nối về đầu phố Điện Biên Phủ để đặt tên vị Đại tướng. Cũng có ý kiến cho rằng khi cầu Nhật Tân nối sân bay Nội Bài được hoàn thành, con tên đường Võ Nguyên Giáp cũng hình thành ở đây. Tuy nhiên, các phương án vẫn chưa được chốt, phóng viên Hà Tuấn Anh, cho biết
"Trao đổi với phóng viên qua điện thoại, lãnh đạo trung đoàn cơ động cho biết đã huy động 1000 chiến sĩ cho sự kiện đặc biệt này" - Phóng viên Lê Tú.
Bên trong Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, những nghi lễ tâm linh và cả nghi thức quân đội đang được thực hiện.Ảnh: Hoàng Hà.
Tại Nhà hát lớn, hàng nghìn người dân đã đổ về chọn lấy một vị trí để có thể dõi theo đoàn xe rước linh cữu. Ảnh: Tùng Lê.
Trời đã sáng. Chỉ còn ít phút nữa là đến giờ làm lễ truy điệu Đại tướng. Xe linh cữu đã sẵn sàng. Ảnh: Hoàng Hà.

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

LỊCH SỬ

Sự thật về Tướng Giáp : Đừng bốc phét nữa

Tôi là một gã Bắc Kỳ . Từ lớp vỡ lòng đến đại học tôi được học dưới cái gọi là « mái trường XHCN » . Anh tôi là một bộ đội phục viên . Cháu ruột là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Bộ Binh đang tại chức . Tôi đi nghĩa vụ quân sự 3 năm , mang quân hàm Trung Uý , chức Đại Đội Phó , có tham gia một vài trận đánh ở chiến trường Campuchia .
Dài dòng một chút để các bạn hiểu : tôi không liên hệ gì đến Việt Nam Cộng Hoà . Tôi không hận thù , không chống cộng . Tôi chỉ muốn được chia sẻ chút suy nghĩ của mình trước những thậm từ mà thiên hạ đang sử dụng để tung hô Tướng Giáp : « mãi mãi là một biểu tượng sống động của trí tuệ » ; « Thiên tài quân sự » ; « Đại trí , đại nhân , đại dũng » ; « Vị Tướng huyền thoại » ; « Nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại » ; « Một nhân cách lớn » . Có thiệt vậy không ?
* * *
Những Điều Tận Mắt
Khoảng đầu năm 1983 , ông Giáp đến thăm một trường đại học . Khi đó ông đã thôi chức Bộ Trưởng Quốc Phòng , đang là Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch . Tôi thấy ông vẫn mặc quân phục , mang quân hàm Đại Tướng . Bọn sinh viên chúng tôi đang ở tuổi trên dưới 20 , rất ngưỡng mộ ông , kéo đến nghe ông nói chuyện . Không ngờ những bài phát biểu của ông rất nhạt , chung chung , vô thưởng vô phạt , với những sáo ngữ mòn cũ , giáo điều thường thấy trong các nghị quyết của chi bộ , chi đoàn như là Đảng ta , nhân dân ta anh hùng , quân đội ta anh dũng , thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác Hồ , quyết tâm , vượt mức , lập thành tích , quán triệt , phát huy …
Không có gì sắc sảo , mới lạ . Màng nhĩ của tụi tôi bấy giờ đã khá quen với những ý tưởng và ngôn từ của các giáo sư đại học thời Tây còn lại , hoặc những vị cỡ như Bùi Tín nói về thời sự quốc tế , Trần Quốc Vượng nói về Hà Nội học , hay Xuân Diệu bình thơ . Vì thế nghe Tướng Giáp nói xong chúng tôi thất vọng quá . Sau này tôi lại thấy mỗi khi đi thăm các cơ sở , ông Giáp đều bắt đầu lời phát biểu kiểu như : Thay mặt đ/c Lê Duẩn uỷ viên BCT Tổng Bí Thư … đ/c Trường Chinh uỷ viên BCT Chủ Tịch hội đồng nhà nước … đ/c Phạm Văn Đồng uỷ viên BCT , Chủ Tịch hội đồng chính phủ , và các đ/c khác trong trung ương … tôi xin gởi lời thăm đến các đồng chí …
Thì ra ở đâu ông cũng ăn nói na ná như nhau
Ngày 30 /04/1995 , kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam . Năm chẵn , nên tổ chức rất hoành tráng ở thành Hồ . Truyền hình Mỹ chiếu trực tiếp lễ duyệt binh , có phần phỏng vấn Tướng Giáp và Tướng Westmoreland . Ý họ là để cho hai vị tướng đã từng đối đầu ở chiến trường có dịp trò chuyện với nhau . Sau lời phát biểu khá khiêm tốn của Tướng Westmoreland , đến lượt Tướng Giáp – ông nói đại ý rằng chúng tôi vô cùng tự hào vì Việt Nam là một thuộc địa nhỏ bé nhưng đã đánh thắng được hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ .
