Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

Tấm Lòng Biển: Hồi ký của một thuyền nhân Việt Nam

Tấm Lòng Biển, một hồi ký về chuyến hải hành vượt biên của nhóm thuyền nhân người Việt năm 1985, những người may mắn thoát khỏi bàn tay tử thần nhờ lòng nhân từ của một thuyền trưởng người Đại Hàn, đã ra mắt độc giả tại California vào tháng 8 năm nay. Ngay trong lời giời thiệu, cuốn sách được nói đến như lời kể chuyện chân thành và giản dị, nêu cao tấm lòng bác ái trong một con người bình dị và cũng chính tấm lòng đó đã đưa đến một câu chuyện thật đẹp về tình người, về sự biết ơn và tình bạn đã nảy sinh giữa ân nhân và người thụ ơn. Trong bài sau đây, Lan Phương sẽ gửi đến quí thính giả đôi nét về cuốn sách và câu chuyện với tác giả Nguyễn Hùng Cường và một thuyền nhân từng có mặt trong chuyến hải hành đó nay đã an cư lạc nghiệp tại Hoa Kỳ.
Câu chuyện bắt đầu năm 1985 khi chiếc ghe mỏng manh chở 96 thuyền nhân vượt biên trốn chạy chế độ cộng sản Việt Nam, hư máy, lênh đênh trên hải phận quốc tế đã bị nhiều tàu bè qua lại dửng dưng bỏ đi không vớt. Trước cơn bão dữ sắp sửa ập tới, thuyền trưởng một tàu đánh cá của Nam Hàn không đành đoạn quay lưng lại trước đám người khốn khổ đó, đã cương quyết bất chấp lệnh của công ty và có lẽ cũng là chính sách của nhiều quốc gia lúc bấy giờ, đã quá mệt mỏi trong việc cưu mang luồng sóng thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi nhất quyết quay tàu lại, hạ lệnh cho thủy thủ vớt những người này lên tàu, chăm sóc chu đáo cho họ cho đến khi tàu về tới hải khẩu Pusan và thuyền nhân được đưa vào trại tỵ nạn an toàn tại Nam Hàn. Trong câu chuyện, tác giả Nguyễn Hùng Cường còn nhắc tới sự kiện mà thuyền nhân sau khi được tàu đánh Kwang Myung 87 vớt, đã chứng kiến cảnh các thủy thủ kết một tấm bè, và họ lo ngại không biết có phải bè được kết để thả họ trở lại biển khơi hay không.
Đến sau này khi tác giả gặp lại,và được vặn hỏi, thuyền trưởng mới thổ lộ cho biết là vớt các thuyền nhân, ông đã 2 lần bất tuân thượng lệnh, lần thứ nhất là cứu thuyền nhân lên tàu, lần thứ hai là họ buộc ông phải kết bè, thả những thuyền nhân đã được cứu vào một hoang đảo gần nhất. Ông không tuân lệnh, nên đã bị mất việc. Ông không hề ân hận dù sau đó cuộc sống của ông gặp nhiều gian nan. Suốt gần 3 năm ông bị phạt không được lái tàu nhưng đến năm 1993 ông đã trở lại công việc này, làm cho nhiều hãng tàu khác nhau, lái tàu trên vùng biển Ấn Độ Dương, và hiện nay thuyền trưởng Jeon Jee Yong đã về hưu. Ông gây một trại nuôi hải sản và sinh sống bằng nghề này, bên cạnh người vợ và cô con gái.

Trong số những người được thuyền trưởng cứu vớt là ông Nguyễn Hùng Cường, tác giả cuốn sách.
Sau khi ổn định cuộc sống ở nước Mỹ, quốc gia cho ông tỵ nạn, và sau khi đón được vợ con sang đoàn tụ, tác giả, luôn bị thôi thúc phải gặp lại ân nhân, đã nhất định tìm kiếm. Cuối cùng ông đã toại nguyện. Cộng đồng người Việt đã long trọng tiếp đón, vinh danh vị thuyền trưởng tại Califfornia và báo chí của hai cộng đồng Việt-Hàn đã nhắc nhở đến câu chuyện cảm động này rất nhiều. Sau đó, tác giả lại sang Hàn Quốc để thăm viếng gia đình ân nhân rồi về hưu sớm để hoàn tất cuốn hồi ký và làm nhiều công tác thiện nguyện.
Câu chuyện đã được công ty Thúy Nga đưa lên một băng video. Còn cuốn hồi ký của ông Nguyễn Hùng Cường được đón nhận như thế nào?
Ông Cường nói: "Tôi rất mừng bởi vì lần đầu tiên tôi chỉ in ra có 1 ngàn cuốn và cho đến giờ phút này tôi đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả Việt Nam trên toàn thế giới, sách bán rất chạy."
Hành động nhân ái, vị tha của thuyền trưởng Jeon Jee Yong và lòng biết ơn của thuyền nhân Nguyễn Hùng Cường đã gieo mầm cho một tình bạn khắng khít giữa hai người. Nhưng kết quả của cái hạt giống tốt đó đã không chỉ ngưng ở đây, nó còn lan tỏa đi xa hơn thế nữa. Sau buổi lễ vinh danh thuyền trưởng diễn ra tại California năm 2004, tình thân hữu giữa hai cộng đồng Hàn Việt ở Nam California ngày càng nảy nở.
Tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện của một doanh nhân Việt Nam mở khách sạn Ramada ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn ở quận Cam, bang California đáng lẽ sẽ khó làm ăn, nhưng ông Cường cho biết:
"Ban đầu thì anh ấy mở dịch vụ khách sạn ấy ở ngay giữa lòng khu phố của người Đại Hàn và anh rất là lo bởi vì không biết là có thành công hay không. Nhưng với sự chịu khó làm ăn, và nhất là sự tiếp xúc rất khéo léo của anh, và đặc biệt là qua biến cố hai cộng đồng được tiếp đón vị thuyền trưởng người Đại Hàn thì không ngờ dịch vụ của anh chủ khách sạn đó đã gặt hái được thành công tốt đẹp."

