Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

Tổng Bí thư thăm nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh

Tổng Bí thư thăm nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh


Dân trí Nhân kỷ niệm 43 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018) và Ngày quốc tế lao động 1/5, chiều 28/4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã đến thăm, chúc mừng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh vừa được tặng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.


Chiều 28/4/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đến thăm, chúc mừng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tròn 80 năm tuổi Đảng.
Chiều 28/4/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đến thăm, chúc mừng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tròn 80 năm tuổi Đảng.
Cùng đi với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có: Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Đồng chí Đỗ Mười sinh năm 1917, nguyên Tổng Bí thư, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương. Đồng chí đã được Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương quyết định tặng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, ngày 12/4/2018.
Đồng chí Lê Đức Anh sinh năm 1920, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã được Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định tặng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, ngày 23/2/2018.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ những tình cảm sâu sắc nhất và trân trọng công lao to lớn của đồng chí Đỗ Mười, đồng chí Lê Đức Anh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh được tặng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, đây vừa là vinh dự lớn lao của bản thân các đồng chí và gia đình, vừa là niềm tự hào của Đảng, nơi đã tôi luyện nên những chiến sỹ cộng sản kiên trung, mà đồng chí Đỗ Mười, đồng chí Lê Đức Anh là những tấm gương mẫu mực, sáng ngời để các thế hệ cán bộ, đảng viên học tập, noi theo.
Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười là cán bộ lão thành cách mạng, đã từng trải qua nhiều cương vị công tác, nhất là được tôi luyện, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến cứu nước và các giai đoạn xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của mình, dù trong lao tù của thực dân đế quốc hay ngoài chiến trận, dù trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc gian khổ hay giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ở cương vị công tác nào, đồng chí Đỗ Mười luôn hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân, luôn giữ vững khí tiết, phẩm chất của người cộng sản, luôn tận tâm, tận lực vì nước, vì dân, vì bạn bè quốc tế. Đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của Nhân dân ta.
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh là một cán bộ đã từng kinh qua nhiều cương vị công tác, được tôi luyện, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng và sự trưởng thành của Quân đội. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của mình, dù ở cương vị công tác nào, đồng chí Lê Đức Anh cũng hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân, luôn giữ vững khí tiết, phẩm chất của người cộng sản, luôn tận tâm, tận lực vì nước, vì dân, vì bạn bè quốc tế. Đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trung tướng, Giáo sư, Tiến sỹ Mai Hồng Bàng, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 báo cáo tình hình hoạt động và công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện.
Trung tướng, Giáo sư, Tiến sỹ Mai Hồng Bàng, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 báo cáo tình hình hoạt động và công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện.
Sau khi nghe Trung tướng, Giáo sư, Tiến sỹ Mai Hồng Bàng, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 báo cáo tình hình hoạt động và công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận, đánh giá cao những kết quả đạt được trên các lĩnh vực công tác của Bệnh viện, cả về nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, hợp tác quốc tế, phát triển chuyên môn kỹ thuật, làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho cán bộ Trung ương… Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cảm ơn tập thể y, bác sỹ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong thời gian qua đã hết lòng, hết sức tận tình chăm sóc, có phác đồ điều trị khoa học để giữ gìn sức khỏe của đồng chí Đỗ Mười, đồng chí Lê Đức Anh; mong muốn đội ngũ y, bác sỹ Bệnh viện tiếp tục nỗ lực, cố gắng nhiều hơn nữa, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.
Nguyễn Sự
TTXVN

Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler

Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler


Một trong những điều ít người biết về Hitler là ông ta từng sử dụng dung dịch chiết xuất từ tinh hoàn bò.


Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler - 1
Adolf Hitler thời trẻ
Adolf Hitler, nhà độc tài của chế độ Đức Quốc xã, cái tên mà khi nhắc đến dễ làm người ta nghĩ ngay tới chiến tranh, chết chóc, hay sự đau khổ mà ông ta gây ra cho nhiều quốc gia và dân tộc châu Âu.
Là lãnh đạo Đảng Quốc xã Đức, Hitler đã vươn lên đỉnh cao quyền lực sau nhiều năm tranh đấu. Hitler lấy tư tưởng phát xít của Ý làm hình mẫu, đồng thời ông ta cũng là một kẻ cuồng tín với lý thuyết về chủng tộc Aryan thượng đẳng. Sau đó, ông ta khiến châu Âu rơi vào lò lửa chiến tranh khi khơi mào cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Không những vậy, ông ta còn ra lệnh diệt chủng những nhóm dân tộc mà ông ta cho là “hạ đẳng”.
Tính riêng ở châu Âu, số liệu người chết được tính toán ít nhất là hơn 40 triệu người. Trong đó, tính riêng trong Nạn Diệt chủng (Holocaust) của Hitler, khoảng 17 triệu người đã bị giết hại theo nhiều cách, trong đó có 6 triệu người Do Thái.
Đó là những điều chúng ta hay nghe nói về Hitler. Nhưng Hitler cũng là một con người, và có những điều mà không phải ai cũng biết.
Trang web WhatCulture đã tổng hợp những sự thật ít ai biết đến về Adolf Hitler.
1. Từng do thám Đảng Quốc xã
Phục vụ quân đội Đức trong Thế chiến thứ nhất, Hitler quyết định ở lại quân đội sau khi chiến tranh kết thúc và trở thành một người do thám tin tình báo cho quân đội.
Sau vài nhiệm vụ thành công, ông ta được giao nhiệm vụ thâm nhập điều tra một đảng mới nổi. Đó là Đảng Công nhân Đức – tiền thân của Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đức (Đảng Quốc xã). Tuy nhiên, bị thuyết phục khi nhận ra lãnh đạo đảng này khi đó là Anton Drexler có tư tưởng bài Do Thái, bài chủ nghĩa Marx, và ủng hộ tư tưởng dân tộc, nên Hitler sau đó gia nhập đảng này và rời khỏi quân đội.
2. Phải sống trong chỗ trú cho người vô gia cư
Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler - 2
"Alter Hof Munich" - Toà dinh thự cũ ở Munich. Hitler vẽ năm 1914 khi ở Munich
Thời trẻ, Hitler mơ ước làm hoạ sĩ, nhưng 2 lần liền bị từ chối vào học ở Học viện Mỹ thuật Vienna vì “thiếu khả năng hội hoạ”. Hitler cố gắng bám trụ lại ở thành phố Vienna và kiếm sống bằng nghề bán tranh dạo nhưng không kiếm đủ tiền trang trải cuộc sống.
Việc này khiến Hitler, lúc này đã là một thanh niên, phải ở tạm trong các chỗ trú cho người vô gia cư. Mỗi khi việc buôn bán phát đạt hơn, thì Hitler mới có thể ở trong các khu nhà trọ rẻ tiền.
3. Được thưởng Huân chương Thập tự sắt hạng nhất
Trong Thế chiến thứ nhất, Hitler tìm thấy tình yêu dành cho dân tộc Đức. Chính tình yêu đó thúc đẩy ông ta chiến đấu, và được thưởng Huân chương Thập tự sắt hạng hai. Không những vậy, đến năm 1918, được cấp trên tiến cử, Hitler được thưởng Huân chương Thập tự sắt hạng nhất.
Việc tiến cử đó do một sĩ quan người Do Thái, Trung uý Hugo Gutmann tiến hành. Việc nhận Huân chương Thập tự sắt hạng nhất là một vinh dự hết sức to lớn, và lại càng hiếm hoi với một Hạ sĩ như Hitler, vì huân chương này thường chỉ được trao cho các sĩ quan có thành tích xuất sắc trong chiến đấu.
4. Mắc hội chứng Parkinson.
Hitler đã chịu nhiều thương tích lẫn bệnh tật trong đời, và một bác sĩ riêng đã chẩn đoán ông ta mắc cả hội chứng Parkinson. Hitler đã chịu bệnh trong 11 năm cuối đời, và một số sử gia cho rằng tình trạng bệnh tật của Hitler đã ảnh hưởng đến các quyết định của ông ta trong Thế chiến thứ hai.
5. Được tạp chí TIME bình chọn là người đàn ông của năm
Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler - 3
Hitler trên tạp chí TIME
TIME là một tạp chí danh tiếng của Mỹ. Hàng năm, TIME tổ chức bình chọn người đàn ông của năm, và Hitler đã được chọn năm 1938.
Hội nghị Munich (tháng 9 năm 1938) là cuộc họp bàn về việc chia cắt lãnh thổ của Tiệp Khắc. Nguyên thủ bốn cường quốc Anh, Pháp, Ý và Đức tham dự cuộc họp này. Kết quả, vùng Sudetenland của Tiệp Khắc bị cắt cho Đức, với hy vọng đổi lấy hoà bình. Khi đó, hội nghị này được coi là đã cứu thế giới khỏi một cuộc đại chiến toàn cầu thứ hai.
Vậy là Hitler, với danh nghĩa của một người “gìn giữ hoà bình”, được TIME bầu chọn là người đàn ông của năm 1938.
6. Hitler từng mong muốn trở thành một linh mục khi còn nhỏ
Hitler là một người chống lại Công giáo và các giáo lý cổ hủ của nó, nhưng chính Hitler khi nhỏ lại muốn trở thành một mục sư. Khi mới là một cậu bé 8 tuổi, Hitler đã là một thành viên nổi bật trong dàn thánh ca nhà thờ ở quê nhà.
Nhưng khi lớn lên, niềm tin vào Công giáo của ông ta dần mất đi, và giấc mơ trở thành mục sư đương nhiên cũng không còn.
7. Chống lại các hành động tàn ác với động vật
Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler - 4
Hitler cho nai ăn. Ảnh chụp năm 1936, ở Obersalzberg
Điều này nghe có vẻ tương phản hoàn toàn với hình ảnh hàng chục triệu người đã chết dưới mệnh lệnh của Hitler, nhưng đó là sự thật. Ông ta rất kiên quyết trong vấn đề này và đã đặt ra những điều luật bảo vệ động vật. Thậm chí ông ta còn dự định sau khi chiến thắng hoàn toàn sẽ tiến hành vận động cắt giảm việc ăn thịt.
8. Muốn tạo ra một bảo tàng về những dân tộc đã tuyệt chủng
Mặc dù muốn huỷ diệt rất nhiều dân tộc, nhưng có vẻ Hitler không muốn người ta quên đi những dân tộc đó. Ông ta đã ra lệnh rằng các tác phẩm nghệ thuật hay những món đồ quý giá thuộc sở hữu của những người Do Thái bị giết hại được giữ lại. Ý tưởng của Hitler là tạo ra một bảo tàng với cái tên “Bảo tàng về những dân tộc đã tuyệt chủng”.
9. Được đề cử giải Nobel Hoà bình
Những sự thật ít được biết đến về trùm phát xít Hitler - 5
Huân chương dành cho những người đạt giải Nobel Hoà binh
Đúng vậy, nhưng đó chỉ là một trò đùa mỉa mai từ người đề cử Hitler – một nghị sĩ Thuỵ Điển tên Erik G. C. Brandt. Năm đó, trong chính phủ Thuỵ Điển có nhiều người đã đề cử Chamberlain, Thủ tướng Anh, cho giải Nobel vì “thành công” trong việc đem lại hoà bình với Hội nghị Munich năm 1938. Vậy là để châm chọc, Brandt đã đề cử Hitler.
Đương nhiên là đề nghị này được rút lại ngay sau đó vì áp lực công luận. Và khi Thế chiến thứ hai nổ ra thì giải Nobel Hoà bình năm 1939 cũng không trao cho ai cả.
10. Từng sử dụng dung dịch chiết xuất từ tinh hoàn của bò húc
Việc Hitler sử dụng cocaine đương nhiên sẽ chẳng kỳ lạ một chút nào nếu bạn biết rằng ông ta từng tiêm cả dung dịch chiết xuất từ tinh hoàn của bò húc để cải thiện đời sống tình dục. Bác sĩ riêng của ông ta đã đưa ra đề nghị hết sức kỳ lạ này khi nghe Hitler than thở vì mất hứng thú tình dục, và đề nghị đó đã được chấp nhận.
11. Cho sản xuất búp bê tình dục
Việc này không phải để thoả mãn chính nhu cầu của ông ta mà thực tế là cho binh lính của Hitler. Nhiều người đã dính các bệnh tình dục do quan hệ với gái mại dâm, và Hitler quyết định sản xuất các búp bê tình dục cho quân đội để hạn chế bệnh liên quan đến tình dục. Thậm chí các búp bê này còn được thiết kế để có thể nhét vừa trong cặp hành quân của binh lính.
Chủ Nhật, ngày 29/04/2018 07:00 AM (GMT+7)
Theo Huy Đức (lược dịch) (whatculture.com

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Nhà trên 700 triệu bị đánh thuế: Hàng triệu người mất thêm tiền

 Nhà trên 700 triệu bị đánh thuế: Hàng triệu người mất thêm tiền

 Nhà có giá trị 700 triệu đồng trở lên có thể sẽ bị đánh thuế tài sản ở mức 0,4%. Như vậy, giá trị nhà càng cao, thì số tiền thuế phải nộp sẽ càng nhiều.
Ngân sách có thêm chục ngàn tỷ
Bộ Tài chính đang đề nghị xây dựng Luật Thuế tài sản. Theo đó, Bộ này dự kiến đánh thuế đối với nhà, đất ở, tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị 1,5 tỷ đồng trở lên.
Cụ thể, với nhà ở, Bộ Tài chính xây dựng 2 phương án đánh thuế: một là đối với nhà ở có giá trị từ 700 triệu đồng trở lên; hai là nhà ở có giá trị 1 tỷ đồng trở lên.
Ngưỡng không chịu thuế là nhà có giá trị 700 triệu đồng trở xuống hoặc 1 tỷ đồng trở xuống. Điều này có nghĩa, phần bị đánh thuế tài sản là phần có giá trị trên 700 triệu đồng hoặc trên 1 tỷ đồng.
Chẳng hạn, với ngưỡng không chịu thuế là 700 triệu đồng thì một căn nhà có giá trị 800 triệu đồng sẽ bị đánh thuế với phần giá trị 100 triệu đồng, tức 0,3-0,4% của 100 triệu đồng.
Đánh thuế nhà,thuế tài sản,thuế nhà,thuế nhà đất,Bộ Tài chính
 Nhà có giá trị 700 triệu đồng trở lên có thể sẽ bị đánh thuế tài sản ở mức 0,4%.
Bộ Tài chính cho rằng, theo kinh nghiệm quốc tế thì mức thuế tài sản thấp nhất là 0,2%. Đa số các nước áp dụng mức thuế tài sản cao, trong đó có một số nước trong khu vực như Indonesia 0,5%, Philippines 1% và 2%. Do đó, Bộ Tài chính xây dựng 2 phương án: một là áp dụng mức thuế suất tài sản chung là 0,3%; hai là áp dụng mức thuế tài sản chung là 0,4%.
Với phương án đánh thuế nhà 0,3% giá trị, Bộ Tài chính dự kiến số thu thuế tài sản là khoảng 22.700 tỷ đồng (nhà trên 1 tỷ) hoặc khoảng 23.300 tỷ đồng (nhà trên 700 triệu đồng).
Đối với phương án 0,4%, thì số thu thuế tài sản là khoảng 30.300 tỷ đồng (nhà 1 tỷ đồng trở lên) hoặc khoảng 31.000 tỷ đồng (nhà 700 triệu đồng trở lên).
Chính vì thế, Bộ Tài chính đề nghị áp dụng phương án 2, tức đánh thuế 0,4% với nhà có giá trị từ 700 triệu đồng trở lên.
Điều này, theo Bộ Tài chính, là “phù hợp với quy định mức thuế suất thuế tài sản của các nước”, khai thác tốt nguồn thu từ thuế tài sản, đảm bảo thuế tài sản là nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước, thực hiện mục tiêu cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước.
Vì sao không đánh thuế theo diện tích?
Tại cuộc họp báo chiều 13/4, Bộ Tài chính lý giải về việc chọn đánh thuế theo giá trị nhà mà không đánh thuế theo diện tích, dù phương án đánh thuế theo diện tích có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, thuận lợi trong việc xác định số thuế phải nộp.
Theo ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế, việc xác định ngưỡng không chịu thuế và chịu thuế theo diện tích có nhược điểm là điều tiết cả đối với người sử dụng nhà có giá trị không lớn, nhà đơn sơ, nhà thiếu kiên cố, nhà tại nông thôn có diện tích vượt ngưỡng không chịu thuế nhưng giá trị thấp. Trong khi đó lại không điều tiết đối với giá trị lớn nhưng diện tích nằm trong ngưỡng không chịu thuế.
Vì thế, Bộ Tài chính quyết định xác định ngưỡng không chịu thuế hay chịu thuế đối với nhà theo giá trị căn nhà