Một thiên tài quân sự , một chính khách lỗi lạc , một nhà ngoại giao tài ba, mà lại phát biểu như vậy sao . Tôi tự hỏi .
Từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò
Ngày 22/11/1944 , ông Giáp cùng với 34 chiến sĩ đã qua một cơn chuyển dạ đớn đau , rồi sinh hạ QĐNDVN duới gốc đa Tân Trào , tỉnh Tuyên Quang . Đến tháng 05/1948 , tức 3 năm rưỡi sau , ông Giáp được ông Hồ Chí Minh phong cho chức Đại Tướng . Khi ấy ông Giáp mới 37 tuổi . Riêng điều này thì « huyền thoại » thiệt . Cả thế giới đến nay mới xuất hiện hai Đại Tướng được phong vượt 17 cấp bậc như thế ! Ông Giáp ở Bắc Việt Nam , và Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên ! Từ đó người ta gọi ông Giáp là « Tướng Giáp » . Ông giữ những chức vụ : Uỷ viên Bộ Chính trị , Bí thư Quân uỷ Trung ương , Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng , Tổng Tư Lệnh QĐNDVN cho đến năm 1982 .
Vào cuối thâp kỷ 60 , trước và sau khi ông Hồ chết , nội bộ ĐCSVN xảy ra « Vụ Án Xét Lại Chống Đảng » do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phát động . Ông Giáp trở thành đích ngắm của vụ án , nhưng ông lại không bị đánh trực tiếp , mà đòn hiểm lại nhằm vào những người đồng chí trung thành của ông ở chiến dịch Điện Biên Phủ : Thượng Tướng Chu Văn Tấn tư lệnh Quân Khu Việt Bắc , Thiếu Tướng Đặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần , Tướng Lê Liêm một uỷ viên đảng uỷ , Trung Tướng Trần Độ chỉ huy đại đoàn 312 , mũi tấn công chính vào sở chỉ huy Pháp , và là người tiếp nhận sự đầu hàng của Tướng De Castries , Đại Tá Đỗ Đức Kiên cục trưởng tác chiến , Đại Tá Phạm Quế Dương , ông Hoàng Minh Chính , và nhiều người khác nữa . Tất cả bị vu cáo cùng một tội « chống đảng , xét lại , làm gián điệp cho nước ngoài » . Điều trớ trêu là Tướng Giáp biết rõ là nguỵ tạo , nhưng ông không bao giờ mở miệng , hoặc có một động thái nào để bảo vệ , hay giúp đỡ những người bạn cũ đang bị đối xử rất tàn ác .
Đại hội Đảng V – 1982 , ông Giáp bị đưa ra khỏi bộ chính trị , mất chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng , và được « phân công » về làm trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch . Thực chất đây là một vụ cách chức , hay nói trắng ra là ông Lê Đức Thọ đã hạ nhục ông Giáp một cách không thương tiếc . Ông Giáp vẫn không có một hành động gì dù nhỏ nhất như là từ chức , xin về hưu để tỏ thái độ , và giữ gìn khí tiết của một người làm Tướng . Ông tỏ ra như một đứa con ngoan vâng lời cha mẹ . Dân Bắc Kỳ phải ngán ngẩm mà than rằng :
« Xưa làm Bộ Trưởng Quốc Phòng
Nay làm Bộ Trưởng đặt vòng tránh thai »
Hay :
« Bác Hồ nằm ở trong lăng ,
Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng , giật mình
Rằng giờ chúng nó linh tinh
Tuổi tên của mình chúng ném xuống ao
Ao nào thì có ra ao
Cái tròn cái méo , cái nào cũng sâu
Hỏi rằng Tướng Giáp đi đâu
Dạ thưa Tướng Giáp … lo khâu đặt vòng » .
Một bài vè khác thì chẳng còn úp mở gì :
« Ngày xưa Đại Tướng cầm quân
Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em
Ngày xưa Đại Tướng công đồn
Ngày nay Đại Tướng công l … chị em » .
