Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

Đinh Tiên Hoàng dưới con mắt các sử gia hiện đại

18/11/2018 09:46 - Trần Trọng Dương
Trong thời hiện đại, biểu tượng Đinh Tiên Hoàng cũng có những nấc thăng trầm khác nhau. Nếu như đầu thế kỷ 20, biểu tượng Hoàng đế khai mở nền chính thống không còn hữu dụng khi Việt Nam bị Pháp đô hộ, thì đến từ nửa sau thế kỷ này, ông lại trở thành biểu tượng đại diện cho khả năng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc giữ gìn nền độc lập dân tộc.

Đền thờ vua Đinh vua Lê ở Ninh Bình. Ảnh: Kienthuc.net

Khước từ biểu tượng Hoàng đế chính thống

Đầu thế kỷ 20, Phan Bội Châu là người đầu tiên dỡ bỏ biểu tượng Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh và cô lập hóa biểu tượng này trong hệ tiêu chí mới, hệ tư tưởng mới của phương Tây. Ông cho rằng, thời Đinh Tiên Hoàng (968-970) tuy cũng thuộc “Thời đại chủ quyền mười phần hoàn toàn”1 giống như các thời Triệu Việt Vương Quang Phục (548-571), Ngô Vương Quyền (939-945), Lê Thái Tổ (1428-1429), nhưng ông chỉ là người thừa hưởng thành quả độc lập từ Ngô Quyền. Phan Bội Châu lý luận rằng, dù Đinh Bộ Lĩnh có chiến thắng, hay một trong số 12 sứ quân nào khác chiến thắng thì nước Việt vẫn cứ là của người Việt. Như thế Phan Bội Châu đã khước từ tiêu chí “xưng đế” và việc xây dựng mô hình nhà nước theo hình mẫu Nho giáo. Ông đang tìm kiếm những tiền lệ mới, mẫu hình mới, mà ông đang muốn hướng tới: đó là một hình mẫu lý tưởng về một quốc quyền (chủ quyền nước ta) được tự chủ, độc lập, giống như đế quốc Nhật Bản2. Các tiêu chí xưng đế, lập triều nghi, xây dựng mô hình nhà nước Nho giáo không còn được quan tâm đến nữa, thay vào đó là hệ hình viết sử mới với các khái niệm mới như “quân quyền”, “dân quyền”, “tổ quốc”, “nhân chủng”, “độc lập”, “tự chủ”...

Quan điểm này của Phan Bội Châu sau đó ảnh hưởng đến cách phân kỳ lịch sử của phần lớn các sử gia trong thế kỷ 20 đến nay (như Trần Trọng Kim 1920, Hồ Chí Minh 1941, Lê Thành Khôi 1955, Đào Duy Anh 1955), coi năm 938 là thời điểm kết thúc ngàn năm Bắc thuộc, và năm 939 khi Ngô Quyền lên ngôi là mở đầu thời đại mới3. Đinh Bộ Lĩnh không còn là một biểu tượng được yêu thích như thời Nho giáo thịnh hành. Hồ Chí Minh viết:

Đến hồi Thập nhị sứ quân
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đờ
i4.

Biểu tượng cho khối đại đoàn kết dân tộc

Năm 1955, Đào Duy Anh cho rằng, Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được “một nước tự chủ hoàn toàn” với “nhà nước thống nhất” trên cơ sở tham khảo chế độ nhà Ngô và các triều đại Trung Quốc. Đào Duy Anh, dựa trên lý luận mới của chủ nghĩa Mác và kế thừa quan điểm của Phan Bội Châu, cho rằng Ngô Quyền là người đầu tiên xây dựng “nhà nước phong kiến tự chủ” còn Đinh Bộ Lĩnh chỉ là người “khôi phục cuộc thống nhất”, “xây dựng nhà nước thống nhất”. Các thuật ngữ mới đã được Đào Duy Anh khéo léo sử dụng trong quá trình phân tích tính chất các sự kiện lịch sử, như “mâu thuẫn xã hội”, “phong kiến”, “lực lượng phong kiến tập quyền”, “lực lượng phong kiến phân tán”, “cát cứ phong kiến”5,…

Năm 1971, cuốn Lịch sử Việt Nam đã kế thừa quan điểm “loạn 12 sứ quân” từ các bộ sử thời Trung đại. Cuốn sách cho rằng sự loạn lạc bắt đầu từ khi Ngô Quyền mất. Nhưng thực tế chưa tìm thấy sử liệu nào nói về việc “nổi loạn” nào của các Thứ sử nhà Ngô trong giai đoạn 944-965 ngoài sự cát cứ của Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Ngô Bình Xử ở Cổ Loa và các lãnh địa bất tuân phục triều đình như Chu Thái ở Thao Giang, hai thôn Đường – Nguyễn ở Thái Bình. Một cách nước đôi, cuốn sách này cũng cho rằng, từ năm 965 chính quyền trung ương tan rã, các lực lượng phong kiến tranh nhau nổi dậy, tranh giành lẫn nhau, mỗi người hùng cứ một phương. Danh sách 12 sứ quân được kể lại chi tiết với họ tên, địa điểm giống như các bộ sử trước đó. “Loạn 12 sứ quân” đã liên tục được chép lại trong hàng chục sử phẩm khác nhau suốt ngàn năm chép sử ở Việt Nam, và nó đã trở thành một từ khóa mang tính biểu tượng cho sự loạn lạc, cho những thế lực chống đối lại nền “chính thống”mà nhà Đinh là dòng họ đại diện.

Cho nên, Đinh Bộ Lĩnh xuất hiện và dẹp loạn lạc, cứu khổ cho nhân dân, được coi là bậc “đại ân đức”, là người có chính nghĩa. Xét ở khía cạnh thao tác, thì biểu tượng “Hoàng đế dẹp loạn” kết thành cặp đôi khăng khít với biểu tượng “loạn 12 sứ quân”, thể hiện tính hai mặt của biểu tượng. Hai biểu tượng này là đối lập với nhau về mặt nội hàm, nhưng thống nhất với nhau một cách biện chứng về mặt thủ pháp kiến tạo và mục đích xây dựng. Trong thời Trung đại, “loạn 12 sứ quân” luôn được sử dụng để làm tiền lệ lịch sử để răn đe, khuyến giới, hay bài học cho những nghịch tặc, phản thần, những kẻ có ý định chống đối triều đình. Còn “Đinh Bộ Lĩnh thì luôn được sử dụng để làm biểu tượng cho sức mạnh của “chính thống” với đội quân “nhân nghĩa” như văn bia đền Vua Đinh đã ca ngợi. Sang đến thời hiện đại, khi hệ tư tưởng đã thay đổi, cặp đôi biểu tượng này lại được tái dụng trong các nội hàm cũ mới đan xen. “Loạn 12 sứ quân” xưa là bài học cho những kẻ phản thần, thì nay là đại diện tiêu biểu cho “thù trong” gây mất khối đại đoàn kết dân tộc, gây trở ngại cho sự thống nhất đất nước. Sách Lịch sử Việt Nam đánh giá: Đinh Bộ Lĩnh là người “đã nêu cao ngọn cờ thống nhất quốc gia,… Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân.”6 Có thể thấy rõ sự thay đổi hệ hình viết sử và tư tưởng sử qua các khái niệm mới đã được cấy ghép ở đây, như “thống nhất quốc gia”, “tinh thần dân tộc”, “khối đoàn kết dân tộc”. Sự thâu tóm quyền lực của Đinh Bộ Lĩnh bằng sức mạnh quân sự được khoác thêm bộ áo cánh mới bằng những ngôn từ mới. Ta biết rằng, năm 1971, thời điểm cuốn sách này xuất bản, Việt Nam đang bước vào giai đoạn cam go nhất của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.