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Một nền giáo dục thất bại

Một nền giáo dục thất bại
Tin hot giáo dục: Điểm chuẩn quá cao, 30 điểm vẫn trượt đại học
1. Không có quốc gia nào mà thí sinh thi 30 điểm/3 môn lại rớt đại học cả. Trên đời này rất rất khó có sự hoàn thiện đến mức đó cả. Thậm chí đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối 30 điểm/ 3 môn vẫn rớt. Chỉ tuyển những thí sinh trên 30 điểm nghĩa là những thí sinh đó trên sự hoàn thiện tuyệt đối à.
2. Không có quốc gia nào mà nghề cốt lõi nhất cho một đất nước, gốc rễ nền tảng nhất là giáo dục thì ngành sư phạm lấy đầu vào thấp nhất 12,5 điểm để sau này thành giáo viên.
3. Không có quốc gia nào phát triển mà các ngành nền tảng, tạo ra sản phẩm, tạo giá trị vững chắc như nông nghiệp, kỹ thuật…. bị coi rẻ đến mức chỉ dành thí sinh điểm thấp. Thậm chí thí sinh không thèm quan tâm nữa.
4. Không quốc gia nào mà những ngành “khổ cực nhất, phục vụ nhân dân” như công an lại lấy trên sự tuyệt đối. Thí sinh thi 30 môn đạt tuyệt đối 30 điểm là rớt. ???? Chả hiểu sao bọn trẻ lại bon chen vào ngành này!!!
5. Không quốc gia nào mà ngành chăm sóc sức khoẻ, liên quan tính mạng con người nơi lấy 29,5 điểm, có nơi chỉ cần xét học bạ hay đủ điểm sàng là sau 5,6 năm thành Bác sĩ, dược sĩ hết.
6. Không quốc gia nào, nông nghiệp là thế mạnh đất nước mà chả học sinh nào muốn vào học, nếu có là những thí sinh điểm thấp hết đường mới vào ngành đó học.
7. Nếu chỉ tính riêng ngành Bs đa khoa, trường đại học y dược tphcm, có 404 em đỗ mức 29,25 điểm thì chỉ có 26 thí sinh trúng tuyển mà không có điểm cộng và ưu tiên còn lại 378 thí sinh trúng tuyển là nhờ đối tượng ưu tiên, vùng ưu tiên. Vậy các em giỏi thật mà không thuộc đối tượng ưu tiên thì phải gác lại giấc mơ đại học nhé! Không quốc gia nào có được điều này!!!
ÔI GIÁO DỤC!
Điểm chuẩn quá cao, thí sinh đạt 30 điểm vẫn trượt đại học; Thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hay Không còn giao xét tốt nghiệp THPT cho các trường…
Điểm chuẩn cao nhất khối trường CAND là 30.5 điểm
Sáng 29/7, Tổng cục Chính trị công an nhân dân đã công bố điểm chuẩn vào 7 trường thuộc khối công an nhân dân. Điểm chuẩn của các trường từ 22,75 đến 30,5, trong đó phần lớn lấy 26 đến 29 điểm.
Điểm chuẩn của các trường nhìn chung đều rất cao, đặc biệt là với thí sinh nữ do chỉ tiêu ít.
Theo đó, điểm chuẩn cao nhất là ngành Ngôn ngữ Anh của Học viện Công an nhân dân với mức 30,5 điểm dành cho thí sinh nữ ở khối D01 (ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ).
Dù điểm chuẩn rất cao nhưng ở nhiều ngành, thí sinh thậm chí còn phải đáp ứng đủ tiêu chí phụ mới đủ điểm đỗ vào trường.
Điểm chuẩn khối A, thí sinh nữ, phía Bắc, của Đại học Phòng cháy chữa cháy ở ngưỡng 30,25 điểm. Tuy nhiên, trong số bốn thí sinh cùng mức 30,25 điểm, trường chỉ lấy ba thí sinh có tổng điểm ba môn chưa làm tròn cao nhất, từ 28,35 điểm. Một thí sinh còn lại vẫn không đỗ dù tổng điểm rất cao. (Xem chi tiết tại đây)
Tin hot giáo dục: Điểm chuẩn quá cao, 30 điểm vẫn trượt đại học - ảnh 1
Thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Chiều 27/7, Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã chính thức thông qua Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPTTT).
Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).
Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn.
Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. Các cơ sở giáo dục có thể tổ chức dạy học 1 buổi/ngày hoặc 2 buổi/ngày. Cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất đối với tất cả cơ sở giáo dục trong cả nước.
Không còn giao xét tốt nghiệp THPT cho các trường
Chương trình GDPT tổng thể vừa được thông qua, về định hướng đánh giá kết quả giáo dục, chương trình không còn quy định việc giao xét tốt nghiệp THPT cho các cơ sở giáo dục như trong dự thảo hồi tháng 4.
Khi Chương trình GDPT mới áp dụng, kỳ thi THPT sẽ không còn. Thay vào đó, việc xét tốt nghiệp sẽ được giao cho các trường.
Trước đó, trong dự thảo công bố tháng 4 có nêu rõ: Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GD-ĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp gần 100%: Có nên bỏ kỳ thi THPT?
Nhiều địa phương có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT gần 100%, có ý kiến cho rằng, nên bỏ kỳ thi THPT Quốc gia.