Khi hai ông Duẩn – Thọ về thăm Bác , tưởng rằng vòng kim cô trên đầu Tướng Giáp sẽ được gỡ ra . Nhưng không , nó còn bị siết chặt hơn bởi một cặp bài trùng mới : Đỗ Mười – Lê Đức Anh ( được biết đến là MA , viết tắt từ Mười – Anh ) . MA đã giáng một đòn trực tiếp vào ông Giáp với một bản cáo trạng gồm 8 tội danh :
1 . Ông Giáp từng là con nuôi của chánh sở mật thám Đông Dương , Louis Marty .
2 . Ông Giáp cầm đầu vụ án Xét Lại Chống Đảng từ năm 1957-1958 .
3 . Ông Giáp bán bí mật quân sự cho Đại Sứ Liên Xô Serbakov .
4 . Trong chiến dịch Điện Biên Phủ , ông Giáp hèn nhát , sợ chết quanh quẩn trong hầm , không dám ra ngoài . Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch .
5 . Ông Giáp nhận định tình hình kém , vội vàng giải tán 80 000 quân , để khi Pháp – Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ .
6 . Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội , nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn .
7 . Ông Giáp hèn nhát , sợ B-52 của Mỹ rải thảm , nên không đi B ( chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975 ) .
8 . Ông Giáp đã có vợ , nhưng lại ăn nằm với một phụ nữ đã có chồng . Cô này đến nhà riêng ông Giáp dạy đàn piano .
Đỗ Mười kết luận phải khai trừ ông Giáp ra khỏi ĐCSVN . Lê Đức Anh nương tay hơn , chỉ gạt ông Giáp ra khỏi ghế « uỷ viên trung ương » – một vị trí an ủi mà thời Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vẫn còn bố thí cho ông .
Người ta ví von rằng trận đòn mà MA đánh ông Giáp cũng giống như trận đòn mà Đặng Trần Thường đánh Ngô Thì Nhậm ở Quốc Tử Giám cách đây 200 năm . MA đánh Giáp bằng những tội danh rất hiểm . Thường đánh Nhậm bằng roi tẩm thuốc độc . Nhậm đau lắm nhưng vẫn đối đáp khí khái , ăn miếng trả miếng , bảo vệ được thanh danh , để lại tiếng thơm cho đời sau . Còn Tướng Giáp thì vẫn nhũn như con chi chi , nhịn nhục , không dám nói năng gì . Có phải lòng kiêu hãnh của một vị Đại Tướng đã thành gỗ đá , không bao giờ bị thương tổn ?
Có người lại bảo ông Giáp phục kích , chờ cơ hội . Đúng , ông Giáp đã chờ cho đến khi cả hai ông MA đã vào tuổi 90 , sức khoẻ cạn , quyền lực hết , không còn ảnh hưởng nhiều đến phong cảnh chính trị Việt Nam thì ông Giáp mới dám mở miệng để đòi lại danh dự . Tiếc thay , Tướng Giáp chỉ đòi công lý cho cá nhân ông , còn những đồng đội trung thành của ông ở Điện Biên Phủ ông chẳng hề bận tâm .
Dân Hà Nội thì đàm tiếu rằng con đường tòng chính của Tướng Giáp đầy gian nan vất vả , ông đã hành quân qua một chặng đường dài từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò . Cây Đa Nhà Bò là một trạm hộ sinh nằm trên phố Lò Đúc , Hà Nội , dành cho những phụ nữ thuộc giới bình dân , chuyên đỡ đẻ , nạo phá thai , khám phụ khoa , thông vòi trứng , hút điều hoà kinh nguyệt , điều trị rong kinh huyết trắng ( Ngẫm ra , dân Hà Thành thâm thiệt ! ) .
Viết về Tướng Giáp mà không phân tích một trận đánh do ông chỉ huy , thì rất là thiếu sót . Tôi quyết định chọn trận đánh cuối cùng trong cuộc đời cầm quân của ông . Đó là một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu giữa hai người anh em cùng ý thức hệ Cộng Sản : Quân Đội Nhân Dân Việt Nam ( QĐND ) do Tướng Giáp chỉ huy và Hồng Quân Trung Hoa ( HQTH ) do Tướng Dương Đắc Chí là tư lệnh .
Cuộc chiến Việt-Trung tháng 02/1979
QĐND hoàn toàn bị bất ngờ
Để trừng phạt Việt Nam , HQTH đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số Sư Đoàn độc lập , bao gồm 300 000 binh sĩ , 550 xe tăng , 480 khẩu pháo , 1 260 súng cối , hoả tiễn , chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1 700 máy bay phía sau .
Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng HQTH đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công . Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp Trung Đoàn , hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ , và ngày giờ khai hoả của đối phương , nói gì đến tình báo chiến lược .
Mờ sáng ngày 17/02/1979 , HQTH tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1 400 KM , trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên , Lai Châu , Lào Cai , Hà Giang , Cao Bằng , Lạng Sơn và Quảng Ninh .
Việt Nam hoàn toàn không hay biết gì . Khi HQTH tràn qua biên giới , thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Văn Tiến Dũng , tổng tham mưu trưởng , đang thăm viếng xứ Cao Miên . Dân chúng không được thông báo trước , trẻ em , người già , và phụ nữ có thai , không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa . HQTH đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngoạn mục . Không hiểu Tướng Giáp biện minh thế nào cho việc không hay biết gì về giờ nổ súng của đối phương .
Thất bại về tình báo và nhận định tình hình
Tháng 11/1978 , Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan , Malaysia và Singapore. Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Tàu Cộng sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia . Đặng đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông , phải dạy cho chúng một bài học . Có lẽ vì lời của Đặng quá khiếm nhã , báo chí Tàu Cộng chỉ dùng nửa sau của câu nói .
Ngày 28/01/1979 , Đặng thăm Mỹ , và tuyên bố « Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi » , « Tàu Cộng kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam » . Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ . Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước Cộng Sản sẽ nổ ra .
Sau 3 ngày thăm Mỹ , Đặng đến Nhật . Tại đây , Đặng vẫn giọng điệu hung hăng « để trừng phạt Việt Nam , dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động » ; « không trừng phạt kẻ xâm lược , sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền » , « Đối phó với loại người vô ơn như thế , không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả » . Các nhà ngoại giao Nhật ngạc nhiên vì lời lẽ và thái độ phi ngoại giao của Đặng .
Cũng khoảng thời gian này , TASS – hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Tàu Cộng đang áp sát biên giới Việt–Trung .
Từ Nhật về , Đặng chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17/02 . Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ ( 1962 ) ; không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế , trong phạm vi trên duới 50 cây số từ biên giới .
Bằng chứng Đặng sẽ trừng phạt Việt Nam đã rõ như ban ngày , nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam tin rằng Tàu Cộng là một nước XHCN anh em , và nhân dân Tàu Cộng yêu chuộng hoà bình , sẽ không ủng hộ chiến tranh . Tàu Cộng sẽ không tấn công , hoặc nếu có thì chỉ từ cấp Sư Đoàn đổ lại .
Thiếu tin tình báo , nhận định và phân tích tình hình sai , không nắm được thời điểm nổ súng , thời gian , không gian , và quy mô chiến dịch của đối phương , đã dẫn đến việc Tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới . Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ , bộ đội địa phương , và một vài Trung Đoàn độc lập .
Một thất bại về chiến thuật
Kế hoạch hành quân của Tàu Cộng chia làm 3 giai đoạn .
Giai đoạn 1 : từ 17/02 đến 25/02 , phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam , làm chủ thị xã Cao Bằng , Lào Cai , và hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng , để mở đường cho cuộc tấn công vào Lạng Sơn .
Giai đoạn 2 : từ 26/02 đến 05/03 , chiếm được thành phố Lạng Sơn , và hai thị trấn Sa Pa va Phong Thổ .
Giai đoạn 3 : từ 05/03 đến 16/03 , bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới , trước khi rút về .
Ngày 21/02 , khi chiến dịch đang diễn ra rất ác liệt , tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã tiến về bờ biển Việt Nam . Cầu hàng không của Liên Xô giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc . Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria đã chở vũ khí tới Hà Nội .
Trước tình hình đó ngày 23/02/1979 , Đặng sợ Liên Xô nhúng tay , nên lên tiếng về « cuộc chiến sẽ giới hạn trong vòng 50 KM , và sẽ rút quân trong 10 ngày tới . Rõ ràng Tàu Cộng không có ý định tấn công vào Hà Nội . Họ chỉ ba hoa rằng « ăn sáng ở Lạng Sơn và ăn tối ở Hà Nội » .