Tác giả Nguyễn Hùng Cường cũng ôm ấp nhiều tâm nguyện khi ngồi viết cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển. Dự tính thứ nhất mà ông đã thực hiện được, đó là gửi số lợi nhuận về giúp cho các cơ quan từ thiện tại Việt Nam qua các vị chân tu của các tôn giáo. Tâm nguyện thứ nhì là tìm người bảo trợ và người phiên dịch cuốn hồi ký từ Việt ngữ sang Hàn ngữ.
Ông Cường nói: "Tôi cũng đang cố gắng để mà thực hiện phần dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Hàn cuốn Tấm Lòng Biển và dĩ nhiên tôi cũng sẽ dùng tất cả những lợi nhuận từ ấn bản bằng tiêng Hàn đó để giúp cho các học sinh nghèo khổ ở bên Hàn quốc mà tôi có thể dùng danh từ mà tôi gọi là bên ngoại, bởi vì đối với cộng đồng Việt Nam thì tôi gọi là bên nội, còn đối với cộng đồng của đất nước Nam Hàn thì tôi gọi là phía bên ngoại. Và tôi cũng sẽ làm tâm nguyện của tôi đối với họ hàng bên ngoại là như vậy. Và cái tâm nguyện thứ ba là nếu trường hợp sau này kết quả đối với cái hãng phim ở bên Đại Hàn như họ từng có đặt vấn đề với tôi, họ muốn quay một cuốn phim từ cuốn Tấm Lòng Biển này thì tôi cũng đã chuyện trò với họ và cũng đã được họ chấp thuận. Tuy nhiên, thủ tục thì chưa đến giai đoạn cuối bởi vì cần phải có những thủ tục về pháp lý thành ra tôi cũng chưa biết là nó sẽ đi về đâu. Tuy nhiên, nếu được kết quả qua kế hoạch để làm phim thì tôi cũng có thể dùng số tiền mà hãng phim có thể trích ra cho tôi để tôi làm một cái foundation, và foundation đó đứng dưới tên của tôi và đứng dưới tên của ông thuyền trưởng và tôi với ông thuyền trưởng sẽ dùng ngân quĩ của foundation đó để giúp cho cô con gái của ông thuyền trưởng được qua du học tại Hoa Kỳ theo như ý nguyện của cô ấy mà tôi đã biết."
Và như hầu hết mọi thuyền nhân tỵ nạn, sau khi đến quốc gia mới để lập lại cuộc đời, ai cũng phải lo hội nhập và tất bật với công ăn việc làm và đủ mọi thứ chuyện. Nhiều người đã quên mất câu chuyện cũ, quên các bạn đồng hành và mất liên lạc với nhau. Câu chuyện của vị thuyền trưởng nhân từ được đưa lên video Paris By Night và trong cuốn hồi ký đã giúp nhóm thuyền nhân 96 người bắt liên lạc lại với nhau. Điển hình là anh Tính Trần, lúc ra đi mới 15 tuổi. Nay thì anh đã có vợ con và làm chủ một cơ sở làm ăn nhỏ, cuộc sống hoàn toàn ổn định.
Anh nói lên cảm nghĩ sau khi xem cuốn băng video và cuốn Tấm Lòng Biển: "Coi cuốn Paris By Night không thôi đã thấy ngậm ngùi rồi. Đọc cuốn sách còn ngậm ngùi hơn nhiều tại vì trong cuốn sách có nhiều chi tiết mà chú Cường liên lạc với ông thuyền trường, người mà mình chịu ơn người ta quá nhiều mà cuối cùng không tài nào kiếm được, chỉ có chú Cường chú ấy bỏ nhiều công sức và thời giờ ra đi kiếm thì chú ấy mới kiếm ra. Đọc thì ngậm ngùi lắm. Cái điểm làm xúc động nhất là ông thuyền trưởng giúp mình mà cuối cùng vì mình mà ông ấy mất việc làm, thì mới cảm thấy là ông ấy hy sinh vì mình quá nhiều mà đôi khi mình là người mang ơn mà không biết tới."
Anh Tính cũng cho biết về ước nguyện của anh đối với vị ân nhân cứu tử. Anh nói: "Em đã nói với chú Cường là ráng làm sao mà gây được một cái quĩ nào để anh em thuyền nhân của mình trong khả năng nhỏ bé của mỗi người mà trả ơn cho người đã cứu vớt mình."
Quí thính giả nào muốn liên lạc với tác giả cuốn hồi ký Tấm Lòng Biển:
Nguyễn Hùng Cường
(714) 588-4919
huongcuong_dcct@yahoo.com.