Kỳ thi THPT quốc gia năm nay “xôn xao” bởi việc điểm 10 tăng cao khi có tới hơn 4.000 điểm (năm ngoái chỉ gần 100 điểm). Chỉ riêng hai tỉnh/thành phố như Hà Nội, TP.HCM có tới hàng nghìn điểm 10 xuất hiện.
Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành phố đã công bố tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao, tăng hơn hẳn các năm trước khi đạt 98-99%.
Đơn cử, Phú Thọ có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp 99,1%; Cao Bằng là 91,39%; Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2017, tỉnh Nam Định có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 99,53%. Cũng trong kỳ thi THPT quốc gia, tại Nam Định có đến 45/73 trường THPT, Trung tâm GDTX có số thí sinh đỗ tốt nghiệp 100%;
Hòa Bình có 96,94% thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT Quốc gia 2017; Thái Nguyên trên 96,5% học sinh tốt nghiệp;
Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp nhiều tỉnh phía Nam gần 99%. Cụ thể, tỷ lệ tốt nghiệp của tỉnh Bình Dương đạt 99,83%, Bến Tre là 99,06%, Bình Phước đạt 98,8%… Nhìn chung tỷ lệ đỗ tốt nghiệp năm nay cao hơn từ 1-2% so với năm trước.
“Mưa” điểm 10 và nhiều tỉnh/thành phố chạm “đỉnh”
Kỳ thi THPT quốc gia năm nay “xôn xao” bởi việc điểm 10 tăng cao khi có tới hơn 4.000 điểm (năm ngoái chỉ gần 100 điểm). Chỉ riêng hai tỉnh/thành phố như Hà Nội, TP.HCM có tới hàng nghìn điểm 10 xuất hiện.
Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành phố đã công bố tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao, tăng hơn hẳn các năm trước khi đạt 98-99%.
Đơn cử, Phú Thọ có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp 99,1%; Cao Bằng là 91,39%; Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2017, tỉnh Nam Định có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 99,53%. Cũng trong kỳ thi THPT quốc gia, tại Nam Định có đến 45/73 trường THPT, Trung tâm GDTX có số thí sinh đỗ tốt nghiệp 100%;
Hòa Bình có 96,94% thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT Quốc gia 2017; Thái Nguyên trên 96,5% học sinh tốt nghiệp;
Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp nhiều tỉnh phía Nam gần 99%. Cụ thể, tỷ lệ tốt nghiệp của tỉnh Bình Dương đạt 99,83%, Bến Tre là 99,06%, Bình Phước đạt 98,8%… Nhìn chung tỷ lệ đỗ tốt nghiệp năm nay cao hơn từ 1-2% so với năm trước.
Tỉ lệ cao vì đề dễ hay thí sinh có “phao cứu sinh”
Thống kê của một trường đại học cho thấy, nếu chỉ tính điểm thi với mức điểm tốt nghiệp trung bình là 5 điểm thì tỉ lệ thí sinh tốt nghiệp của cả nước chỉ đạt hơn 58%.
Tuy nhiên với cách tính điểm xét tốt nghiệp dựa vào điểm học lớp 12 và điểm thi như hiện nay bắt đầu từ năm 2014 thì tỷ lệ tốt nghiệp tăng vọt trên 90%
Theo TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch HĐQT Trường ĐH FPT, nếu không có “phao cứu sinh” này, thì tỉ lệ học sinh tốt nghiệp chưa tới 60%.
Khi sử dụng điểm học tập để xét tốt nghiệp, thí sinh thi chỉ cần bài thi không bị điểm liệt là đủ điểm để tốt nghiệp. Vì chỉ cần thí sinh được 4 điểm thi thì với 6 điểm học, công các điểm ưu tiên, khuyến khích là đủ tốt nghiệp.
Thậm chí là với điểm thi bằng 2 nhưng điểm học của thí sinh đó là 8 thì thí sinh vẫn có thể đủ tốt nghiệp.
Trong khi đó, với các bài thi hầu hết là theo phương thức trắc nghiệm như năm nay, theo lý thuyết thì thí sinh chỉ làm đủ bài cũng được từ 2-2,5 điểm
TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cũng băn khoăn, việc duy trì thi THPT là cần thiết nhưng phải với một tỉ lệ hợp lí hơn. “Nếu hơn 90% tốt
nghiệp thì cần gì phải thi, như vậy sẽ gây lãng phí và vô ích”- Ông Nhĩ nhấn mạnh.
Theo GS Phạm Tất Dong, tỉ lệ tốt nghiệp THPT cao, liên tiếp giữ vững trong nhiều năm trở lại đây cũng phần nào thấy được tâm lý thành tích của xã hội. Bởi qua nhiều lần cải cách thi cử, phương thức ra đề thì tỉ lệ đỗ tốt nghiệp vẫn luôn cao. Vậy, có nên tiếp tục kỳ thi THPT quốc gia với mục đích xét công nhận tốt nghiệp THPT và làm căn cứ để xét tuyển ĐH,CĐ?
Còn theo TS Lê Viết Khuyến, nhìn vào những nước còn tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT, cũng ít nước nào có tỉ lệ đỗ tốt nghiệp cao như Việt Nam. Ở Pháp, tỉ lệ này chỉ khoảng 70%. Thực tế có một số nước trên thế giới đã bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Theo https://www.tienphong.vn/giao-duc/tin-hot-giao-duc-diem-chuan-qua-cao-30-diem-van-truot-dai-hoc-1171946.tpo

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Ba lần đổi tiền ở Việt Nam sau năm 1975 : Ăn cướp có Licence

Ba lần đổi tiền ở Việt Nam sau năm 1975 : Ăn cướp có Licence


















- Sau ngày 30/4/1975, tiến trình bình định và vô sản hóa miền nam Việt Nam được bộ chính trị đảng cộng sản với 17 đảng viên Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương (Nguyễn Công Miểu), Nguyễn Văn Linh (Nguyễn văn Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn), Chu Huy Mân (Chu Văn Điều), Tố Hữu tự Lành (Nguyễn Kim Thành), Võ văn Kiệt (Phan Văn Hòa) và Đỗ Mười (Nguyễn Duy Cống) quyết định, nhằm tiêu diệt mọi giai cấp cũ trong xã hội VNCH, phá vỡ, kiểm soát, chiếm đoạt mọi cơ cấu kinh tế trọng yếu trên toàn miền và nỗ lực bần cùng hóa người dân miền nam trong âm mưu phải cào bằng hố cách biệt quá lớn trong sinh hoạt đời sống của người dân hai miền nam – bắc, dưới hai chế độ tự do – cộng sản, hòng khỏa lấp sự tuyên truyền dối trá từng liên tục diễn ra suốt hàng mấy thập niên qua tại miền bắc.

Tựu trung có bốn biện pháp chính nhắm đến hai mục tiêu tiên quyết, gồm trả thù nhân dân miền nam bằng chính sách tập trung học tập cải tạo và đi xây dựng vùng kinh tế mới, song hành với chủ trương chiếm đoạt, cướp bóc triệt để mọi tài sản, bất động sản, các cơ sở kinh tế của người dân và của chính phủ VNCH thông qua chính sách cải tạo công thương nghiệp (đánh tư sản) và đổi tiền được Hà Nội cho áp dụng dai dẳng từ 1975 đến đầu thập niên 90. 

Tất cả đều được thực hiện dưới chiêu bài xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ giai cấp tư sản bóc lột, ngồi mát ăn bát vàng, tập thể hóa sản xuất và tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên cả nước, bằng các lực lượng chiếm đóng là công an và quân đội miền bắc và bởi bạo lực cách mạng, tức là một mỹ danh mỹ miều, trơ trẽn, che đậy cho sự thật trần trụi đó chỉ là bốn cú đánh có tính tiêu diệt tàn bạo, nặng nề nhất, được đảng cộng sản xử dụng để đánh phủ đầu người miền nam, triệt tiêu mọi cơ cấu trong xã hội miền nam khi chiến tranh mới vừa chấm dứt và hầu như không có gia đình nào ở miền nam tránh khỏi. 