Việt Nam lại tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài , và Hà Nội sẽ bị tấn công . Từ nhận định sai lầm này mà dẫn đến việc dồn hết công sức , và tâm trí vào việc xây dựng « Phòng Tuyến Sông Cầu » , để cố thủ Hà Nội . 7 tỉnh biên giới gần như bị bỏ ngỏ , phải tự chiến đấu trong tuyệt vọng , tự gánh vác lấy sức nặng của cuộc chiến , không được chi viện . Trận chiến tại Đồng Đăng là một thí dụ :
Đồng Đăng là một thị xã nằm sát biên giới Việt-Trung , cách thành phố Lạng Sơn 14 KM về phía Đông Nam . Trận đánh bắt đầu sáng 17-2 và là trận ác liệt nhất . Đây là trận địa phòng thủ của Trung Đoàn 12 Tây Sơn , thuộc Sư Đoàn Sao Vàng , QĐND . Phía Tàu Cộng dùng 2 Sư Đoàn Bộ Binh , 1 Trung Đoàn xe tăng , và chi viện của 6 Trung Đoàn pháo binh , ( Tương quan lực lượng là khoảng 10 đánh 1 ) . Pháo đài Đồng Đăng tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã , ( Pháo đài này được Pháp xây dựng rất kiên cố , vì ở đây đã diễn ra khá nhiều va chạm đẫm máu giữa Pháp và nhà Thanh trước đây ) . Việt Nam chỉ có 2 Tiểu Đoàn trấn giữ , bị Tàu Cộng bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp Sư Đoàn . Lực lượng phòng thủ không hề được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng , trụ được 22 ngày đêm . Cuối cùng HQTH cũng đã làm chủ được khu vực bên ngoài Pháo Đài , nhưng Tàu Cộng không gọi được đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng . Tàu Cộng chở bộc phá tới đánh sập cửa chính , dùng súng phun lửa , thả lựu đạn , phun chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn . Khi chiếm được Pháo Đài Đồng Đăng , HQTH đã dùng 10 tấn thuốc nổ để phá hệ thống cố thủ này .
Việt Nam lúc đó đã có ít nhất 5 Sư Đoàn đang ở miền Bắc , trong đó có sư 308 – là một Sư Đoàn thiện chiến đã từng đánh ở Điện Biên Phủ và Khe Sanh . Nếu 5 Sư Đoàn này được tham chiến vào buổi bình minh của cuộc chiến thì tình thế sẽ hoàn toàn có lợi cho phía QĐND . HQTH không thể tiến sâu vào lãnh thổ VN , không thể làm chủ được thời gian , không thể đạt được những những mục tiêu như họ muốn , và họ sẽ không có lý do gì để tuyên bố là « Chiến Thắng » . Đây là một sai lầm mang tính chiến thuật mà Tướng Giáp và bộ Tổng Tham Mưu của QĐND phải chịu trách nhiệm .
Một kết thúc mập mờ dẫn đến một sai lầm chiến lược
Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của Sư Đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hoả lực , ngày 04/03/1979 , Lạng Sơn thất thủ .
Sáng 05/03 , Tàu Cộng tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt , chiến thắng vẻ vang , và quyết định rút quân .
Cùng ngày 05/03 , Việt Nam phát lệnh « Tổng Động Viên » . Những quân đoàn chủ lực của QĐND có xe tăng , pháo binh , và không quân từ chiến trường Campuchia trở về , cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc , Việt Nam đã vào vị trí vây hãm HQTH . Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích , mà phần thắng sẽ thuộc về tay QĐND .
Nhưng tiếc thay , Việt Nam lại tuyên bố « Thiện Chí Hoà Bình » , rằng truyền thống ông cha ta … rằng lòng cao thượng … rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta … Việt Nam sẽ để cho HQTH rút quân an toàn .
Sự thực trên đường rút quân , HQTH vẫn chém giết , vơ vét , và phá hoại . Vụ thảm sát ngày 09/03 tại Đổng Chú , huyện Hoà An , Cao Bằng là một thí dụ . HQTH đã dùng búa , dao giết 43 người , gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai , 20 trẻ em , và 2 người đàn ông , rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối . HQTH có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở , chiếm giữ những điểm cao quan trọng , và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui .
QĐND đã không tổ chức những trận đánh cấp tập , vu hồi , tạt sườn trên đường rút quân của HQTH . Kết thúc cuộc chiến một cách mập mờ , nửa vời , đánh rắn giữa khúc , nửa nạc nửa mỡ . HQTH coi thường ý chí và kinh nghiệm chiến đấu của QĐND , và còn mỉa mai rằng chưa được « vuốt râu cọp » . Họ không tôn trọng danh tiếng của một đạo quân thiện chiến .
Quyết định « Thiện Chí Hoà Bình » của Việt Nam hình như là một thái độ thủ hoà , nhưng hoà vào một thế vô cùng bất lợi . Từ đó , trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới , Tàu Cộng luôn ở thế kẻ cả , áp đảo , và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ . Đây là hệ luỵ từ sai lầm mang tính chiến lược do Tướng Giáp và Bộ Tổng Tham Mưu gây ra .