Quí vị vừa theo dõi đôi nét về cuốn hồi Ký Tấm Lòng Biển của một thuyền nhân Việt Nam, nói lên lòng biết ơn trước hành động nhân từ, vị tha của thuyền trưởng đã cứu vớt ông và các bạn đồng hành.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020


Khi chủ nhà muốn trả lại bằng xếp hạng di tích

Bệnh tật ốm đau không có tiền chữa trị và bức bách về chỗ ở nên sau thời gian dài mệt mỏi kiến nghị xin hoán đổi nhà, chủ sở hữu ngôi nhà đã bức xúc làm đơn xin trả lại bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

Di tích lịch sử cấp quốc gia ở số 7 Lý Chính Thắng gắn liền với cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968
 /// Ảnh: Quỳnh Trân


Di tích lịch sử cấp quốc gia ở số 7 Lý Chính Thắng gắn liền với cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968
Ảnh: Quỳnh Trân

 
 
 
 
 
Cũng có trường hợp tài sản xảy ra nhiều tranh chấp dân sự mà nguyện vọng của người quá cố lúc hiến tặng chưa thực hiện đúng, con cháu cũng từ chối gắn bảng xếp hạng di tích, chờ ra tòa giải quyết.

Từ di tích cấp quốc gia lừng lẫy...

Bên phải góc đường Hai Bà Trưng - Lý Chính Thắng (TP.HCM) có một “địa chỉ đỏ” của chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đó là quán phở Bình nổi tiếng của vợ chồng ông Ngô Toại (Ngô Duy Ái). Vì có vị trí chiến lược nên ngôi nhà số 7 Yên Đỗ (Lý Chính Thắng hiện nay) từ năm 1967 đã được chủ nhân cho cách mạng sử dụng làm cơ sở bí mật của Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6, tập kết các chiến sĩ biệt động để trực tiếp tham gia chiến đấu.

Trường hợp chưa có tiền lệ ?

Theo một chuyên viên Sở VH-TT TP.HCM, trường hợp chủ sở hữu làm đơn gửi trả lại bằng xếp hạng di tích ở VN chưa từng xảy ra tiền lệ nên rất khó giải quyết. “Vì chính họ trước đây đã có ký đơn đề nghị thì nhà nước mới xếp hạng. Bây giờ muốn trả lại thì cơ quan ra quyết định công nhận phải ký hủy thì mới đúng thủ tục. Còn tự dưng đề nghị xin trả bằng xếp hạng di tích để... bán nhà chữa bệnh thì là “độc nhất vô nhị” rồi. Vụ việc này hoàn toàn khác với vụ dinh thự của vua Mèo ở H.Đồng Văn (Hà Giang), khi chủ sở hữu di tích số 7 Lý Chính Thắng vẫn là chủ ngôi nhà chứ nhà nước không quản lý. Vì vậy, theo tôi, ông Ngô Văn Lập vẫn có quyền làm sổ hồng để có sở hữu nhà hợp pháp, làm thủ tục mua bán như tài sản bình thường. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là người mua nhà sau này phải cam kết thực hiện việc bảo vệ và quản lý di tích cấp quốc gia theo đúng quy định của luật Di sản văn hóa”, vị chuyên viên này nói.
Riêng ngôi nhà cổ của cụ Vương Hồng Sển thì có tình tiết giống với dinh thự vua Mèo hơn. Cả hai di tích đều được xếp hạng và do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, vì chưa tìm được tiếng nói chung về việc giải quyết quyền lợi hợp pháp với các đồng thừa kế Vân Đường Phủ của cụ Sển nên mọi việc cứ bị kéo dài, cần phải được giải quyết có tình có lý thì mới thuyết phục và kết thúc có hậu.
Tại đây, đêm 30 Tết Mậu Thân 1968, Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng phân khu 6 Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu), Chính trị viên cụm J9 Hai Trí (Nguyễn Văn Trí), Đội trưởng A30 - đội trưởng đội biệt động 11 đánh tòa Đại sứ Mỹ Ba Đen (Ngô Thành Vân), Chỉ huy trưởng Cụm biệt động 679 Ba Phong (Đỗ Tấn Phong)... vinh dự nhận nhiệm vụ cùng các chiến sĩ chuyên chở vũ khí, thông tin cơ yếu và quân y sẵn sàng cho các mặt trận: Dinh Độc Lập, tòa Đại sứ Mỹ, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng tham mưu ngụy...
Ông Ngô Văn Lập, con trai ông Ngô Toại, nhớ lại: “Khi đó tôi mới 12 tuổi. Từ 20 tháng chạp năm 1968, mỗi khi có ai đến ăn phở đáp đúng mật khẩu theo quy định là tôi đưa họ lên tầng 2 cho các chú cấp cao nhận kiểm soát tín hiệu tiếp. Sáng mùng 3 tết, cuộc chiến vô cùng cam go khi cơ sở này có dấu hiệu bại lộ, địch cho 2 chiếc trực thăng bay ngay trên nóc nhà tôi thả lính xuống bắn chết tại chỗ hai đồng chí của ta. Ba tôi và anh rể cùng một số anh em bị bắt. Chỉ mình tôi, địch giữ lại để khi có ai tới gọi ra mở cửa để bắt tiếp. Nhưng nhờ buổi tối, lấy cớ xin mang đồ ra phơi, tôi đã gắn được ám hiệu báo cơ sở đã bị lộ cho mọi người biết mà tránh. Còn ba tôi, dù giặc tra tấn dã man vẫn không khai báo điều gì nên bị đày ra Côn Đảo đến năm 1973, sau Hiệp định Paris mới được trao trả”.
Ngày 16.11.1998, ngôi nhà số 7 Lý Chính Thắng (quán phở Bình) được Bộ Văn hóa trao bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, trở thành niềm vinh dự cho gia đình ông Ngô Toại.