Trong khi những chuyến tàu thủy kinh hoàng đưa hàng chục ngàn người tù quân, cán, chính VNCH, lưu đày khổ sai ra vùng rừng núi thâm sơn cùng cốc ngoài miền bắc, những chuyến xe đò chạy than xộc xệch đày đọa hàng trăm ngàn, hàng triệu thân nhân người tù đi về mọi miền hoang vu, để "có sức người sỏi đá cũng thành cơm", thì nương theo thế cướp đoạt công khai đầy thắng lợi theo kiểu lẽ phải thuộc về phía kẻ mạnh - đang ở đỉnh cao của cơn bão táp, người người, nhà nhà, cán bộ, đảng viên, cơ quan, dân sự, quân sự, từ nhỏ đến lớn, trung ương hay địa phương, từ miền bắc vào, từ trong rừng ra, từ ngang nhiên chiếm hữu, cướp đoạt, đến xin giúp đỡ, thu lượm, nhặt nhạnh…. thi nhau vơ vét, xâu xé, xẻ thịt con mồi miền nam. Liên tục và ồ ạt là những đoàn xe vận tải dân, quân sự chạy nối đuôi nhau hàng ngày trên quốc lộ 1, cũng như không ngớt các chuyến xe lửa nặng nề, chở đủ thứ chiến lợi phẩm, do đủ thứ lực lượng, cơ quan nhà nước, của đủ mọi loại đảng viên, cán bộ, bộ đội cướp đoạt, hay xin xỏ được từ miền nam, cứ đều đặn ngược ra các tỉnh miền bắc. 

Chỉ tính riêng về mặt tài chánh – ngân hàng, số tài sản lưu động gồm tiền mặt nội tệ VNĐ, ngoại tệ USD và quý kim các loại của chính phủ VNCH để lại hoàn toàn nguyên vẹn, trở thành chiến lợi phẩm bị Hà Nội tịch thu, có văn bản kiểm kê chính thức (không tính phần đã bị những đoàn thể, nhiều cá nhân tẩu tán, chiếm đoạt mờ ám lúc giao thời) cũng đã rất lớn. 

Vàng lưu trữ tại ngân hàng quốc gia có 1.234 thoi vàng nguyên chất, nặng 12 – 14kg mỗi thoi, có tuổi vàng 9997 – 9998, nặng tổng cộng 15,7 tấn (chưa tính các loại đồng tiền cổ bằng vàng nguyên chất, được nhiều quốc gia khác nhau đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19, như đồng tiền vàng 20USD Double Eagle của Hoà Kỳ nặng 33,4 gam vàng, tiền vàng Pesos của Mexico, hoặc đồng vàng Napoleon của Pháp… mà ngoài giá trị nguyên thủy của vàng, khi tính theo giá trị tiền cổ còn cao rất nhiều lần so giá trị vàng nội tại của nó). Số vàng này cộng sản vu cáo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiếm dụng, chuyển ra ngoại quốc để làm của riêng suốt từ 1975 đến 2006, trong khi trên thực tế đã bị Hà Nội chuyển qua Lienxo, cùng với số vàng nữ trang, vàng lá các loại của tư nhân miền nam bị Hà Nội chiếm đoạt vào các đợt đánh tư sản, vàng nộp lệ phí cho cộng sản để được vượt biên bán chính thức theo "phương án 2" trong hai năm 1978 - 1979, tổng cộng lên tới 40 tấn, bị đúc lại từng thoi nặng 1kg theo tiêu chuẩn Nga, để bán ra trên thị trường vàng Âu châu và Lienxo trong giữa thập niên 80. 

Vàng của VNCH ký gởi tại ngân hàng Bank fur Internationnalen Zahlung Sausgleih – Thụy Sĩ có 5,7 tấn, cũng bị Hà Nội tìm cách thu hồi thông qua cái gọi là chính phủ cách mạng lâm thời miền nam, sở hữu chủ kế thừa hợp pháp VNCH, để đem ra bán trên thị trường Tiệp Khắc vào cuối thập niên 80. 

Số ngoại tệ dự trữ của VNCH ký gởi tại các ngân hàng Hoa Kỳ và Thụy Sĩ có 252,2 triệu USD và số nội tệ trong toàn bộ các kho, quỹ của hệ thống ngân hàng VNCH có 150 tỷ VNĐ. 

Tính tới tháng 6/1974, tổng số tiền VNĐ do ngân hàng quốc gia Việt Nam phát hành là 313,5 tỷ đồng, đưa ra lưu hành trên thị trường tiền tệ 229,8 tỷ đồng và dự trữ 83,7 tỷ đồng. Qua tháng 5/1975 tổng số tiền VNĐ đã phát hành tăng lên 615 tỷ đồng và lưu hành trên thị trường khoảng 440 tỷ đồng. 

Trước số hiện kim VNCH lưu hành quá lớn, vẫn còn giá trị mạnh khi thanh toán, giao dịch trên thị trường tiền tệ miền nam và nhất là sau khi đã phân phối, chi xài hết số nội tệ tồn trữ của ngân hàng quốc gia VNCH, như chi cho quân đội miền bắc hơn 100 tỷ, chi mua lúa ở đồng bằng sông Cửu Long chở ra miền bắc 20 tỷ và chi cho quân khu 5, quân khu Trị - Thiên 15 tỷ, Hà Nội mới tiến hành đổi tiền lần thứ nhất trên toàn cỏi miền nam Việt Nam ngày 22/9/1975. 

Mục đích của việc đổi tiền là củng cố thế chính danh cho chính phủ cách mạng lâm thời – chế độ nào, đồng nội tệ đó – cho phù hợp với các thỏa thuận kế thừa vai trò hội viên của VNCH tại các định chế tài chánh quốc tế như ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) và nhất là để kiểm soát, tước đoạt số hiện kim của cải trong xã hội, bần cùng và cào bằng mức sở hữu tài chánh của tất cả mọi người dân miền nam xuống mức thấp nhất và ngang nhau, trong khi mức sở hữu tài chánh của dân miền bắc vẫn được giữ nguyên vị, thể hiện rõ bản chất một vụ cướp tiền của mọi công dân VNCH vừa kinh hoàng, vừa đại quy mô và bằng luật do đảng cộng sản và nhà nước cộng sản Việt Nam ban hành. 

Thời gian đổi tiền được quy định từ 11 giờ trưa đến 23 giờ tối ngày 22/9, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ, cho 70.000 nhân viên vừa quân đội, công an, nhân viên ngân hàng và sinh viên học sinh làm nhiệm vụ thu và đổi tiền trên toàn miền nam Việt Nam, có liên quan sinh tử đến cuộc sống của hơn 21 triệu người dân. 

Đồng tiền VNCH thuộc loại tiền tệ có giá trị trao đổi trên thị trường tiền tệ quốc tế (conversibility currency), từ loại có trị giá từ 50 đồng trở lên đều bị cấm lưu hành, phải hủy bỏ, đổi qua đồng bạc cách mạng lâm thời, hay còn được gọi là "tiền giải phóng" gồm 8 trị giá từ 10 xu đến lớn nhất là 50 đồng và là loại không thể chuyển đổi trên thị trường tiền tệ thế giới (non transferable currency). 