« Anh Đặng »
Đặng Tiểu Bình là người đã phát động cuộc chiến đẫm máu , man rợ , gây ra bao nhiêu đau thương và dẫn đến những hệ luỵ cho đất nước Việt Nam nhiều năm sau đó . Đặng đã từng gọi lãnh đạo của Việt Nam là « những thằng du côn của phương Đông » , « lũ tiểu bá » , « đám vô ơn , bội bạc » . Thế mà 10 năm sau , khi những vết thương trên thân mình Tổ Quốc vẫn còn đang chảy máu , ngày 3-9-1990 , ba ông Nguyễn Văn Linh , Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng bí mật đến Thành Đô , tỉnh Tứ Xuyên , hy vọng được yết kiến Đặng Tiểu Bình . Đặng không gặp , để cho hai đàn em Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp . Cả ba ông Linh , Mười , Đồng rất tiếc vì đã không gặp được « anh Đặng » . Ông Võ Văn Kiệt ở nhà cũng tiếc hùi hụi , phàn nàn rằng « nếu có anh Đặng , thì anh Tô ( Đồng ) mới nên đi » .
Kẻ tử thù của của nhân dân Việt Nam , nay được các nhà lãnh đạo Việt Nam gọi bằng « Anh » thân thiết quá .
Cũng khoảng thời gian đó , Tướng Giáp đến thăm Tàu Cộng , và xin được gặp Tướng Dương Đắc Chí – Tổng Tư Lệnh trong cuộc chiến biên giới với Việt Nam năm 1979 . Nhưng Dương Tướng quân từ chối , nói : « Đời nào tôi lại gặp ông ta . Mộ của các cán bộ chiến sĩ vẫn còn chưa xanh cỏ ! » .
Chỉ vài thông tin để các bạn thấy được cái gọi là « Đại trí , Đại nhân , Đại dũng » của những lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam , trong đó có Đại Tướng Võ Nguyên Giáp .
( Trong bài này tôi có tham khảo tài liệu của các tác giả Bùi Tín , Trần Quang Cơ , Trần Vũ , và Bharat Raksha và trang mạng Talawas . Tôi cảm ơn các tác giả kể trên ) .
Trần Hồng Tâm , C/N :02/02/2013
https://toiac.wordpress.com/2013/10/08/su-that-ve-tuong-giap-dung-boc-phet-nua/?fbclid=IwAR1NzdFmwuOMuK6GbN8eXIt4J_7LcIit-R-PcdZQnoS1_x4kCCO6jXI3jrs

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2010

Tấm Lòng Biển: Hồi ký của một thuyền nhân Việt Nam

Tấm Lòng Biển, một hồi ký về chuyến hải hành vượt biên của nhóm thuyền nhân người Việt năm 1985, những người may mắn thoát khỏi bàn tay tử thần nhờ lòng nhân từ của một thuyền trưởng người Đại Hàn, đã ra mắt độc giả tại California vào tháng 8 năm nay. Ngay trong lời giời thiệu, cuốn sách được nói đến như lời kể chuyện chân thành và giản dị, nêu cao tấm lòng bác ái trong một con người bình dị và cũng chính tấm lòng đó đã đưa đến một câu chuyện thật đẹp về tình người, về sự biết ơn và tình bạn đã nảy sinh giữa ân nhân và người thụ ơn. Trong bài sau đây, Lan Phương sẽ gửi đến quí thính giả đôi nét về cuốn sách và câu chuyện với tác giả Nguyễn Hùng Cường và một thuyền nhân từng có mặt trong chuyến hải hành đó nay đã an cư lạc nghiệp tại Hoa Kỳ.
Câu chuyện bắt đầu năm 1985 khi chiếc ghe mỏng manh chở 96 thuyền nhân vượt biên trốn chạy chế độ cộng sản Việt Nam, hư máy, lênh đênh trên hải phận quốc tế đã bị nhiều tàu bè qua lại dửng dưng bỏ đi không vớt. Trước cơn bão dữ sắp sửa ập tới, thuyền trưởng một tàu đánh cá của Nam Hàn không đành đoạn quay lưng lại trước đám người khốn khổ đó, đã cương quyết bất chấp lệnh của công ty và có lẽ cũng là chính sách của nhiều quốc gia lúc bấy giờ, đã quá mệt mỏi trong việc cưu mang luồng sóng thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi nhất quyết quay tàu lại, hạ lệnh cho thủy thủ vớt những người này lên tàu, chăm sóc chu đáo cho họ cho đến khi tàu về tới hải khẩu Pusan và thuyền nhân được đưa vào trại tỵ nạn an toàn tại Nam Hàn. Trong câu chuyện, tác giả Nguyễn Hùng Cường còn nhắc tới sự kiện mà thuyền nhân sau khi được tàu đánh Kwang Myung 87 vớt, đã chứng kiến cảnh các thủy thủ kết một tấm bè, và họ lo ngại không biết có phải bè được kết để thả họ trở lại biển khơi hay không.