Biểu tượng Hoàng đế cờ lau– hoàng đế của nhân dân

Ngay từ những sử liệu sớm từ thời Tống, cho đến những sử phẩm hiện đại, sự xuất hiện của “dân” hay “nhân dân” thể hiện mối tương tác giữa quyền lực của kẻ bên trên (hữu danh) với những tập đoàn người nhỏ bé vô danh ở dưới. Cuộc chiến tranh của Đinh Bộ Lĩnh đã được mô tả lại như là một lực lượng chính trị đã thể hiện được sức mạnh nhằm bảo vệ những con người vô danh yếu đuối. Các sách Cửu triều biên niên bị yếu, Tống sử, ghi việc cha con Đinh Bộ Lĩnh đánh bại đám Ngô Xử Bình, khiến cho xứ ấy được yên, nhân dân vì thế mà cho rằng họ Đinh có ơn đức với mình, mới suy Bộ Lĩnh làm Soái, hiệu là Vạn Thắng Vương.7,8,9,10  

Các sử liệu này đều nói đi nói lại về yếu tố “dân” trong mối quan hệ với cuộc chiến tranh và xưng vương của Đinh Bộ Lĩnh. Những dòng sử này được viết nên (dù ở nhà Tống) nhưng đã qua lăng kính khúc xạ của nhà Đinh (chủ yếu từ Đinh Liễn với các lần đi sứ). Có thể là, trước mặt nhà Tống, Đinh Liễn đã không ngừng gia cố thêm quyền lực, và tính chính thống của mình bằng cách dựa vào lý thuyết “dân bản” của Nho giáo. Người nắm được dân và sức mạnh quân sự, người ấy có tính chính thống. “Dân” được coi là một trong những nhân tố quan trọng làm nên “thiên vận”- một khái niệm của lý thuyết chính trị về quyền lực tiên thiên. Cái tiên thiên có trước được sử dụng như là yếu tố tiền định, bất khả tư nghì khi quyền lực đã được chính danh và bằng cách đè bẹp các lực lượng khác, nhưng vận trời cũng đã được nhà Đinh (và nhiều triều đại sau này) sử dụng như là một tham số khả biến dựa trên thời vận, và lòng dân.

 Phố Đinh Tiên Hoàng ở Hà Nội.

Sang đến thế kỷ 20, tư tưởng về “dân bản” đã được tái sử dụng trong lý thuyết về giai cấp, và dân tộc11. Nhân dân là số đông, chiếm phần đa, và là yếu tố quan trọng làm nên các thành phần dân tộc. Nhân dân cũng là những người ở dưới, được định danh “giai cấp bị trị”. Cho nên, hậu quả của “loạn 12 sứ quân”được đánh giá là “đã gây ra biết bao tổn thất, đau khổ cho nhân dân và đi ngược lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc”12. Đinh Bộ Lĩnh đã cứu nhân dân thoát khỏi đau khổ loạn lạc, xưa được nhà Nho coi là “điếu dân phạt tội”, thì đến thế kỷ 20 được coi là người đại diện cho sức mạnh của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Lịch sử Việt Nam mô tả ngay từ khi Đinh Bộ Lĩnh còn trong giai đoạn xây dựng lực lượng ở Hoa Lư, thì “nhân dân trong vùng đã đều theo phục”13. Cho đến khi làm nên muôn chiến thắng, thì nhà Đinh là “đại diện cho ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân. Nạn cát cứ bị dập tắt tương đối nhanh chóng chứng tỏ trong hoàn cảnh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chế độ trung ương tập quyền là một nhu cầu tất yếu của lịch sử gắn liền với nhu cầu đoàn kết thống nhất lực lượng để giành và giữ vững nền độc lập – quyền lợi chung và cao nhất của toàn thể dân tộc”14. Như thế công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân của họ Đinh vừa như là một tiền lệ lịch sử cho tính nhân dân của cuộc chiến tranh, sức mạnh của lòng dân, là tiền lệ cho những nỗ lực củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tất yếu trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước trong những năm 1970. Đinh Bộ Lĩnh đã được xây dựng như là một biểu tượng cho sức mạnh của nhân dân, cho tinh thần đại đoàn kết đại dân tộc.

Trong khi các sử phẩm của nhà nước khắc họa tính nhân dân của Đinh Bộ Lĩnh qua việc tái sử dụng tư tưởng dân bản và lý thuyết giai cấp và tư tưởng dân tộc; thì các tác phẩm văn học nghệ thuật (cả nhà nước lẫn dân gian) từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 đã tô điểm thêm biểu tượng này bằng các thủ pháp của mình.

Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dòng nghệ thuật tranh dân gian còn lại hai tác phẩm về huyền thoại Đinh Bộ Lĩnh. Tác phẩm thứ nhất là bức thuộc dòng tranh Đông Hồ. Tác phẩm này miêu tả lại hoạt cảnh Đinh Bộ Lĩnh được rồng bảo hộ. Trung tâm của bức vẽ là hình Đinh Bộ Lĩnh cởi trần đóng khố tay trái cầm cờ lau vắt từ vai qua sau lưng, tay phải đang chỉ vào mặt Đinh Dự. Đinh Bộ Lĩnh đi chân đất đứng trên mình rồng. Gần góc bên trái bức tranh là Đinh Dự đang đứng trên bờ. Nhân vật này đứng chắp tay vái Đinh Bộ Lĩnh, thanh kiếm cắm xuống đất. Với cách khắc họa này, nghệ nhân dân gian muốn kể lại câu chuyện về tính thiên mệnh của Đinh Bộ Lĩnh như Đại Việt sử ký toàn thư đã định hướng. Tác phẩm thứ hai muộn hơn mang tên “Đinh Tiên Hoàng tập trận mấy trẻ mục đồng” được viết bằng chữ quốc ngữ, và dòng chữ Hán “丁先皇蘆旗習陣” (Đinh Bộ Lĩnh lô kỳ tập trận). Bức tranh này mô tả cảnh trẻ mục đồng chia làm hai phe để luyện quân. Bên tay phải vẽ Đinh Tiên Hoàng mặc quần áo, thắt đai, đội mũ cầm kiếm, ngồi trên lưng trâu. Quân tùy tòng người thì cầm cờ, cầm lọng che cho chủ tướng, người thì cầm lao, cầm kiếm. Phe bên kia cũng vẽ một chủ tướng cưỡi trên lưng dê, tay cầm kiếm, tay cầm cờ.  Hai bức tranh này không gì hơn là vẽ lại một tích chuyện được dân gian ưa thích, dùng cho mục đích buôn bán. Điều này cho thấy, sau khi biên soạn và in ấn Đại Việt sử ký toàn thư, quyền lực tri thức từ nhà nước đã lan tỏa xuống tầng lớp thứ dân. Huyền thoại dân gian mang tính địa phương của Hoa Lư một khi đã trở thành sản phẩm quốc định, đã quay ngược trở lại dân gian ở một biên độ phủ sóng cao hơn.
Sang đến nửa sau thế kỷ 20, dưới một quyền lực tri thức mới từ phía nhà nước, hàng chục tác phẩm nghệ thuật đã được sáng tác xoay quanh biểu tượng Đinh Bộ Lĩnh. Các loại hình nghệ thuật khác nhau cũng không ngừng tham gia công việc đưa tri thức lịch sử vào đời sống xã hội. Các tác phẩm sớm nhất hiện biết là “Đinh Tiên Hoàng: chuyện ông Đinh Bộ Lĩnh giẹp yên 12 sứ quân” của Nguyễn Tử Siêu (Nhật Nam thư quán, 1929), “Sự tích Đinh Tiên Hoàng” (Nhà in Quảng Tế, 19??),  tiểu thuyết “Ngọn cờ lau” của Đinh Gia Thuyết (Thực nghiệp, 1937). Đây là tác phẩm tiểu thuyết lịch sử về Đinh Bộ Lĩnh nằm trong seri tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử Việt Nam của tác giả này. Sau đó là tập truyện tranh lịch sử “Cậu bé cờ lau” của Tạ Thúc Bình và Phong Lan (Kim Đồng, 1963), “Cờ lau Vạn Thắng Vương” của Nguyễn Anh (Kim Đồng, 1972 ), Đinh Tiên Hoàng đế của Hà Công Tài (Văn hóa, 1988). Đến đầu thế kỷ 21, thêm các tác phẩm “Cờ lau dựng nước” tiểu thuyết lịch sử của Ngô Văn Phú, “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” của Lữ Giang (Văn nghệ, 2000), “Đinh Bộ Lĩnh: truyện tranh” trong bộ “Bé học sử Việt” của Nguyễn Văn Mùa (Trẻ, 2001), tiểu thuyết “Đinh Bộ Lĩnh” của Hàn Thế Dũng (Công an Nhân dân, 2004), “Vua cờ lau” của Phạm Minh Thảo (Từ điển Bách khoa, 2006), “Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước” của Nguyễn Văn Thảo (Mỹ thuật, 2009), “Hoàng đế cờ lau” của Nguyễn Khắc Triệu (Văn học, 2010), “Kể chuyện Đinh Tiên Hoàng” của Hải Vy (Lao động, 2011), “Đinh Tiên Hoàng và công cuộc thống nhất đất nước” của Phạm Trường Khang (Hồng Đức, 2012), “Đinh Bộ Lĩnh” (soạn theo Đại Việt sử ký toàn thư) của Nam Việt viết – Tạ Huy Long vẽ (Nhi đồng, 2012, in lần thứ 6), “Đinh Bộ Lĩnh” truyện tranh của Huy Tiến (Đại học Sư phạm TP.HCM, 2015), “Đinh Bộ Lĩnh – Dẹp loạn 12 sứ quân” của Đỗ Biên Thùy (Trẻ, 2016), “Đinh Bộ Lĩnh và nước Đại Cồ Việt” của nhóm Lương Duyên (Giáo dục, 2017), “Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh” của Trương Bửu Sinh (Giáo dục, 2018)  “Đinh Tiên Hoàng” tiểu thuyết của Vũ Xuân Tửu (Công an Nhân dân, 2018, 527 trang), “Đinh Tiên Hoàng Đế - anh hùng mở nền thống nhất quốc gia” của Trương Đình Tưởng (Thế giới, 2018, 278 trang). Trong khi đó, hàng chục bộ phim lịch sử, phim hoạt hình về Đinh Bộ Lĩnh đã được sản xuất và trình chiếu trên các kênh của Đài truyền hình Việt Nam và các đài địa phương. Các bộ “Hào khí ngàn năm”, “Hào khí sử Việt” tiếp tục khắc họa hình ảnh chú bé Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha, có tài chí, sau này lớn lên, đại diện cho sức mạnh của nhân dân, cứu vận mệnh nước nhà bằng cách dẹp loạn 12 sứ quân.

Những nội hàm mới được phổ thêm vào cho biểu tượng như tinh thần thượng võ, truyền thống đánh giặc nội xâm, truyền thống yêu nước, yêu dân tộc, tinh thần vì nhân dân. Đến đây, ta thử đọc lại một trích đoạn nghiên cứu trong công trình nghiên cứu Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước: “vào thế kỷ X, trong ý thức của mọi thành viên trong xã hội, chưa có sự ràng buộc của chữ ‘trung’ theo quan điểm của Nho giáo mà chỉ có sự thôi thúc của một tinh thần thượng võ nhằm bảo vệ che chở lợi ích cộng đồng, yêu thương đùm bọc cộng đồng, được mở rộng thành lòng yêu nước thương nòi. Đó là đạo đức truyền thống của dân tộc hình thành và tôi luyện trong quá trình đấu tranh lâu dài để tồn tại và phát triển.”15 Những nhận định trên đây về lịch sử thế kỷ X có lẽ là được nhìn từ góc độ của người hiện đại về một quá khứ (hình dung về quá khứ để phù hợp với hiện tại).

Xung quanh hình tượng Đinh Bộ Lĩnh – một nhân vật lịch sử có thật, các tác phẩm văn học hiện đại đang thể hiện một quá trình sáng tạo nằm trong khuôn hạn của các diễn ngôn lịch sử do nhà hướng điều hướng. Những sáng tạo cùng chiều của nghệ thuật với diễn ngôn chính trị sẽ vừa nhận được sự bảo hộ cho công tác xuất bản của nhà nước cũng như tâm tư tình cảm của các thế hệ hưởng thụ nghệ thuật. Cũng chính từ đây, chức năng giáo dục lịch sử đã xuất hiện và thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật.

Nhiều người sẽ cho rằng việc phân tích các tác phẩm nghệ thuật liên quan đến chủ đề lịch sử sẽ không thuộc phạm vi của nghiên cứu lịch sử. Bởi các tác phẩm này không phải là một sử phẩm được viết nên bởi những sử quan, hay nhà nghiên cứu lịch sử. Nhưng ở phương diện lý luận, nghiên cứu lịch sử không chỉ còn giới hạn trong sử liệu, với các sử gia, phương pháp viết sử, hay tư tưởng sử nữa, mà còn mở rộng đến phương diện quyền lực nhà nước trong công tác định hướng nghiên cứu lịch sử, và quan trọng hơn cả nghiên cứu lịch sử phải chăng đã đến lúc nên chú ý tới lịch sử của nhận thức lịch sử. Lịch sử Việt Nam không chỉ được hiện lên qua ngòi bút của sử gia hay các nhà sử học, mà còn hiện lên qua ngòi bút của các nghệ sĩ. Mối quan hệ giữa sử phẩm với người học lịch sử, mối quan hệ giữa sử phẩm với sử gia, mối quan hệ giữa sử phẩm với nhà nước, mối quan hệ giữa tác phẩm lịch sử với người đọc, người học, người tiếp nhận lịch sử có lẽ là những mảnh đất cần được chú ý đến nhiều hơn.