Khi chủ nhà muốn trả lại bằng xếp hạng di tích - ảnh 1

Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 năm 1968 được gìn giữ nguyên vẹn

… Đến Vân Đường Phủ buồn

Lúc còn sống, học giả Vương Hồng Sển là chủ sở hữu ngôi nhà số 11 (số cũ là 9/1) Nguyễn Thiện Thuật, P.14, Q.Bình Thạnh (TP.HCM) luôn rợp mát bóng cây được ông đặt tên là Vân Đường Phủ (Vân Đường là một trong những bút hiệu của cụ).
Ngôi nhà cổ 5 gian 2 chái được học giả lùng mua tận dưới Phú Xuân - Nhà Bè mang về dựng lại trên miếng đất gần 1.000 m2, bên trong cất giữ hàng trăm món đồ cổ quý giá.

Khi chủ nhà muốn trả lại bằng xếp hạng di tích - ảnh 2

Vân Đường Phủ của cụ Vương Hồng Sển xuống cấp theo thời gian do con cháu tranh chấp nợ nần
https://thanhnien.vn/van-hoa/khi-chu-nha-muon-tra-lai-bang-xep-hang-di-tich-1192544.html?fbclid=IwAR3ZesaaFJEkOiE-MmKChmmy23_QGwVuUJSejkHrnaCfbExTUp2Dm5doCQU

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2020

Khi chủ nhà muốn trả lại bằngxếp hạng di tích 
Bệnh tật ốm đau không có tiền chữa trị và bức bách về chỗ ở nên sau thời gian dài mệt mỏi kiến nghị xin hoán đổi nhà, chủ sở hữu ngôi nhà đã bức xúc làm đơn xin trả lại bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Di tích lịch sử cấp quốc gia ở số 7 Lý Chính Thắng gắn liền với cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968
 /// Ảnh: Quỳnh Trân
Di tích lịch sử cấp quốc gia ở số 7 Lý Chính Thắng gắn liền với cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968
Ảnh: Quỳnh Trân
 
 
 
 
 
Cũng có trường hợp tài sản xảy ra nhiều tranh chấp dân sự mà nguyện vọng của người quá cố lúc hiến tặng chưa thực hiện đúng, con cháu cũng từ chối gắn bảng xếp hạng di tích, chờ ra tòa giải quyết.

Từ di tích cấp quốc gia lừng lẫy...

Bên phải góc đường Hai Bà Trưng - Lý Chính Thắng (TP.HCM) có một “địa chỉ đỏ” của chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đó là quán phở Bình nổi tiếng của vợ chồng ông Ngô Toại (Ngô Duy Ái). Vì có vị trí chiến lược nên ngôi nhà số 7 Yên Đỗ (Lý Chính Thắng hiện nay) từ năm 1967 đã được chủ nhân cho cách mạng sử dụng làm cơ sở bí mật của Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6, tập kết các chiến sĩ biệt động để trực tiếp tham gia chiến đấu.

Trường hợp chưa có tiền lệ ?

Theo một chuyên viên Sở VH-TT TP.HCM, trường hợp chủ sở hữu làm đơn gửi trả lại bằng xếp hạng di tích ở VN chưa từng xảy ra tiền lệ nên rất khó giải quyết. “Vì chính họ trước đây đã có ký đơn đề nghị thì nhà nước mới xếp hạng. Bây giờ muốn trả lại thì cơ quan ra quyết định công nhận phải ký hủy thì mới đúng thủ tục. Còn tự dưng đề nghị xin trả bằng xếp hạng di tích để... bán nhà chữa bệnh thì là “độc nhất vô nhị” rồi. Vụ việc này hoàn toàn khác với vụ dinh thự của vua Mèo ở H.Đồng Văn (Hà Giang), khi chủ sở hữu di tích số 7 Lý Chính Thắng vẫn là chủ ngôi nhà chứ nhà nước không quản lý. Vì vậy, theo tôi, ông Ngô Văn Lập vẫn có quyền làm sổ hồng để có sở hữu nhà hợp pháp, làm thủ tục mua bán như tài sản bình thường. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là người mua nhà sau này phải cam kết thực hiện việc bảo vệ và quản lý di tích cấp quốc gia theo đúng quy định của luật Di sản văn hóa”, vị chuyên viên này nói.
Riêng ngôi nhà cổ của cụ Vương Hồng Sển thì có tình tiết giống với dinh thự vua Mèo hơn. Cả hai di tích đều được xếp hạng và do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, vì chưa tìm được tiếng nói chung về việc giải quyết quyền lợi hợp pháp với các đồng thừa kế Vân Đường Phủ của cụ Sển nên mọi việc cứ bị kéo dài, cần phải được giải quyết có tình có lý thì mới thuyết phục và kết thúc có hậu.
Tại đây, đêm 30 Tết Mậu Thân 1968, Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng phân khu 6 Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu), Chính trị viên cụm J9 Hai Trí (Nguyễn Văn Trí), Đội trưởng A30 - đội trưởng đội biệt động 11 đánh tòa Đại sứ Mỹ Ba Đen (Ngô Thành Vân), Chỉ huy trưởng Cụm biệt động 679 Ba Phong (Đỗ Tấn Phong)... vinh dự nhận nhiệm vụ cùng các chiến sĩ chuyên chở vũ khí, thông tin cơ yếu và quân y sẵn sàng cho các mặt trận: Dinh Độc Lập, tòa Đại sứ Mỹ, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng tham mưu ngụy...
Ông Ngô Văn Lập, con trai ông Ngô Toại, nhớ lại: “Khi đó tôi mới 12 tuổi. Từ 20 tháng chạp năm 1968, mỗi khi có ai đến ăn phở đáp đúng mật khẩu theo quy định là tôi đưa họ lên tầng 2 cho các chú cấp cao nhận kiểm soát tín hiệu tiếp. Sáng mùng 3 tết, cuộc chiến vô cùng cam go khi cơ sở này có dấu hiệu bại lộ, địch cho 2 chiếc trực thăng bay ngay trên nóc nhà tôi thả lính xuống bắn chết tại chỗ hai đồng chí của ta. Ba tôi và anh rể cùng một số anh em bị bắt. Chỉ mình tôi, địch giữ lại để khi có ai tới gọi ra mở cửa để bắt tiếp. Nhưng nhờ buổi tối, lấy cớ xin mang đồ ra phơi, tôi đã gắn được ám hiệu báo cơ sở đã bị lộ cho mọi người biết mà tránh. Còn ba tôi, dù giặc tra tấn dã man vẫn không khai báo điều gì nên bị đày ra Côn Đảo đến năm 1973, sau Hiệp định Paris mới được trao trả”.
Ngày 16.11.1998, ngôi nhà số 7 Lý Chính Thắng (quán phở Bình) được Bộ Văn hóa trao bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, trở thành niềm vinh dự cho gia đình ông Ngô Toại.
Khi chủ nhà muốn trả lại bằng xếp hạng di tích - ảnh 1
Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 năm 1968 được gìn giữ nguyên vẹn