Tỷ giá giao hoán ấn định giữa ba loại tiền đồng đang lưu hành trước ngày 22/9/1975, gồm tiền VNCH, tiền miền bắc và tiền cách mạng, chỉ là đơn thuần là một quyết định duy ý chí, không dựa vào bất cứ một tiêu chuẩn gì về tiền tệ, hay một nghiên cứu tài chánh nào khác và cũng bị thay đổi tùy theo vùng, miền địa lý. 

Theo đó, trên các tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, 500 đồng VNCH đổi bằng 1 đồng tiền mới. Mỗi gia đình, căn cứ theo tờ khai gia đình phải kê khai và giao nộp hết số hiện kim VNCH đang có và được phép đổi 100.000 đồng trong hạn định theo tỷ giá giao hoán, tức bằng 200 đồng tiền mới để sở hữu ngay. Phía bắc đèo Hải Vân, tức từ Thừa Thiên – Huế trở ra các tỉnh miền bắc, việc đổi tiền cũng theo trình tự như trên nhưng tỷ giá giao hoán thay đổi, cứ 1.000 đồng VNCH đổi được 3 đồng mới, do đó mỗi gia đình trong vùng sẽ được sở hữu ngay tối đa là 300 đồng tiền mới. 

Đối với các gia đình kinh doanh, sản xuất quy mô trung bình và lớn, được đổi thêm 100.000 đến 500.000 đồng tiền VNCH và phù hợp với tỷ giá giao hoán. 

Phần tiền VNCH kê khai còn lại sau khi đổi ngay lần đầu tiên, đối với từng gia đình được đổi thêm 100.000 đồng, đối với cơ sở sản xuất được đổi thêm một triệu, cũng quy ra tiền mới theo tỷ giá giao hoán, nhưng phải bỏ vào trương mục ngân hàng cho nhà nước quản lý (?). Các phần dư ra sau các hạn định này đều bị hủy bỏ. 

Tỷ giá giao hoán giữa đồng tiền miền bắc và đồng tiền mới của miền nam, quy định 1 đồng miền bắc bằng 0,66 đồng tiền mới, trong khi tỷ giá hối đoái cũng thay đổi, 1USD bằng 1,51 đồng tiền mới, hay bằng 2,90 đồng tiền miền bắc. 

Do đó sau đổi tiền, mỗi gia đình người dân miền nam Việt Nam chỉ còn cầm được trong tay 200 tới 300 đồng tiền mới, bằng 303 đến 454,5 đồng miền bắc và trên lý thuyết coi như cũng tương đương với 132,5 đến 198,5USD. Trên thực tế, vì đồng tiền mới là loại bất khả chuyển nhượng trên thị trường tiền tệ quốc tế, tỷ giá hối đoái cũng do Hà Nội tự áp đặt, nên quy đổi theo tỷ giá VNCH hiện hành thì người dân chỉ còn sở hữu tương đương khoảng gần bằng 100USD. 

Số tiền ký thác vào trương mục ngân hàng cũng bị đóng, tới đầu năm 1976 cộng sản Hà Nội mới để cho người dân miền nam rút nhỏ giọt 30 đồng mỗi tháng, nhưng chỉ đến cuối năm thì khóa luôn vĩnh viễn, coi như tài sản ký gởi của người dân hoàn toàn mất trắng. 

Hậu quả trước mắt là mọi đồng tiền làm ăn giành dụm, chắt chiu suốt cuộc đời người dân miền nam đều bị đảng cộng sản Việt Nam trắng trợn cướp bóc gần như sạch sẽ, tài sản bị đánh đồng hạng và ở dưới đáy so với cộng đồng dân chúng miền bắc. Rất nhiều người vì quá uất ức phải tìm đến phản ứng tiêu cực là tự vẫn, trong khi nhiều tay cán bộ cùng đinh cộng sản lại giàu lên bất ngờ, do nhận "đổi giúp" tiền, theo tỷ lệ ăn chia 6 – 4, thậm chí là 8 – 2, vẫn được người dân miền nam cay đắng chấp nhận, còn hơn là bị nhà nước cộng sản cướp. Rất nhiều dân nghèo miền nam, cảm tình viên cộng sản vở mộng, do không có tiền đổi thì cũng chẳng được đảng cấp khống cho 200 hay 300 đồng như mọi người có tiền để đổi và như đảng đã luôn phủ dụ trước đó sẽ san bằng giàu nghèo trong xã hội (?), trong khi các gia đình miền bắc có lợi thế vẫn giữ nguyên tích sản hiện kim, nên đã ồ ạt đổ xô vào miền nam mua lại mọi thứ tài sản, nhà cửa với giá rẻ như cho vì người dân VNCH đã bị bần cùng và không còn đường khác để lựa chọn. 

Tổng số tiền VNCH lưu hành trên thị trường bị Hà Nội thu gom trong cuộc đổi tiền lần thứ nhất, ngày 22/9/2975, là 486 tỷ đồng, trong đó 77% là cướp đoạt từ người dân miền nam. 

Cuộc đổi tiền lần thứ hai diễn ra ngày 3/5/1978 và có phạm vi trên toàn quốc, nhằm... Xóa bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng các hợp tác xã và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp cỡ nhỏ... (Nghị quyết hội nghị 24 trung ương đảng, khóa III, 09/1975) và đổi tiền là một vũ khí quan trọng của mọi nhà nước cộng sản trong tiến trình đó. Hà Nội cho đổi tiền để vừa chỉ còn lưu hành một đồng tiền chung, vừa để ngăn cản khả năng yểm trợ vật chất cần thiết cho mọi ý thức kháng cự, vô hiệu hóa cơ hội tự phát nẩy sinh ra các hoạt động kinh doanh, sản xuất, các thị trường kinh tế ngầm ngoài tầm kiểm soát và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho chủ trương tiếp tục tịch thu tài sản, của cải trong dân, đẩy mạnh cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại miền nam, tức đẩy nhanh hơn tốc độ bần cùng, vô sản hóa miền nam. 

Ngày 1/4/1978, ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam thông qua nghị quyết số 08/NQ/TW cho nhà nước CHXHCNVN cụ thể hóa ra hai sắc lệnh số 87-CP và 88-CP do Phạm Hùng ký ban hành ngày 25/4/1978, quyết định về việc thống nhất tiền tệ trên cả nước và hạn định tiền mặt được quy đổi, nhưng giữ kín đến ngày 3/5/1978 mới công bố và chính thức áp dụng. Theo đó, hai loại tiền tệ đang lưu hành song hành tại Việt Nam, đều bị cấm xử dụng, những ai sở hữu tiền cũ thì phải đem đổi lấy tiền mới. 

Tỷ giá giao hoán giữa hai loại tiền cũ với đồng tiền mới cũng thay đổi theo miền địa lý. Từ bắc vỹ tuyến 17 trở ra, 1 đồng tiền mới bằng 1 đồng tiền cũ. Từ nam vỹ tuyến 17 trở vào, 1 đồng tiền mới bằng 0,8 đồng tiền cũ. 

Hạn ngạch được phép đổi tiền cũ lấy tiền mới, cũng quy định thay đổi theo vùng cư trú. 

Dân thành thị mỗi người được đổi tối đa 100 đồng tiền mới, một gia đình hai người đổi tối đa 200 và từ người thứ ba trở đi được đổi thêm 50 mỗi người, nhưng tổng số đổi không vượt quá 500 đồng tiền mới cho một gia đình. 

Dân vùng nông thôn mỗi người được đổi tối đa 50 đồng tiền mới, một gia đình hai người được đổi tối đa 100, từ người thứ ba trở đi được đổi thêm 30 mỗi người, nhưng tổng số quy đổi tối đa không được vượt hơn 300 đồng tiền mới cho một gia đình. 