Tiểu kết

Qua những gì đã phân tích trên đây, Đinh Bộ Lĩnh dĩ nhiên là một nhân vật lịch sử có thật, với một hành trạng vừa rõ ràng vừa có những khuất lấp. Trong phạm vi của tư tưởng chính trị Nho giáo, Đinh Bộ Lĩnh đã được kiến tạo với tư cách là người mở đầu nền chính trị Nho gia. Sang đến thế kỷ 20, khi tư tưởng thời đại đã thay đổi, Phan Bội Châu đã gạt bỏ tiêu chí chính thống để đưa Đinh Bộ Lĩnh về vị trí thứ yếu sau Ngô Quyền. Từ nửa sau thế kỷ 20, khi hệ tư tưởng Mác – Lê Nin đã được xác lập, các vấn đề về giai cấp, nhân dân, dân tộc, độc lập, thống nhất đất nước,... trở thành các hạt nhân cốt lõi cho các nghiên cứu về Đinh Tiên Hoàng. Cũng từ đây trở đi, các kết quả của công tác nghiên cứu sử học đã thuận dòng cùng đời sống chính trị của đất nước và góp phần kiến tạo nên tri thức lịch sử của hàng triệu tầng lớp nhân dân. Sự lan tỏa của biểu tượng này còn được tiếp thêm sức mạnh từ hệ thống giáo dục, các cơ quan thông tấn, nhà xuất bản, các cơ quan quản lý văn hóa các cấp, các hiệp hội nghề nghiệp,... Một lần nữa, giá trị của tri thức lịch sử được quốc định lan tỏa đến các giai tầng xã hội  giống như Đại Việt sử ký toàn thư thời trước. Hàng chục tác phẩm nghệ thuật (từ truyện tranh thiếu nhi, tiểu thuyết lịch sử, phim hoạt hình, phim lịch sử, cho đến nghệ thuật điêu khắc, hội họa,...) đã được sáng tác và cho phép xuất bản nhằm mục đích giáo dục lịch sử và truyền thống yêu nước. Đinh Bộ Lĩnh – Đinh Tiên Hoàng, qua truyền thống ngàn năm chép sử, không chỉ là một “tiên đế tiên hoàng” của riêng nhà Đinh hay các triều đại Nho giáo, mà đã trở thành một biểu tượng đa năng với các hàm nghĩa đa chiều kích, mãi lấp lánh trong tâm khảm của biết bao thế hệ.
-------
Chú thích:
1 Với nghĩa là chiến thắng các thế lực ngoại bang, và không xưng thần, chư hầu đối với các triều đại Trung Quốc. Xem Phan Bội Châu, 1909, Việt Nam quốc sử khảo, Shoransa, Tokyo,  VHV.1332 Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Chương Thâu dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2015, tr.37-39.
2 William J. Duiker, Phan Boi Chau: Asian Revolutionary in a Changing World, The Journal of Asian Studies, Vol. 31, No. 1 (Nov., 1971), pp. 77-88.
3 Trần Trọng Kim, 1920, Việt Nam sử lược (越南史略; Précis d’histoire de Việt Nam’), Imprimerie du Trung-Bac-Tan-Van, Ha Noi; tb. Nhã Nam – Nxb. Văn học, Hà Nội, 2015;
Hồ Chí Minh, 1941, Lịch sử nước ta, Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản, Trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, Tập 3, tr 221 – 229.
Lê Thành Khôi,1955, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, 2014, Tr.143, 162.
4 Hồ Chí Minh, 1941, Lịch sử nước ta, Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản, 1941, Trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, Tập 3, tr 221 – 229.
5 Đào Duy Anh, 1956, Lịch sử Việt Nam, giáo trình. Tb. Nxb.KHXH. Hà Nội, 2013, tr.176-177.
6 Ủy ban Khoa  học Xã hội Việt Nam, 1971, Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb.KHXH. Hà Nội, Tr.144.
7 (Tống) Trần Quân, 1223, Hoàng Triều Biên Niên Bị Yếu, Nxb.thư cục Trung Hoa, 2006, quyển 2,tr.41.
8 Vương Ứng Lân, 1296,  Ngọc hải 玉 海, quyển 133.
9 Vương Ứng Lân, 1296,  Ngọc hải 玉 海, quyển 133.
10 Mã Đoan Lâm, 1307, Văn hiến thông khảo文献通考, quyển 330
11 Viện sử học, 1984, Thế kỷ X những vấn đề lịch sử, Nxb KHXH. Hà Nội.
12,13, 14 Ủy ban Khoa  học Xã hội Việt Nam, 1971, Lịch sử Việt Nam, tr.143 – 144.
Nguyễn Minh Tường, 2012, Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước, Nxb. Lao động, Hà Nội.
15 Nguyễn Danh Phiệt, 1990, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, sđd, tr.60-61.

