Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô

Thanh Niên 
Không nhiều người biết, lúc cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ của nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô, qua đời, nỗi buồn sâu thẳm trong lòng vẫn chưa được khơi thông, thậm chí còn là nỗi buồn nhân đôi!
Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô - Ảnh 1
Tổng bí thư Trường Chinh đến chia buồn cùng gia quyến cụ Trịnh Văn Bô tại lễ tang nhà tư sản dân tộc yêu nước năm 1988
Cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô vừa trút hơi thở cuối cùng vào đêm 5.11 tại Hà Nội trong sự tiếc thương và ngưỡng mộ của hàng triệu người Việt Nam yêu Tổ quốc. Không nhiều người biết, lúc cụ nhắm mắt, nỗi buồn sâu thẳm trong lòng vẫn chưa được khơi thông, thậm chí còn là nỗi buồn nhân đôi!
"Dân tộc bớt đổ máu là chúng tôi mừng rồi..."
Vợ chồng nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô là chủ hãng tơ lụa sợi nổi tiếng Trịnh Phúc Lợi ở Hà Nội trước năm 1945. Vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô từng bí mật nhận lời với Cách mạng đón đoàn cán bộ (mà không hề biết có cả Chủ tịch Hồ Chí Minh) từ chiến khu về ở ngay tại tư gia mình, số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, ngay sau ít ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ T.Ư Đảng đã táo bạo ra quyết định về ngay giữa trung tâm Thủ đô để bám sát tình hình và lãnh đạo toàn dân giữ vững chính quyền khi còn non trẻ; đồng thời để soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945.
Có thể coi các cụ là một hình mẫu doanh nhân Việt Nam tiêu biểu, một lòng một dạ phụng sự nền độc lập, tự do của dân tộc, dám hi sinh quyền lợi bản thân mà bất chấp hiểm nguy, nếu như bị mật thám phát hiện, coi như cơ đồ của cách mạng tan trong phút chốc.
Vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô đã từng hiến 5.147 lượng vàng cho cách mạng kể từ sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và tiếp đó là trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến khi dân tộc ta giành thắng lợi. Ngoài số vàng ủng hộ chính quyền cách mạng, họ còn hiến cả ngôi nhà 48 Hàng Ngang, trị giá hàng trăm tỉ đồng theo thời giá bây giờ, để làm Nhà lưu niệm, ghi dấu tích nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập đọc tại lễ Quốc khánh 2.9.1945.
Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô - Ảnh 2
Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếc thương nhà tư sản yêu nước dân tộc Trịnh Văn Bô qua đời
Năm 1990, để phục vụ viết bài nhân 45 năm đất nước giành độc lập trên báo Thanh Niên, người viết bài này đã được cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ cho biết, trong số trên 5.000 lượng vàng mà ông bà hiến cho Cách mạng, có 1.000 lượng vàng được đặc phái viên của Bác là ông Nguyễn Lương Bằng đem đi hối lộ cho 3 viên tướng Tàu là Hà Ứng Khâm (500 lượng), Lư Hán (300 lượng), Tiêu Văn (200 lượng) chỉ để mong hòa hoãn, khỏi đụng độ giữa hai lực lượng, quân Tưởng Giới Thạch và quân ta.
Tôi hỏi: “Sao bà không biết gì về Cộng sản trước đó mà lại tin tưởng Cách mạng đến mức giao cả một lượng tài sản lớn như thế giúp đất nước?”, cụ Hoàng Thị Minh Hồ bảo tôi rằng, cũng là do cụ Hồ đã có lời với vợ chồng bà, mà ông bà lại rất tin cụ Hồ với những gì ông bà biết về nhân vật Nguyễn Ái Quốc đôi chút trước lúc cụ đến nhà. Thứ nữa, nếu dân tộc mình mà tránh được tổn thất về con người như mong muốn của cụ Hồ thì dù tài sản ông bà có mất nữa cũng không nên tính toán. "Dân tộc bớt đổ máu là chúng tôi mừng rồi...", cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ giải thích.