Số tiền cũ còn lại phải khai báo, quy đổi theo tỷ giá mới và giao nộp vào ngân hàng. Khi cần thì người dân chủ sở hữu có thể xin rút ra, nếu… có lý do chính đáng (?) và chứng minh được nguồn gốc số tiền là do bản thân "lao động chân chính" không phải do "bóc lột qua sức lao động của người khác"(?). 

Cũng như lần đổi tiền đầu tiên, mọi hậu quả trong đợt đổi tiền lần thứ hai chỉ duy nhất giáng xuống đầu mọi gia đình dân chúng tại miền nam lãnh đủ. Đồng tiền mới đổi năm 1975 bị phá giá trong khi đồng tiền miền bắc vẫn giữ nguyên giá trị cũ và tuy theo quan điểm lý thuyết của chế độ, mục tiêu của cuộc đổi tiền lần này là nhằm đến việc tiêu diệt giới tư sản miền nam, nhưng trên thực tế mọi tầng lớp trong xã hội miền nam đều phải gánh chịu chung những ảnh hưởng rất tai hại và nặng nề. 

Đối với giới tư sản và các thành phần trung lưu trong xã hội miền nam, sau nhiều đợt chính quyền cộng sản tước đoạt, tịch thu, trưng thu, trưng mua tượng trưng, hay cưỡng bách... phải tự nguyện hiến tặng cho nhà nước nhà cửa, mọi tài sản, tích sản đã và đang đầu tư, tích lũy trong hệ thống công, thương nghiệp tư doanh hiện hành diễn ra trong suốt hai năm 1976 - 1977, nay lại tiếp tục bị chiếm đoạt đồng tiền một cách trắng trợn và bất nhân, thông qua chủ trương bắt buộc phải ký thác ngân hàng số tiền vượt hạn ngạch quy đổi cho mỗi gia đình, cho nhà nước quản lý (?), mà sau đó hầu như đều không thể lấy lại vì có quá nhiều đòi hỏi ràng buộc, ngăn cản, phi lý đến ngang ngược của kẻ cướp. 

Thời điểm đổi tiền cũng xảy ra vào lúc Hà Nội mới thiết lập sự quản lý hành chánh xã hội ở miền nam bằng biện pháp hộ khẩu. Hộ khẩu quyết định tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống của người dân, tất nhiên sẽ là công cụ chứng minh quan trọng nhất khi đổi tiền, nhưng đây cũng là lúc cộng sản đang tích cực lùa người dân miền nam Việt Nam vào những vùng kinh tế mới - kiểu đem con bỏ chợ, sống không nổi, họ phải trôi giạt về lại chốn cũ, thì nhà cửa không còn, hộ khẩu không có nên cũng không thể đổi được số tiền ít ỏi rơi rớt sót lại, nên cuộc sống đã cùng cực, lại càng thêm thê thảm. 

Trong khi đó, trên bình diện toàn xã hội, ảnh hưởng bởi tư tưởng tự mãn, tự kiêu, cho đảng cộng sản Việt Nam quang vinh vô địch, bách chiến bách thắng, là đỉnh cao trí tuệ loài người và là lương tâm thời đại, Hà Nội ngã hẳn về phía Lienxo, chấp nhận đóng vai trò đạo quân tiền phong, trong mũi xung kích bành trướng ý thức hệ cộng sản ra khắp Đông nam Á của đệ tam quốc tế. 

Dù đang trong hoàn cảnh bị Hoa Kỳ cấm vận, các quốc gia Âu châu, Nhật Bản đã ngừng những chương trình viện trợ, Hà Nội vẫn giáo điều, chìm đắm trong các nhận định ấu trĩ cộng sản, tả khuynh, tiếp tục lòe bịp người dân, khỏa lấp khó khăn hiện tại và nhắm tới một tương lai huy hoàng trên giấy. Từ dự tính mỗi đầu người sẽ có được hai quả trứng một năm và bảo đảm sẽ có đủ nước chấm (?) cho tất cả mọi gia đình trên toàn quốc như kế hoạch năm năm 1976 - 1980 đề ra, đến vẽ vời ảo tưởng nhảy vọt, chỉ cần hai kế hoạch năm năm là đủ đưa Việt Nam vào hàng các quốc gia trung bình tiên tiến của thế giới (tức đã phát triển tương đối văn minh, giàu có). 

Không khác gì thói ba hoa, lừa bịp của đảng cộng sản Lienxo khi mới cướp được chính quyền Nga Sa hoàng, luôn giương cao khẩu hiệu hòa bình, ruộng đất, bánh mì và câu nói khoác lác, mị dân… Rồi sẽ có bánh mì và có tất cả... đã đi vào lịch sử của V. I Lénin, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thư chúc tết năm 1976, cũng đã tỏ ra không hề kém cạnh khi... mơ giữa ban ngày và tuyên bố chỉ trong vòng mười năm tới, mỗi gia đình Việt Nam sẽ có đủ một radio, một tivi và một tủ lạnh. 

Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định chỉ trong hai mươi năm nữa, Việt Nam sẽ bắt kịp và rồi vượt qua Nhật Bản để trở nên một quốc gia tiên tiến?! từ đó đẩy mạnh chủ trương, hoạch định và thực hiện liên tiếp các chương trình, kế hoạch kinh tế "đi tắt, đón đầu" đầy thiển cận, chủ quan, giáo điều, đồng thời tích cực bắt lính trên toàn miền nam Việt Nam, để vừa có thể tiêu diệt bớt thành phần con dân Ngụy một cách hợp lý, vừa có nhân lực đáp ứng cho nhu cầu trước mắt của đệ tam quốc tế cộng sản là tiếp tục tiến chiếm Cambodia, tạo ra thế uy hiếp cạnh sườn Thailand và công khai chống lại đàn anh Trung cộng. 

Do vậy chỉ trong vòng 10 năm ngắn ngủi... Việt Nam đã hầu như hoàn toàn bị cô lập. Các nước cùng khu vực lo lắng sau khi chiếm Cambodia thì Việt Nam sẽ đưa sức mạnh quân sự ra toàn vùng Đông Nam Á. Trung cộng thì ra sức đặt vấn đề Việt Nam xâm lược Cambodia và có mưu đồ lập lại liên bang Đông Dương hầu làm chủ vương quốc Lào và luôn Cambodia... (Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao CHXHCNVN, Hồi ức và suy nghĩ, 2005). Trong nước cuộc khủng hoảng toàn diện về kinh tế - xã hội cũng đã lên tới cao điểm, ảnh hưởng đến toàn bộ các mặt hoạt động của nền kinh tế quốc dân, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều giảm đến mức thấp nhất, khiến... Cả nước trải qua những cơn đói xanh mặt (...). Người người nhìn nhau ngờ vực. Nhà nhà soi mói vào bếp của nhau. Ngay cả những người đã từng một thời hân hoan, vui mừng trước chiến thắng và thống nhất đất nước, nay cũng phải bừng tỉnh, vì cái giá phải trả quá lớn... (Trần Khải, 30/4 và thuyền nhân, 2002). Mọi mặt sinh hoạt của toàn xã hội đều suy đồi nghiêm trọng đến mức gần như phá sản vào năm 1985. 

Để chống đỡ và hy vọng cứu vãn được tình hình, hội nghị trung ương lần thứ 8 trong tháng 6/1985 của đảng cộng sản Việt Nam, thông qua quyết nghị thực hiện một cuộc cải cách lớn về giá, lương, tiền, còn gọi là cuộc tổng điều chỉnh giá lương tiền và tiến hành cuộc đổi tiền, cướp tiền lần thứ ba. 