… Đến Vân Đường Phủ buồn

Lúc còn sống, học giả Vương Hồng Sển là chủ sở hữu ngôi nhà số 11 (số cũ là 9/1) Nguyễn Thiện Thuật, P.14, Q.Bình Thạnh (TP.HCM) luôn rợp mát bóng cây được ông đặt tên là Vân Đường Phủ (Vân Đường là một trong những bút hiệu của cụ).
Ngôi nhà cổ 5 gian 2 chái được học giả lùng mua tận dưới Phú Xuân - Nhà Bè mang về dựng lại trên miếng đất gần 1.000 m2, bên trong cất giữ hàng trăm món đồ cổ quý giá.
Khi chủ nhà muốn trả lại bằng xếp hạng di tích - ảnh 2
Vân Đường Phủ của cụ Vương Hồng Sển xuống cấp theo thời gian do con cháu tranh chấp nợ nần

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2020

Cư dân Việt trên địa bàn huyện Phong Điền
Quá trình tụ cư
Trong bối cảnh hoà bình, một số làng Việt sớm nhất của Phong Điền đã được thành lập. Qua văn bản “Khám cấp Ma Nê xứ điền” ([1]) của Ty thừa tuyên sứ tán trị xứ Thuận Hóa cấp cho làng Đa Cảm (Mỹ Xuyên) năm 1451 và kết hợp với gia phả họ Lê làng này, có thể ghi nhận rằng: vào đầu thế kỷ XV, làng Đa Cảm đã được một nhóm cư dân thành lập, người khai canh là ông Lê Văn Cá. Đến giữa thế kỷ XV, một người con trai của ông là Lê Cạnh làm xã trưởng cùng một tập thể dân làng thuộc nhiều họ đã xin khai phá thêm xứ ruộng Ma Nê. Việc xác định ranh giới của xứ ruộng này cũng nêu lên được một số làng lân cận đã thành lập trước đó, như làng Đàm Bổng (Ưu Điềm), An Triền (Hòa Viện), Bể Thu (Phú Nông). Từ thực tế của các làng này, có thể xét đoán rằng các làng lân cận như Vĩnh Cố (Vĩnh An), Phò Trạch, Đường Long (Chí Long), Chánh Lộ (Chánh Lộc), Lương Mai đã được hình thành trong giai đoạn tương đương.
Như vậy, dọc theo bờ Nam sông Ô Lâu, một số quần thể di dân từ Thanh Nghệ đã tụ cư lập làng ngay từ đầu thế kỷ XV. Tương ứng như vậy, ở bờ Bắc phá Tam Giang, dọc theo vùng cát và ruộng đồng ven phá, các làng Trung Tuyền (Trung Đồng), Vĩnh Áng (Vĩnh Xương), Hương Triền (Thanh Hương) và Thế Chí cũng được hình thành.
Trong khi đó, ở địa bàn phía Nam huyện, tại bờ Bắc sông Bồ cũng có một số làng được thành lập sớm, tiêu biểu là Hoa Lang (Hiền Lương), An Lỗ, Bồ Điền, Phò Đái (Phò Ninh), Hiền Sĩ, Đông Dã và Cổ Bi.
Như vậy, vùng đất tụ cư ban đầu của cư dân Việt trên địa bàn huyện Phong Điền là những vùng đất phù sa ven hai con sông lớn của huyện: sông Ô Lâu, sông Bồ và cả ven đầm phá Tam Giang, những nơi thuận lợi có thể phục hóa hoặc khai hoang tạo thành đồng ruộng, vườn tược. Tuy nhiên, lúc này vẫn còn những vùng đất lổ đổ chưa khai phá, mãi đến những năm sau chiến thắng Đồ Bàn 1471 dưới triều vua Lê Thánh Tông, công cuộc di dân mới bổ sung. Hầu hết những vị khai canh lập ấp giai đoạn này là quan binh trong quân đội Đại Việt. Sau chiến thắng đã vâng lệnh vua, tìm đất hoang tại Thuận Hoá để thành lập làng xã. Tiêu biểu trong đợt này là làng Cảm Quyết (Phước Tích), Sơn Tùng, Kế Môn, Đông Lâm, Thượng Lộ (Thượng An).
Như vậy, cho đến cuối thế kỷ XV, trên địa bàn huyện Phong Điền đã có 24 làng Việt định cư và xây dựng cuộc sống mới.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ xứ Thuận Hóa. Sau những chiến công đánh thắng quân Mạc ở Ái Tử, quân Trịnh ở Do Linh, Hải Lăng, ông đã tăng cường binh dân khai phá đất hoang hóa thành lập các đơn vị dân cư mới. Trong trường hợp đó, các làng Vân Lô (Vân Trình), Siêu Loại (Siêu Quần), Trạch Phổ, Cao Ban, Cao Xá Thượng, Cao Xá Hạ, Da Viên, Lai Xá, Chính Hòa, Đại Lộc được thành lập. Khoảng cuối thế kỷ XVII, hai phường tứ chính An Thị và khách hộ Phú Xuân cũng được thành hình.