Nhà Ngô thứ nhì nằm xuống loạn lạc nổi lên

Lăng Ngô QuyềnBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLăng Ngô Quyền ở Đường Lâm: con trai ông là Ngô Xương Văn, tức Nam Tấn Vương đã cầm quyền được 15 năm rồi bị bắn chết ở vùng nay là Sơn Tây
Năm 963 khi vua Ngô Xương Văn (tự là Nam tấn Vương) bị sát hại, Việt Nam rơi vào cảnh hỗn loạn Thập nhị sứ quân.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, nhà sử học Trần Trọng Kim viết: "Thế lực nhà Ngô bấy giờ mỗi ngày một kém, giặc giã nổi lên khắp mọi nơi. Nam Tấn Vương phải thân chinh đi đánh dẹp. Khi đi đánh giặc ở hai thôn Thái-Bình, không may bị tên bắn chết."
Sau khi vua Ngô Xương Văn chết đi thì "Lúc bấy giờ trong nước có cả thảy 12 sứ quân, gây ra cảnh nội loạn kéo dài đến hơn 20 năm... Trong số này có Tướng của thời nhà Ngô tên là Đỗ Cảnh Thạc cũng giữ một chỗ, xưng là Sứ quân."
Năm 1963 - đúng 1,000 năm sau, một nhà Ngô nữa bị sát hại và cảnh Thập nhị sứ quân lại tái diễn.
Tướng Charles de Gaulle đã từng nói "Après moi le deluge" (Sau ta là hồng thủy).
Tuy không nói ra nhưng chắc Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đã nghĩ 'Sau ta là bão tố.'
Cơn lốc chính trị, quân sự, xã hội tại Miền Nam sau ngày đảo chính đã tàn phá Miền Nam đến mức nào thì nhiều độc giả (cao niên) còn nhớ.
Tình trạng rối ren ở Sàigòn đã ảnh hưởng sâu xa tới tình hình quân sự. Trong một điện tín gửi về Washington, Đại sứ Henry Cabot Lodge đã kèm theo luôn một báo cáo của đại diện USOM ở tỉnh Long An (ngày 7 tháng 12, 1963) nói về tình hình an ninh suy giảm quá mạnh.
Rồi ông phàn nàn: "Tôi thật bối rối vì thấy thiếu quyết tâm chiến đấu: các thành viên của tập đoàn tướng lãnh cho tôi những câu trả lời thật tuyệt vời và rõ ràng, và nói cái gì cũng hay hết, nhưng những việc gì đang xảy ra thì chẳng có là bao nhiêu."
Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo! Chỉ một tháng trước đó, vài ngày sau đảo chánh, ông Lodge đã báo cáo về Washington:
"Chúng ta không nên bỏ qua mà không để ý tới ý nghĩa của cuộc đảo chánh, đó là nó sẽ có thể giúp rút ngắn cuộc chiến này để cho người Mỹ được sớm trở về nuớc mình."
Nếu như tình hình ở Miền Nam bất ổn thì vào thời điểm này, tình hình chính trị tại Hoa Kỳ cũng trở nên phức tạp.
Đúng ba tuần sau cái chết của Tổng thống Diệm thì Tổng thống Kennedy bị ám sát ở Dallas. Phó Tổng thống Lyndon Johnson lên kế vị.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson (trái) và Tổng thống JF Kennedy (phải) đón Thủ tướng Nehru của Ấn Độ thăm Hoa KỳBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionPhó Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson (trái) và Tổng thống JF Kennedy (phải) đón Thủ tướng Nehru của Ấn Độ thăm Hoa Kỳ

Cơn khói lửa bùng lên

Ngay từ lúc còn làm Phó cho Tổng thống, ông Johnson đã cố vấn cho Tổng thống Kennedy rằng "Nếu chúng ta buông xuôi tại vùng Đông Nam Á thì phải rút tuyến quốc phòng của Hoa Kỳ về tận San Francisco."
Lên chức tổng thống, việc đầu tiên ông làm là tham khảo đại sứ Cabot Lodge về Việt Nam. Ông Lodge báo cáo về tình hình đen tối tại Sàigòn.
Sau đảo chính, bây giờ lại khó khăn, rối ren hơn nhiều, và lãnh đạo ở Sàigòn lại đang có khuynh hướng đi về hướng chính sách 'trung lập.'
Ông Lodge kết luận là cần phải có ngay những quyết định hết sức khó khăn "và Ngài phải lấy những quyết định ấy." Tổng thống Johnson tuyên bố không lưỡng lự:
"Tôi sẽ không để mất Việt Nam, tôi sẽ không là người Tổng thống đầu tiên để cho Đông Nam Á sụp đổ giống như Trung Quốc đã sụp đổ."
Ngày 8 tháng 3, 1965 thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng.
Cuộc chiến khói lửa bắt đầu bùng nổ.

Các góc cạnh của đảo chính

Về bối cảnh đưa tới đảo chính thì chúng tôi đã đề cập trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào (KĐMNV) dựa trên các chứng cớ là các văn kiện được giải mật ngày 13 tháng 6, 2011. Nơi đây chúng tôi chỉ nhắc lại vài nét đại cương.
1960 - Bước ngoặt của bang giao Việt - Mỹ
Sau năm năm vàng son vừa phát triển vừa hòa bình (1955-1960), tình hình quân sự và chính trị Miền Nam bắt đầu chuyển hướng vào năm 1960.
Về quân sự thì lực lượng cộng sản đã bắt đầu tấn công vùng đồng bằng với những trận đánh vào dịp Tết tại Bến Tre và Tây Ninh ở Tây bắc Sàigòn. Về chính trị thì chính phủ Diệm càng ngày càng bị chỉ trích là độc tài, phe đảng và tham nhũng.
Cuối mùa Xuân 1960 một nhóm nhân sĩ họp ở Khách sạn Caravelle nhau kiến nghị Tổng thống Ngô Đình Diệm phải cải tổ toàn bộ chính phủ và chính sách ("Tuyên ngôn Caravelle"), nhưng ông Diệm cho rằng có Mỹ đứng đàng sau giật giây vì khuyến nghị này lại giống y như những lời cố vấn của Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow.
Ssau này, ông Durbrow đã xác nhận là chuyện này có thật.
Tới mùa Thu 1960 thì có đảo chính: đạn bắn vào ngay phòng ngủ của Tổng thống Diệm. Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow cố vấn ông nên điều đình với phe đảo chính. Sau khi đảo chính thất bại, Durbrow lại khuyên ông nên khoan hồng cho những sĩ quan liên quan.
Thế là từ bấy giờ giữa Dinh Độc Lập và Tòa Đại sứ Mỹ thì cơm chẳng còn lành và canh cũng chẳng còn ngọt.
1961 - Thuở ban đầu với tân tổng thống John F. Kennedy
Mối giây liên lạc Việt - Mỹ đang căng thẳng cuối năm 1960 bỗng đổi chiều vào đầu năm 1961 khi Hoa Kỳ có Tổng thống mới.
Nghị sĩ John F. Kennedy lên kế vị TT Dwight Eisenhower. Ở tuổi 42, ông là tổng thống Mỹ trẻ nhất. Ngày đăng quang ông hùng biện tuyên bố một lập trường hết sức cứng rắn 'để bảo đảm sự sống còn và sự thành công của tự do.'
Tổng thống Diệm nhận được bức thư đầu tiên của TT Kennedy đề nghị Hoa Kỳ tiếp tay với ông để 'tăng cường nỗ lực chiến thắng và đẩy mạnh sự tiến bộ kinh tế và xã hội của Việt Nam.'
Ông Diệm hân hoan đáp ứng lời đề nghị này, nhưng đặt trên căn bản là "vì quyền lợi chung của cả hai nước" (chứ không phải chỉ vì quyền lợi của VNCH). Tình nghĩa hai bên thật nồng nàn, thắm thiết vào thuở ban đầu của nhiệm kỳ Kennedy.
1962 - Mỹ quyết định bỏ Lào
Mặc dù đã tuyên bố một lập trường rất cứng rắn, Tổng thống Kennedy đã quyết định bỏ Lào. Ông Diệm hết sức lo ngại: liệu những hành động quyết liệt của ông Kennedy có bền vững hay không?
Lúc ấy thì tình trạng Lào đã tác động mạnh mẽ vào tâm lý của các lãnh đạo ở Đông Nam Á. Chính phủ Diệm rất nghi ngờ về ý chí của Hoa Kỳ.
LàoBản quyền hình ảnhSTF
Image captionLực lượng cộng sản hành quân tại Lào. Quyết định của Kennedy "bỏ Lào" khiến chính quyền của TT Diệm nghi ngờ các cam kết của Mỹ
Chính tình báo Mỹ NIE đã thẩm định rằng: "đã có những cảm nghĩ hết sức sâu đậm ở Đông Nam Á về những biến chuyển mới đây về khủng hoảng ở Lào. Các chính phủ nơi đây có khuynh hướng cho rằng cuộc khủng hoảng Lào là một thử thách tượng trưng giữa sức mạnh của Tây phương và Khối Cộng sản. Liệu Hoa kỳ có tiếp tục bảo vể vùng này hay không? Thử thách rõ ràng nhất là khả năng bền vững của chính sách Hoa kỳ tại Việt Nam."
Ngày 21 tháng 4, trong một báo cáo, ông Edward Landsdale (CIA) nhận xét về Việt Nam:
"Về tâm lý - Việt Nam luôn nghĩ mình mới là đối tượng chính - và họ tự hỏi 'khi tới lần chúng tôi, liệu sẽ có bị đối xử giống như Lào không.' Chính sách của Mỹ đã biến Lào thành nước 'trung lập' với một chính phủ liên hiệp, làm cho TT Diệm hết sức lo âu vì nghĩ rằng sau Lào thì Mỹ sẽ tính đến việc trung lập hóa Việt Nam và áp đặt một chính phủ liên hiệp với Cộng sản. Bởi vậy, Landsdale cho rằng việc chính là phải làm sao cho chính phủ Miền Nam tin tưởng rằng việc rút lui ở Lào không có nghĩa là sẽ rút khỏi Việt Nam."
Để làm tăng thêm sự tin tưởng vào Hoa Kỳ, Phó Tổng Thống Lyndon Johnson được gửi sang thăm viếng Tổng thống Diệm với sứ mệnh của Tổng thống Kennedy là phải 'tuyên bố sự ủng hộ mãnh liệt của Hoa Kỳ và lòng tin tưởng vào Tổng Thống Diệm." Ông Johnson trao cho ông Diệm bức thư của tân Tổng Thống Hoa Kỳ. Bức thư thuở ban đầu thật nồng nàn, thắm thiết.
Tuy nhiên, Tổng thống Diệm không hoàn toàn tin tưởng. Trong bức thư phúc đáp ông nói tới sự lo ngại về Lào:
"Những biến chuyển gần đây tại Lào đã làm nổi bật mối quan ngại trầm trọng của chúng tôi về nền an ninh của (VNCH) với những đường biên giới kéo dài và dễ bị tấn công..."
Để biết rõ sự suy nghĩ của Tổng thống Diệm, Đại sứ Nolting gặp Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần (Bộ trưởng Phủ Tổng thống) để tham khảo. Ông Thuần tiết lộ là đề nghị của Hoa Kỳ đã làm cho Ông Diệm hết sức ưu phiền, "hay là Hoa Kỳ đang sửa soạn để bỏ rơi Việt Nam…như là đã bỏ rơi Lào?"