Đại kế hoạch được xướng xuất và chỉ đạo bởi ba giáo sư kinh tế xã hội chủ nghĩa, gồm Đoàn Trọng Truyền, chủ nhiệm ủy ban vật giá nhà nước, bộ trưởng phủ thủ tướng, Trần Phương (Vũ Văn Dung) phó chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, Trần Quỳnh, chủ nhiệm ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước, phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Tất cả đều đặt dưới quyền của Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành), đệ nhất phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng chính phủ CHXHCNVN, thay mặt bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam trực tiếp chỉ huy và điều động. 

Dù Hà Nội cố sức giấu diếm, che đậy, nhưng tin đồn đổi tiền cứ loan truyền âm ỹ trong dân chúng, do tình hình kinh tế ngày càng thêm kiệt quệ không còn có thể "lấy thúng úp voi" được, nên để đánh úp dân, đảng cộng sản thông qua các hệ thống truyền thông do nhà nước kiểm soát, cực lực bác bỏ mọi tin tức liên quan đến kế hoạch đổi tiền, vu khống và chụp mũ đó chỉ là âm mưu đánh phá của các thế lực thù địch, phản động. Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 12/9/1985 trong bài viết "Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương" đã đe dọa "với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản, mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để ". Sáng 14/9 cũng chính các hệ thống tuyên truyền này – thô bỉ chẳng khác gì các hạng mặt chai, mày đá – lật lọng loan báo giới nghiêm, công bố quyết định của Phạm văn Đồng, thủ tướng nhà nước CHXHCNVN về việc phát hành tiền mới và thu hồi tiền cũ. 

Cũng theo luận điệu ngụy biện cho hành vi ăn cướp, Hà Nội khẳng định đổi tiền là hoạt động tiến hành cải cách kinh tế, để đưa nền kinh tế tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững lên chủ nghĩa xã hội, cụ thể là phát động một cuộc cách mạng về giá, lương, tiền trong cả nước và đổi tiền là để bảo đảm cho giá trị của đồng tiền, giữ vững giá trị đồng lương và ổn định giá cả sinh hoạt (?). Chủ tịch ủy ban thành phố Sài Gòn là Phan Văn Khải cũng trơ tráo lên báo lươn lẹo ngụy biện "nhà nước đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động"(?). 

Quyết định 01/HĐBT/TĐ do Phạm Văn Đồng ký ngày 13/9, quy định tỷ giá đồng tiền mới bằng 10 lần đồng tiền cũ, áp dụng trong việc thu, đổi tiền đang lưu hành, chuyển đổi tiền của tài khoản ngân hàng, trên sổ sách chi thu và trong tính toán giá trị tất cả các tài sản, vật tư, hàng hóa, cùng mọi khoản chi trả khác. 

Quyết định số 02/HĐBT/TĐ cũng do Phạm Văn Đồng ký cùng ngày, quy định thu đổi ngay 4 loại tiền lớn 100, 50, 30, 20 đồng, các loại tiền từ 10 đồng trở xuống vẫn lưu hành, nhưng tất cả đều quy đổi theo tỷ giá giao hoán 10 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới. Mức tiền đổi ngay quy định theo đơn vị gia đình. Hộ gia đình độc thân, hay mỗi người trong hộ tập thể được đổi tối đa 15.000 tiền cũ quy ra 1.500 tiền mới. Mỗi hộ gia đình từ hai người trở lên, được đổi tối đa 20.000 cũ bằng 2.000 tiền mới. Các hộ kinh doanh công thương nghiệp có môn bài bậc cao, loại 1 và 2 được đổi 50.000 tiền cũ, quy ra 5.000 tiền mới. Các số tiền vượt mức quy đổi ngay, phải nộp lại và có hai cách giải quyết sau, đối với thành phần cán bộ viên chức nhà nước, công an, lực lượng võ trang và nhân dân lao động, nhà nước khuyến khích gởi vào các quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa, riêng đối với số tiền thu nhập bất chính do đầu cơ, buôn lậu, bóc lột người khác đều phải tịch thu, nhập vào tài khoản ngân sách của tỉnh, thành phố và đặc khu. 

Với quy định người dân phải giao nộp hết số tiền sở hữu trong vòng 3 – 5 ngày và chỉ được nhận lại một mức hạn định khắt khe, thì rõ ràng đây chỉ là một hành vi nhà nước ăn cướp tiền của dân bằng luật. Chưa hết, đổi tiền rồi cộng sản bắt đầu cho in tiền vô tội vạ, gọi là để phục vụ cho nhu cầu cải cách lương và giá. Mới hơn ba tháng sau ngày đổi tiền, ngân hàng nhà nước cộng sản đã tung ra lưu hành một số tiền cao gấp 1,4 lần so với trước, khiến lạm phát phi mã bùng nổ tạo ra đỉnh cao trong nghệ thuật nhà nước tước đoạt tiền và bần cùng hóa nhân dân. 

... Chỉ trong vòng bốn tuần lễ sau khi đổi tiền, giá cả của hầu hết các loại nhu yếu phẩm đã đồng loạt tăng lên gấp mười lần, lại kéo giá đồng tiền mới xuống bằng giá trị đồng tiền cũ. Trong khi đó, tình trạng thiếu thốn gia tăng nhanh đến mức nạn đói đã trở thành một nguy cơ thực sự tại các tỉnh miền bắc và miền trung, nhất là ở những vùng đang gặp thêm thiên tai bão lụt (Lê Mạnh Hùng, Việt Nam sau 1975: Đổi mới và sự sụp đổ của ý thức hệ cộng sản, 2009). 

Mới đổi tiền, giá 1kg gạo bao cấp là 0,04 đồng, trên thị trường chợ đen là 0,12 đồng, đến đầu 1988 đã tăng lên 2.500 đồng một kg, mức độ lạm phát hơn 20.000 lần, nhanh chóng dìm cuộc sống người dân xuống mức thê thảm đến tận cùng. Đổi tiền người dân có 10 đồng, bị nhà nước cướp 9 đồng, chỉ còn 1 đồng, sau đổi tiền tới lượt lạm phát như con nước lũ cuốn trôi mất hết những gì gọi là của cải, tài sản và làm hàng triệu người lâm vào cảnh tán gia bại sản. Hàng ngàn, hàng vạn chuyện đau khổ liên quan tới đồng tiền sau cuộc đổi tiền như bán con bò, nhận lại con gà, hay tiền mua một căn nhà bị ép gởi vào quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa đến khi kết toán chỉ còn đủ để gặm vài khúc bánh mì… trở thành câu chuyện thời đại cộng sản, mà các thống đốc ngân hàng "tài ba, bản lãnh của chế độ trong suốt thời kỳ đó đến gần đây, như Nguyễn Duy Gia, Lữ Minh Châu, Cao sĩ Kiêm, Đỗ Quế Lượng… đều chứng tỏ có đủ phẩm chất máu lạnh cộng sản khuyên người dân hãy coi đó là rủi ro của thời cuộc, cũng như "nhân nghĩa bà Tú Đễ" cho rằng nhà nước cũng rất muốn bù đắp thiệt thòi cho người dân, nhưng không thể, nên chúng ta (?) đành phải chấp nhận và coi đó là một giai đoạn lịch sử mà chúng ta (?) đã phải trải qua. 

http://danlambaovn.blogspot.com/2018/03/an-cuop-co-licence-ba-lan-oi-tien-o.html