Từ đầu thế kỷ XVIII đã có các hộ gia đình lên khai hoang, lập nương rẫy trên vùng đất trung du phía Tây huyện; đến giữa thế kỷ XVIII, các phường Huỳnh Liên, Tân Lộc đã ra đời, phụ thuộc vào các làng gốc. Với nhịp điệu khai hoang diễn tiến, vào nửa sau thế kỷ XIX các thôn ấp mới đã ra đời như Thượng Nguyên, Xuân Lộc, Sơn Quả, Điền Xuân, Cổ Xuân, Lương Sĩ và Thanh Tân ở vùng đồi núi trung du, và Mỹ Hoà, Hoà Xuân ở ven phá Tam Giang.
Vào đầu thế kỷ XX, việc khai hoang tự phát vẫn tiếp tục, người dân định cư ở vùng trung du càng nhiều, tiến lên xây dựng thành những thôn ấp mới như Khúc Lý, Hưng Thái, Lưu Phước, Hòa Mỹ, Hiền An. Tại vùng cát ven biển cũng có những điểm định cư mới như Hải Nhuận, Tân Hội. bên cạnh đó, cũng có những vùng đất mới khai phá, nhưng vẫn lệ thuộc vào làng cũ như Công Thành, Triều Dương, Vịnh Nẩy, Đông Lái, Tây Lái.
Đặc biệt là sau ngày thống nhất đất nước, hưởng ứng chủ trương di dân xây dựng vùng kinh tế mới ở trung du, miền núi, nhân dân các địa bàn hạ bạn ở trong huyện Hương Điền (huyện mới thành lập do sáp nhập 3 huyện cũ: Phong Điền, Hương Điền, Quảng Điền), đã rời làng cũ lên xây dựng những vùng cư trú mới ở phía Tây, dần dần thành lập các thôn mới thuộc xã Phong Xuân như Vinh Ngạn 1, Vinh Ngạn 2, Vinh Phú, Xuân Phú, Xuân Lập, Phong Hòa, Bình An, Lộc Lợi, Tân Lập của xã Phong Xuân và Tân Mỹ, Quảng Phước, Quảng Thọ, Thái Mỹ, Đông Mỹ, Phong Thu ở xã Phong Mỹ.
Về bộ phận cư dân Pa Hy, trước khi vào cư trú tại địa bàn Phong Điền, họ đã từng sinh sống tại châu Thuận Bình ở đầu nguồn sông Thạch Hãn, huyện Hải Lăng liên tục trong nhiều thế kỷ. Những năm giữa thế kỷ XX, do chiến tranh, họ đã đi dần vào Nam cư trú đầu nguồn sông Ô Lâu và sau giải phóng, hưởng ứng chủ trương định canh, định cư, họ đã ổn định việc cư trú tại các thôn bản khe Trăn, Hạ Long, khe Trai.
Như vậy, phải trải qua ngót 600 năm từ khi những làng Việt đầu tiên định cư trên đất Phong Điền cho đến nay, việc phân bố dân cư trên địa bàn huyện, từ triền núi phía Tây giáp ranh huyện A Lưới đến ven biển phía Đông và từ phía Nam sông Ô Lâu đến phía Bắc sông Bồ mới tỏa ra khắp địa bàn.
ĐẶC ĐIỂM QUẦN CƯ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ THEO TỪNG THỜI KỲ
Đặc điểm quần cư và phân bố dân cư của huyện Phong Điền phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên lãnh thổ, vào lịch sử phát triển đất nước từ khi hai châu Ô-Lý được sáp nhập vào Đại Việt đầu thế kỷ XIV đến nay. Trong thời gian đó, sự hình thành các địa bàn dân cư trên huyện Phong Điền có thể hình dung theo ba thời kỳ.
1. Thời kỳ trước năm 1558
Đây là thời kỳ đầu có sự thay đổi về thành phần, số lượng dân cư và hình thành phát triển phần lớn các thôn ấp làng xã người Việt trên đất Hoá châu nói chung, huyện Phong Điền nói riêng. Lúc đầu khi hai châu Ô-Lý là bộ phận của nước Đại Việt, người Chăm Pa còn đông đúc, nhưng sau đó họ lùi dần vào phương Nam. Ngược lại, người Việt lúc đầu còn thưa thớt nhưng về sau ngày càng đông do các cuộc di cư của cư dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Nghệ Tĩnh vào trên đất Phong Điền. Có nhiều tư liệu cho thấy người Việt đã vào định cư từ sớm. Cho đến nay, những gì đã biết được, chứng tỏ từ nửa đầu thế kỷ XV vào thời Lê Sơ, trên dải đồng bằng ven sông Ô Lâu, sông Bồ đã có mặt dân cư người Việt đến làm ăn sinh sống. Đó là các văn bản Thỉ Thiên tự của ông Bùi Trành ông tổ họ Bùi làng Câu Nhi chép lại từ văn bản gốc có niên đại Thuận Thiên thứ 21 thời