Đến sau này khi tác giả gặp lại,và được vặn hỏi, thuyền trưởng mới thổ lộ cho biết là vớt các thuyền nhân, ông đã 2 lần bất tuân thượng lệnh, lần thứ nhất là cứu thuyền nhân lên tàu, lần thứ hai là họ buộc ông phải kết bè, thả những thuyền nhân đã được cứu vào một hoang đảo gần nhất. Ông không tuân lệnh, nên đã bị mất việc. Ông không hề ân hận dù sau đó cuộc sống của ông gặp nhiều gian nan. Suốt gần 3 năm ông bị phạt không được lái tàu nhưng đến năm 1993 ông đã trở lại công việc này, làm cho nhiều hãng tàu khác nhau, lái tàu trên vùng biển Ấn Độ Dương, và hiện nay thuyền trưởng Jeon Jee Yong đã về hưu. Ông gây một trại nuôi hải sản và sinh sống bằng nghề này, bên cạnh người vợ và cô con gái.

Trong số những người được thuyền trưởng cứu vớt là ông Nguyễn Hùng Cường, tác giả cuốn sách.
Sau khi ổn định cuộc sống ở nước Mỹ, quốc gia cho ông tỵ nạn, và sau khi đón được vợ con sang đoàn tụ, tác giả, luôn bị thôi thúc phải gặp lại ân nhân, đã nhất định tìm kiếm. Cuối cùng ông đã toại nguyện. Cộng đồng người Việt đã long trọng tiếp đón, vinh danh vị thuyền trưởng tại Califfornia và báo chí của hai cộng đồng Việt-Hàn đã nhắc nhở đến câu chuyện cảm động này rất nhiều. Sau đó, tác giả lại sang Hàn Quốc để thăm viếng gia đình ân nhân rồi về hưu sớm để hoàn tất cuốn hồi ký và làm nhiều công tác thiện nguyện.
Câu chuyện đã được công ty Thúy Nga đưa lên một băng video. Còn cuốn hồi ký của ông Nguyễn Hùng Cường được đón nhận như thế nào?
Ông Cường nói: "Tôi rất mừng bởi vì lần đầu tiên tôi chỉ in ra có 1 ngàn cuốn và cho đến giờ phút này tôi đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Việt Nam trên toàn thế giới, sách bán rất chạy."
Hành động nhân ái, vị tha của thuyền trưởng Jeon Jee Yong và lòng biết ơn của thuyền nhân Nguyễn Hùng Cường đã gieo mầm cho một tình bạn khắng khít giữa hai người. Nhưng kết quả của cái hạt giống tốt đó đã không chỉ ngưng ở đây, nó còn lan tỏa đi xa hơn thế nữa. Sau buổi lễ vinh danh thuyền trưởng diễn ra tại California năm 2004, tình thân hữu giữa hai cộng đồng Hàn Việt ở Nam California ngày càng nảy nở.
Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện của một doanh nhân Việt Nam mở khách sạn Ramada ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn ở quận Cam, bang California đáng lẽ sẽ khó làm ăn, nhưng ông Cường cho biết:
"Ban đầu thì anh ấy mở dịch vụ khách sạn ấy ở ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn và anh rất là lo bởi vì không biết là có thành công hay không. Nhưng với sự chịu khó làm ăn, và nhất là sự tiếp xúc rất khéo léo của anh, và đặc biệt là qua biến cố hai cộng đồng được tiếp đón vị thuyền trưởng người Đại Hàn thì không ngờ dịch vụ của anh chủ khách sạn đó đã gặt hái được thành công tốt đẹp."

Tác giả Nguyễn Hùng Cường cũng ôm ấp nhiều tâm nguyện khi ngồi viết cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển. Dự tính thứ nhất mà ông đã thực hiện được, đó là gửi số lợi nhuận về giúp cho các cơ quan từ thiện tại Việt Nam qua các vị chân tu của các tôn giáo. Tâm nguyện thứ nhì là tìm người bảo trợ và người phiên dịch cuốn hồi ký từ Việt ngữ sang Hàn ngữ.