Đi tìm giải pháp hòa bình

1963 - Mùa Xuân: yêu cầu Mỹ rút cố vấn
Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận lời chúc mừng từ Cao ủy Pháp Henri HoppenotBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTháng 10/1955: Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận lời chúc mừng từ Cao ủy Pháp Henri Hoppenot
Số cố vấn Mỹ vào Miền Nam ngày một tăng nhanh. Tháng 4/1963: thêm 4,500 cố vấn và binh sĩ nữa.
Trạm trưởng CIA là ông William Colby sau này nhận xét: "Ngay từ đầu 1962 cơ quan CIA đã có những mối liên lạc và ảnh hưởng trên toàn lãnh thổ Miền Nam, từ cổng trước và cổng sau Dinh Độc Lập tới những xóm làng ở thôn quê…"
Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Washington Post vào tháng 5 ông Nhu tuyên bố Mỹ có thể rút đi một nửa số cố vấn. Báo chí thổi phồng lên, Tổng thống Kennedy phật lòng, tuyên bố sẵn sàng rút đi.
Suy nghĩ lại về giai đoạn này, Đại sứ Pháp Lalouette, người đã chứng kiến và tham gia vào nhiều biến cố tại Việt Nam đã cho rằng "quyết định của ông Nhu vào hồi tháng 4 yêu cầu rút cố vấn cấp tỉnh đã là lý do chính để người Mỹ quyết định lật đổ ông Diệm."
1963 - Mùa Hè: khủng hoảng Phật Giáo
Vào chính lúc Washington đang nhắm vào ông Nhu thì một cơn bão tố nữa lại ập tới: khủng hoảng Phật Giáo, bắt đầu vào Lễ Phật Đản ngày 8 tháng 5. Xáo trộn leo thang rất nhanh. Viên chức Bộ Ngoại giao buộc tội chính phủ Diệm đã 'phá nát chùa chiền.'
Để đánh giá lại chính phủ Diệm, một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ do Dân biểu Clement Zablocki (Wisconsin) hướng dẫn gồm 8 thành viên đi Sàigòn để thẩm định tình hình. Phái đoàn tiếp xúc với rất nhiều thành phần chống Tổng thống Diệm cũng như với ĐS Lodge và các quan chức Mỹ và báo chí ở Việt Nam. Trở về Washington, ông Zablocki đã nộp bản báo cáo bênh vực Tổng thống Diệm là người - tuy có nhiều khuyết điểm, chuyên quyền, và khoan dung cho hối lộ, áp bức, nhưng ông ta có khả năng bền bỉ và đang chiến thắng.
Mà cũng không ai thay thế được ông ta. Zablocki đặt nặng trách nhiệm của báo chí: "báo chí đã ngạo mạn, dễ bị kích động, thiếu khách quan, và không có những thông tin trung thực" trong những tin tức, bình luận về biến cố Phật Giáo cũng như về Tổng thống Diệm.
Ngô Đình DiệmBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Ngô Đình Diệm thăm Đài Loan và được Thống chế Tưởng Giới Thạch đón
Mặc dù phái đoàn nhận xét như vậy, nhưng giới truyền thông vẫn tiếp tục tấn công. Cho nên tình hình Việt - Mỹ vào cuối hè 1963 đã trở nên căng thẳng tới mức có tin đồn là Nhà Ngô định ám sát tân Đại sứ Lodge.
1963 - Sang Thu: khả năng ông Nhu định điều đình với Bắc Việt.
Trong tình huống sôi động ấy lại có tin ông Nhu định điều đình với Bắc Việt. Đại sứ Lodge (vừa tới Sàigòn được một tuần) thông báo ngay về Washington rằng chính ông cũng có nghe như vậy.
Về sự việc này thì ngày nay ta đã có thêm tài liệu để soi sáng cho rõ hơn về ý định của hai ông Diệm và Nhu muốn đi tìm một giải pháp hòa bình vì biết trước sau rồi Mỹ cũng bỏ Miền Nam.
Nhưng vào lúc ấy thì sau điện tín của ông Lodge, ông Roger Hilsman (Giám đốc Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại Giao) đã bình luận về mục tiêu tối thiểu và tối đa của ông Nhu rồi đi tới kết luận:
"Ông Nhu đã quyết định dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, cho nên ta không thể nào tiếp tục con đường hòa giải với ông ta được nữa."
Tới đây, ông Nhu trở thành mục tiêu duy nhất của Hoa Kỳ
Trong một điện tín gửi cho ĐS Lodge (công điện số 272), Tòa Bạch Ốc nói về việc có nên thử nói với ông Diệm hãy loại bỏ ông bà Nhu hay không, đã kết luận rằng "sẽ không thành công nếu chỉ thuyết phục suông," trừ phi "đưa ra một lời răn đe dọa cắt viện trợ."
Thế nhưng nếu răn đe như vậy thì "có nguy cơ rất cao là ông Diệm sẽ coi đó là chỉ dấu sắp có hành động chống lại ông và ông bà Nhu đến nơi rồi, và tối thiểu rất có thể ông ta sẽ có biện pháp mạnh đối với các Tướng lãnh hay thậm chí có hành động quái đản thí dụ như kêu gọi Bắc Việt yểm trợ để trục xuất người Mỹ đi."
Quá là nhanh, chiều ngày 31 tháng 8, ông Lodge báo cáo Washington ngay về việc này rằng chính ông ta cũng đã "có nghe tin ông Nhu đã bí mật giao thiệp với Hà Nội và Việt Cộng qua Đại sứ Pháp (Lalouette) và Ba Lan (Maneli), cả hai chính phủ các nước này đều tán thành một giải pháp trung lập giữa Bắc và Nam Việt Nam." Như vậy là đã trật đường ray!
Về việc điều đình hiệp thương Nam - Bắc, theo sự nghiên cứu của chúng tôi thì có hai nhân chứng khả tín là ông Mieczyslaw Maneli (Trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến), người trực tiếp làm môi giới giữa Bắc - Nam và ông Cao Xuân Vỹ (Đặc trách Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa) là người đã cùng đi với ông Ngô Đình Nhu gặp ông Phạm Hùng. Bởi vậy, ta nên xem hai ông đã thuật lại như thế nào?
Ông Cao Xuân Vỹ:
Quân MỹBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionGiờ cầu nguyện của Thủy quân lục chiến Mỹ trên bãi biển gần Đà Nẵng
Đại cương: theo tác giả Minh Võ thì ông Vỹ đã kể lại trong một cuộc phỏng vấn như sau:
"Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn,
  • - Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
  • - Rồi cho dân qua lại tự do.
  • - Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn định cư sang bên kia nếu muốn.
  • - Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
  • - Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
  • - Và sau cùng là tổng tuyển cử (để thống nhất trong hòa bình).
Ông Mieczyslaw Maneli nói gì?
Ngày 15 tháng 2, 1975 (hai năm sau khi Hòa Đàm Paris ký kết) ông đã viết một bài tên tờ Washington Post với tựa đề: 'Vietnam: 63 and Now' và nói rằng giải pháp hòa bình do ông làm môi giới năm 1963 nếu thành công thì đã thuận lợi cho Miền Nam và Thế giới Tự Do hơn Hiệp định Paris đầu năm 1975 rất nhiều. Ông kể lại:
"Mùa Xuân năm 1963, Đại sứ Pháp Lolouette nói với tôi là Tổng thống Diệm và bào đệ của ông có nhờ tôi tìm hiểu với Chính Phủ Hà Nội xem có khả năng nào để giải quyết cuộc chiến bằng phương tiện hòa bình hay không. Trong mấy tháng sau đó tôi đã thảo luận nhiều với giới lãnh đạo cao cấp nhất kể cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Câu hỏi căn bản tôi đặt ra cho họ là: trong trường hợp Mỹ rút khỏi Miền Nam, những bảo đảm thực sự nào Miền Bắc có thể đem ra để chứng tỏ rằng một Việt Nam thống nhất sẽ không phải là một nước của thế giới Cộng sản? Lãnh đạo Miền Bắc thảo luận nhiều lần và dần dần đi tới một kế hoạch mà tôi đã dựa vào đó để thảo luận với một nhóm các đại sứ Tây phương. Theo như kế hoạch này, hai Miền Bắc - Nam sẽ từ từ đi từng bước bắt đầu từ liên lạc bưu chính, kinh tế, văn hóa. Sản phẩm kỹ nghệ Miền Bắc sẽ được dùng để mua thóc gạo Miền Nam.
"Miền Bắc sẽ không đòi hỏi phải thống nhất nhanh chóng, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập tại Miền Nam. Tôi hỏi liệu ông Diệm có thể là lãnh đạo của chính phủ này hay không? Tới mùa hè 1963 thì câu trả lời sau cùng là có. Sau đó, tôi lại hỏi thêm: nhưng làm sao phía Thế giới Tự do có thể tin rằng Hà Nội sẽ giữ lời hứa? Câu trả lời là nếu Mỹ đồng ý rút, Miền Bắc sẽ sẵn sàng đưa ra những bảo đảm có thực chất, gồm cả việc Mỹ tham dự vào việc giám sát giải pháp hòa bình… ngoài ra Miền bắc cũng sẽ có quan hệ ngoại giao và thương mại với thế giới Tự do, và sau cùng nhưng rất quan trọng, là quyền lực về kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ sẽ vẫn còn nguyên, không bị bớt đi vì cuộc chiến (cũng sẽ là một bảo đảm nữa)."
Chúng tôi cho rằng về phía Miền Bắc, rất có thể động cơ chính để điều đình là yếu tố kinh tế: đó là khủng hoảng thực phẩm năm 1963 tại miền Bắc. Tình hình thiếu hụt thực phẩm năm ấy đã trở nên khủng hoảng sau những cơn hạn hán rất nặng và bão tố kéo dài từ mùa Xuân 1961 tới mùa Đông 1962. Như chúng tôi đã có dịp phân tích trong cuốn Economic Development in Socialist Vietnam, 1955-1975 (New York: Praeger Publisher, 1977): trong những năm không bị thiên tai như lụt lội, bão tố, hay hạn hán, Miền Bắc cũng vẫn phải dựa vào thóc gạo của Miền Nam thì mới đủ ăn.
Như vậy thì đại cương về những bước liên lạc hiệp thương, lập trường trung lập để đi tới thống nhất thì đại cương, điều ông Maneli viết cũng giống như những gì ông Vỹ kể lại.
Ông Roger Hilsman bình luận về hai mục tiêu của ông Nhu
Ngày 16 tháng 9, ông Hilsman viết một Bản Ghi Nhớ, bình luận về mục tiêu tối thiểu và tối đa của ông Nhu:
  • tối thiểu là sẽ "giảm mạnh số người Mỹ đang giữ những chức vụ chính yếu tại các tỉnh và trong chương trình ấp Chiến Lược," và
  • tối đa là ông ta sẽ "điều đình với Bắc Việt để ngưng chiến, rồi chấm dứt sự có mặt của Mỹ, đi tới một Miền Nam trung lập hoặc theo kiểu Tito (ở Nam Tư) nhưng vẫn là một phần đất riêng biệt."
Quân MỹBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionQuân Mỹ giao tranh với lực lượng Bắc Việt ở Nam Việt Nam
Hilsman kết luận rằng "ông Nhu đã quyết định dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, và bởi vậy, không thể nào tiếp tục con đường hòa giải với ông ta bằng cách dùng ngoại giao và thuyết phục được nữa, mà phải theo con đường dùng áp lực.
Tướng Taylor và Bộ trưởng McNamara đổ thêm dầu vào lửa:
Tiếp theo đó là chuyến viếng thăm Sàigòn từ ngày 23 tháng 9 tới 2 tháng 10 của phái đoàn Taylor-McNamara. Khi trở về Washington hai ông báo cáo tình hình quân sự là tốt, bênh ông Diệm và cho rằng Hoa kỳ không nên đôn đốc một cuộc đảo chính, và chỉ nên dùng áp lực viện trợ. Tuy nhiên, trong báo cáo, hai ông lại thêm một nhận xét là "Sự ve vãn của ông Nhu với ý định điều đình (với Hà Nội) - cho dù là nghiêm chỉnh hay không đi nữa - cũng đã cho thấy có sự bất tương phùng căn bản đối với những mục tiêu của Hoa Kỳ."
Ngày 5 tháng 10, ngày định mệnh của Tổng thống Diệm
Sau báo cáo Taylor-McNamara, thì có tới 7 sự việc không may xảy ra cho TT Diệm vào ngày này (xem KĐMNV, Chương 21).
Thí dụ như lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ, một nhà sư nữa tự thiêu tại bùng binh Chợ Bến Thành lúc 12 giờ 25 trưa. Đó là Đại Đức Thích Quảng Hương. Đây là vụ tự thiêu thứ sáu kể từ Hòa thượng Thích Quảng Đức. Washington cực lực phản đối về việc chính phủ Sàigòn cấm cản báo chí chụp ảnh về vụ này. [Chúng tôi còn nhớ vào thời điểm ấy, báo chí và tivi Mỹ phổ biến rất rộng rãi những vụ tự thiêu, dân chúng hết sức xúc động. Câu chuyện ở Washington lúc ấy chỉ xoay quanh vụ này].
Thêm vào đó là áp lực chính phủ Diệm phải đặt những cuộc di chuyển của Lực Lượng Đặc Biệt phòng vệ tổng thống do Đại tá Tung chỉ huy dưới quyền của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội. Như vậy là lực lượng này bị bó tay để hết ngăn chận đảo chính.
Tổng thống Diệm đã gặp nhiều sự may mắn vào tháng 10 trong những năm trước:
Tháng 10, 1954: vào lúc khủng hoảng chính trị đang nóng bỏng ở Sàigòn và Pháp đang âm mưu loại bỏ Thủ tướng Diệm, TT Eisenhower đã viết bức thư đầu tiên, thông báo quyết định của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho Việt Nam thay vì qua chính phủ Pháp:
"Tôi đã chỉ thị cho Đại sứ Mỹ ở Việt Nam để xem xét với Ngài, với tư cách Ngài là Lãnh đạo của Chính phủ, làm sao để một chương trình của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho Chính phủ của Ngài có thể yểm trợ được nước Việt Nam trong giờ phút thử thách này…"
  • Tháng 10, 1955: Việt Nam Cộng Hòa khai sinh và ông Diệm trở nên tổng thống đầu tiên.
  • Tháng 10, 1956: cột trụ của chính thể mới là Hiến Pháp của nền Cộng Hòa bắt đầu có hiệu lực.
  • Tháng 10, 1960: Tổng thống Eisenhower viết thư cho Tổng thống Diệm ca ngợi thành quả của ông Diệm và nhân dân Miền Nam: "Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ thật nhanh chóng."
  • Tháng 10, 1961, nhân dịp kỷ niệm sáu năm thành lập VNCH, Tổng thống Kennedy viết cho Tổng thống Diệm: "Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất và được điều hành tốt nhất trong thời hiện đại."
Thế nhưng tháng 10 năm 1963 thì những sự khuyến khích và cơ may ấy đã không còn nữa: Tổng thống Diệm sửa soạn hành trình để đi về thế giới bên kia khi tháng 11 bắt đầu.