vua Lê Thái Tổ (1429), văn bản thứ hai lưu giữ tại nhà thờ họ Lê Văn ở làng Mỹ Xuyên ghi năm Đại Hoà thứ 9 thời vua Lê Nhân Tông (1451), xác định quyền khai canh và sở hữu ruộng đất của 24 người thuộc 8 dòng họ của làng Mỹ Xuyên (hồi ấy còn gọi làng Đa Cảm) đối với vùng ruộng đồng Ma Nê mà họ đã khẩn hoang để canh tác. Đó là các gia phả của các dòng họ làng Phước Tích, làng Ưu Điềm ghi các ngài thỉ tổ của họ đã có mặt ở đây vào cuối nửa đầu thế kỷ XV. Ở phía Nam huyện có nhiều ý kiến cho rằng làng Cổ Bi là một trong những làng cổ nhất ở đất Hoá châu. Làng Hiền Lương chưa biết chính xác thành lập từ bao giờ nhưng trong Hiền Lương chí lược có ghi “Trước đây dưới thời nhà Mạc (1527-1595) làng này mang tên là làng Hoa Lang thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá” ([2]). Như vậy, trên đất Phong Điền, người Việt từ miền Bắc đã có mặt sớm so với thời gian ra đời của tác phẩm Ô châu cận lục của Dương Văn An trên 100 năm. Vấn đề không gian phân bố dân cư cũng như đặc điểm quần cư bị chi phối bởi các mối quan hệ chung giống như dân cư bất cứ nơi nào trên đất nước ta là quan hệ giữa con người với thiên nhiên và quan hệ cộng đồng làng xã, họ tộc. Quan hệ giữa con người với thiên nhiên đòi hỏi phải chọn nơi có các điều kiện định canh, định cư thuận lợi. Trên lãnh thổ Phong Điền đó là các đồng bằng phù sa ven sông Ô Lâu, sông Bồ, ven phá Tam Giang, nơi có đất đai phì nhiêu, nguồn nước phong phú, điều kiện giao thông đi lại dễ dàng, nhất là đối với cư dân nông nghiệp chuyên sống bằng nghề nông. Vì vậy, các làng xã đầu tiên đều hình thành ven sông, ven đầm phá: Phước Tích, Mỹ Xuyên, Ưu Điềm về đến Thanh Hương, Đại Lược ở phía Bắc và ở phía Nam là làng Hiền Lương ngược lên Cổ Bi, Hiền Sĩ đều nằm ở đồng bằng ven sông.
Về quan hệ cộng đồng làng xã cũng là một nhu cầu không thể thiếu. Dù vùng đất mới không phải vô chủ nhưng xa lạ và gặp nhiều khó khăn, một mình không dễ gì khắc phục. Phải hợp tác, cộng đồng với nhau dưới hình thức từ thấp đến cao và làng xã ra đời. Hơn nữa, làng xã vốn là tổ chức truyền thống ở quê hương cũ. Vì vậy quần cư của dân cư được tổ chức theo kiểu nông thôn làng xã là tổ chức cơ sở của nhà nước trung ương, nhưng cũng để đáp ứng nhu cầu ở địa phương. Tuy nhiên mỗi làng đều bao gồm một số họ, trong đó con cháu sống quây quần bên nhau, có nhà thờ tổ tiên, giữa các thành viên, các thế hệ khác nhau có sự gắn bó máu thịt. Một số vị tổ trở thành những người khai canh khai khẩn, có công dựng làng, mở đất, được làng thờ phụng, tế lễ chu đáo ở các đình làng hàng năm. Về số lượng dân cư khó có thể xác định, nhưng có điều chắc chắn là còn rất thưa thớt. Đến đầu thế kỷ XV cả phủ Thuận Hoá có 79 xã, 1.470 gia đình, 5.663 người. Theo Nguyễn Văn Đăng, dân số Thừa Thiên Huế năm 1555, nghĩa là 3 năm trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn phủ xứ Thuận Hoá là 191 xã, 21.010 hộ và số người ước tính là 84.040 ([3]). Theo sách Ô châu cận lụcvào thời điểm ấy, trên đất Phong Điền đã có 24 làng. Từ đó có thể tính trung bình dân số Phong Điền ước chừng 10.000 người.
Như vậy trên đất Phong Điền hiện nay vào thời kỳ nói trên, quần cư theo kiểu nông thôn làng xã tương tự các làng xã Đại Việt và phân bố dân cư còn rất thưa thớt là nét nổi bật. Tuy nhiên tình hình kinh tế xã hội cũng đã có bước phát triển đáng kể được Dương Văn An đề cập trong tác phẩm Ô châu cận lục (1555).
2. Thời kỳ từ năm 1558 đến năm 1975
Sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, làn sóng di dân vào phía Nam đất nước diễn ra đặc biệt mạnh mẽ. Làng cũ tiếp nhận thêm nguồn lao động mới để khai phá, mở mang lãnh thổ. Bên cạnh các đồng bằng phì nhiêu ven sông, gần các trục giao thông thuận lợi đã được tận dụng, những vùng đất hoang tiềm năng còn dồi dào nhưng chưa có cư dân được đẩy mạnh khai thác, nhiều công trình thuỷ lợi để tưới tiêu, ngăn mặn được xây dựng, hệ thống đường sá được mở mang sửa chữa. Ngoài nông nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống được tạo điều kiện phát triển. Chợ búa cũng hình thành, đẩy mạnh giao lưu buôn bán.
Trong bối cảnh chung đó của vùng đất Thuận Hoá, tình hình dân cư Phong Điền cũng thay đổi. Không gian phân bố mở rộng lên vùng đồi núi phía Tây dọc các thung lũng, các bãi đất bằng nơi đất đai màu mỡ, gần sông, hói, ao hồ. Hiện tượng phổ biến xảy ra trong quá trình mở rộng địa bàn sinh sống là các làng được thành lập sớm ven sông Ô Lâu, sông Bồ đều có xu hướng khai phá, tạo lập thêm các phường, ấp, làng xã nằm ngoài không gian làng khá xa nhưng vẫn mang tên làng cũ. Làng Hiền Lương từ thế kỷ XVII - XVIII mở thêm các phường trong đó có phường cách xa làng đến 15 cây số lên tận vùng núi thấp Trường Sơn. Các làng Mỹ Xuyên, Ưu Điềm, Phò Trạch, Vĩnh An, Hoà Viện, Phước Tích, Vân Trình đều có các thôn, phường ấp cách xa làng gốc từ 5 đến 10 cây số hoặc xa hơn. Ví dụ Phò Trạch làng - Phò Trạch phường, làng Ưu Điềm - làng Ưu Thượng. Phế tích Chăm Pa trên ngọn đồi ven bờ sông Ô Lâu mang địa danh Vân Trạch Hoà vì năm trên đất Vân Trình, Phò Trạch và Hoà Viện trong lúc 3 làng gốc đều nằm ven bờ Ô Lâu rất xa làng mới. Một số xóm phường cũng được hình thành trong thời kỳ này trên vùng cát nội đồng như xóm Phú An, Đức Tích của Phong Hoà, phường Triều Dương của Phong Hiền. Trong lúc đó, tại các làng xã cũ diện tích cũng được mở rộng dần đồng thời với sự định hình những thôn xóm mới. Quần cư nông thôn làng xã vẫn là kiểu quần cư chủ yếu. Nhưng làng đã được phát triển về mọi mặt từ khi Phú Xuân là thủ phủ của đất Đàng Trong và nhất là từ thế kỷ XIX trở thành kinh đô của cả nước. Kinh tế được mở mang. Bên cạnh nghề nông vẫn là nghề chủ yếu, nhiều ngành nghề đã có từ trước tiếp tục phát triển như gốm Phước Tích, mộc Mỹ Xuyên, rèn Hiền Lương, đệm bàng Phò Trạch, kim hoàn Kế Môn, nhiều ngành nghề mới ra đời. Nhiều chợ đầu mối trở thành nơi buôn bán đông đúc như như chợ Phò Ninh, chợ Phò Trạch, chợ Ưu Điềm. Nhiều cửa hàng nối nhau trên một trục đường với mọi sinh hoạt kiểu thị dân. Như vậy có thêm kiểu quần cư đô thị giữa các vùng nông thôn rộng lớn. Chức năng quản lý của chính quyền làng xã được phát huy, tuân thủ nghiêm ngặt mọi phép nước, lệ làng. Sự học hành, thi cử để vươn lên giai tầng, đẳng cấp trên trong xã hội được khuyến khích. Các làng đều có các thầy đồ, nho sinh theo học. Sinh hoạt văn hoá trong các làng mang hơi hướng của văn hoá cung đình khá rõ nét. Tế đình, hội làng với các nghi thức cầu kỳ, tôn nghiêm, trọng thể. Từ lễ nghi đến tiệc tùng, đình đám, đảm bảo tôn ti trật tự rõ ràng, phản ánh ảnh hưởng rõ rệt tư tưởng phong kiến đương thời.
Nói tóm lại, trong thời kỳ này, địa bàn định cư, định canh được mở rộng, nhiều phường xã, thôn ấp xuất hiện. Bên cạnh kiểu quần cư nông thôn làng xã, đã hình thành kiểu quần cư đô thị tuy chưa rõ nét. Làng xã đã có sự thay đổi về chất, trở thành tổ chức cơ sở vững mạnh của triều đình nhà Nguyễn.
https://www.facebook.com/nguyendinhtan.1952/posts/795627447290778