Ông Cường nói: "Tôi cũng đang cố gắng để mà thực hiện phần dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Hàn cuốn Tấm Lòng Biển và dĩ nhiên tôi cũng sẽ dùng tất cả những lợi nhuận từ ấn bản bằng tiêng Hàn đó để giúp cho các học sinh nghèo khổ ở bên Hàn quốc mà tôi có thể dùng danh từ mà tôi gọi là bên ngoại, bởi vì đối với cộng đồng Việt Nam thì tôi gọi là bên nội, còn đối với cộng đồng của đất nước Nam Hàn thì tôi gọi là phía bên ngoại. Và tôi cũng sẽ làm tâm nguyện của tôi đối với họ hàng bên ngoại là như vậy. Và cái tâm nguyện thứ ba là nếu trường hợp sau này kết quả đối với cái hãng phim ở bên Đại Hàn như họ từng có đặt vấn đề với tôi, họ muốn quay một cuốn phim từ cuốn Tấm Lòng Biển này thì tôi cũng đã chuyện trò với họ và cũng đã được họ chấp thuận. Tuy nhiên, thủ tục thì chưa đến giai đoạn cuối bởi vì cần phải có những thủ tục về pháp lý thành ra tôi cũng chưa biết là nó sẽ đi về đâu. Tuy nhiên, nếu được kết quả qua kế hoạch để làm phim thì tôi cũng có thể dùng số tiền mà hãng phim có thể trích ra cho tôi để tôi làm một cái foundation, và foundation đó đứng dưới tên của tôi và đứng dưới tên của ông thuyền trưởng và tôi với ông thuyền trưởng sẽ dùng ngân quĩ của foundation đó để giúp cho cô con gái của ông thuyền trưởng được qua du học tại Hoa Kỳ theo như ý nguyện của cô ấy mà tôi đã biết."
Và như hầu hết mọi thuyền nhân tỵ nạn, sau khi đến quốc gia mới để lập lại cuộc đời, ai cũng phải lo hội nhập và tất bật với công ăn việc làm và đủ mọi thứ chuyện. Nhiều người đã quên mất câu chuyện cũ, quên các bạn đồng hành và mất liên lạc với nhau. Câu chuyện của vị thuyền trưởng nhân từ được đưa lên video Paris By Night và trong cuốn hồi ký đã giúp nhóm thuyền nhân 96 người bắt liên lạc lại với nhau. Điển hình là anh Tính Trần, lúc ra đi mới 15 tuổi. Nay thì anh đã có vợ con và làm chủ một cơ sở làm ăn nhỏ, cuộc sống hoàn toàn ổn định.
Anh nói lên cảm nghĩ sau khi xem cuốn băng video và cuốn Tấm Lòng Biển: "Coi cuốn Paris By Night không thôi đã thấy ngậm ngùi rồi. Đọc cuốn sách còn ngậm ngùi hơn nhiều tại vì trong cuốn sách có nhiều chi tiết mà chú Cường liên lạc với ông thuyền trường, người mà mình chịu ơn người ta quá nhiều mà cuối cùng không tài nào kiếm được, chỉ có chú Cường chú ấy bỏ nhiều công sức và thời giờ ra đi kiếm thì chú ấy mới kiếm ra. Đọc thì ngậm ngùi lắm. Cái điểm làm xúc động nhất là ông thuyền trưởng giúp mình mà cuối cùng vì mình mà ông ấy mất việc làm, thì mới cảm thấy là ông ấy hy sinh vì mình quá nhiều mà đôi khi mình là người mang ơn mà không biết tới."
Anh Tính cũng cho biết về ước nguyện của anh đối với vị ân nhân cứu tử. Anh nói: "Em đã nói với chú Cường là ráng làm sao mà gây được một cái quĩ nào để anh em thuyền nhân của mình trong khả năng nhỏ bé của mỗi người mà trả ơn cho người đã cứu vớt mình."
Quí thính giả nào muốn liên lạc với tác giả cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển:
Nguyễn Hùng Cường
(714) 588-4919
huongcuong_dcct@yahoo.com.

Quí vị vừa theo dõi đôi nét về cuốn hồi Ký Tấm Lòng Biển của một thuyền nhân Việt Nam, nói lên lòng biết ơn trước hành động nhân từ, vị tha của thuyền trưởng đã cứu vớt ông và các bạn đồng hành.