Ngày ám sát Tổng thống

Buổi sáng hôm ấy, ngày 2/11/1963, khi tiếng chuông nhà thờ ngân vang khắp nơi, báo hiệu đã tới giờ đại lễ, các tín đồ Công giáo cầu xin Thiên Chúa xá tội để những người đã quá cố được sớm về cõi trường sinh. Lúc ấy, trong số những vong linh được cầu nguyện, đã có thêm hai linh hồn nữa. Họ vừa mới thoát khỏi chốn trần gian này mấy phút trước đó.
Kinh cầu ở các thánh đường vang lên: "Requiescat in pace" xin Thiên Chúa cho tất cả được an nghỉ.
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chọn ngày 1 tháng 11 là ngày Quốc Khánh.
Hằng năm, khi tới ngày này, với tư cách tổng thống, ông Nguyễn Văn Thiệu, người đã tham gia đảo chính, mở tiệc khoản đãi ngoại giao đoàn và quan khách theo thủ tục ngoại giao.
Giáo hoàng Paul VI và Tổng thống Nguyễn Văn ThiệuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐức Giáo hoàng Paul VI đón Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thăm Vatican năm 1970. GS Nguyễn Tiến Hưng cho biết ông Thiệu vẫn cầu nguyện cho Tổng thống Diệm mỗi năm dịp 02/11
Nhưng cùng ngày đó, trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ tại Dinh Độc Lập, hai vợ chồng ông dự thánh lễ để tưởng niệm và cầu nguyện cho Tổng thống Diệm.
Vị linh mục làm lễ, Cha Khổng Minh Giác hỏi về ý chỉ trong buổi lễ, và ông Thiệu đáp: "Xin cho linh hồn Người sớm được về nơi Diễm Phúc, và xin người cầu cho chúng tôi trong giờ phút nguy khốn này."
Ông Thiệu an ủi ông Diệm nơi thế giới bên kia - nhưng ông cũng đang cầu nguyện vừa cho ông Ngô Đình Diệm vừa cho chính mình.
Tổng thống Diệm ra đi đã mang theo với ông viễn tượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn 'A Death in November,' tác giả Ellen Hammer thuật lại lời của Đại sứ Pháp Lalouette nói với Đại sứ Maneli, người môi giới hiệp thương giữa Nam-Bắc:
"Nếu Mỹ lật đổ ông Diệm, cơ hội cuối cùng về hòa bình ở Việt Nam sẽ bị phá hủy. Vì bất cứ ai lên thay ông ta cũng sẽ phải lệ thuộc vào Mỹ. Chỉ mình ông Diệm là người độc lập đủ để may ra có thể vãn hồi được hòa bình."
Lịch sử miền Nam Việt Nam sau đó diễn ra thế nào thì chúng ta đã biết.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016)