Không đồng ý đặt tên đường phố vì không biết… Trịnh Văn Bô là ai
Năm 1988, cụ ông Trịnh Văn Bô qua đời. Cả hai cụ đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, huân chương cao quý của Nhà nước ta, như một ghi nhận xứng đáng mà những gì hai cụ đã đóng góp cho Tổ quốc Việt Nam. Theo quy định ngày đó, những người nổi tiếng là nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân cũng như các nhà lãnh đạo tiền bối,... sau 10 năm qua đời thì sẽ được xét đặt tên cho các đường phố mà họ từng gắn bó. Tiếc rằng, chuyện này đã không ai đặt ra mà gia đình thì không muốn đi xin xỏ.
Mãi gần đây, năm 2016, theo quy định hiện hành, Hội đồng Tư vấn đặt tên đường phố thành phố Hà Nội đã đề xuất đưa tên doanh nhân Trịnh Văn Bô vào danh sách hiệp thương để đặt tên đường phố. Theo quy trình, việc hiệp thương có nhiều đơn vị tham gia nhưng phải được sự đồng thuận từ cấp xã, phường dự kiến gắn biển tên. Tiếc rằng, văn bản hiệp thương của sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã không được chính quyền phường Quan Hoa (quận Cầu Giấy) đồng thuận (mặc dù phường giáp ranh có đoạn phố chạy qua là phường Dịch Vọng đã ủng hộ). Lý do thật khôi hài và cũng thật vô cảm: Dân phường Quan Hoa không đồng ý vì khi họp dân phố, nhân dân trên địa bàn cho rằng họ không biết nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô là ai!!
Năm ngoái, cụ bà Trịnh Văn Bô khi còn tinh tường đã nghe được câu chuyện buồn trên, sau khi Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội gửi công văn trả lời gia đình .
Hành trình gian nan đòi lại nhà cho mượn
Năm 1954, sau khi Cách mạng về tiếp quản Thủ đô, hai vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô khi đó đã cho Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mượn ngôi biệt thự tại 34 Hoàng Diệu, Hà Nội có khuôn viên rộng 3.000 m2 trong 2 năm. Lý do tướng Thái muốn mượn là vì nó rất tiện cho công việc. Nhất là lúc này, đất nước vẫn còn chia cắt và cuộc chiến đấu giải phóng đất nước vẫn chưa trọn vẹn. Vị trí này rất tiện làm việc vì nó rất gần Bộ Quốc phòng. Theo như lời hứa của tướng Thái (sau này là đại tướng) thì "khi nào Bắc Nam thống nhất, quân đội sẽ trả anh chị"...
Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô - Ảnh 3
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười chia buồn với gia quyến ông Trịnh Văn Bô trong lễ tang năm 1988
Thế nhưng, có ai ngờ, phải 21 năm sau đất nước mới thống nhất. Vậy là đến năm 1975, họ mới chính thức đệ đơn xin lại nhà. Lúc này, sự thể trở nên phức tạp.
Hàng chục chữ ký của các cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ qua các thời kỳ đều ủng hộ hai cụ. Nếu tính ra thì có đến hơn chục chữ ký ủng hộ trả nhà là của các ủy viên Bộ Chính trị lão thành và đương chức qua các thời kỳ. Từ Chủ tịch nước Trường Chinh đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng,... rồi sau này, phải đến thời kì ông Đỗ Mười làm Tổng bí thư, ông Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước, ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, thì mới hóa giải được câu chuyện dài kỳ nói trên.
Trước đó, đích thân Tổng bí thư Đỗ Mười còn trực tiếp dẫn cụ bà Trịnh Văn Bô đi tìm nhà và vận động cụ nên chọn một trong số vài biệt thự ở các vị trí khác trong thành phố mà ông chỉ chỗ, đang thuộc Ban Tài chính quản trị T.Ư nắm, thay vì cứ phải nhận đúng nhà 34 Hoàng Diệu. Thế nhưng, cụ bà vẫn một mực chỉ xin lại nhà mình, với suy nghĩ giản đơn của một "nhà buôn": "Nhà đó không phải của tôi, ngộ nhỡ sau này người ta trở về đòi lại thì chúng tôi biết tính sao?".
Rồi chính ông Đỗ Mười còn thật lòng tâm sự với cụ bà rằng: "Hay là chị Bô còn chôn vàng ở biệt thự 34 Hoàng Diệu? Nếu có chuyện này thật thì tôi xin đứng ra bảo lãnh để chị đến đào rồi mang đi toàn bộ... Chị hãy tin tôi và thương tôi với!". Số là ông Đỗ Mười cũng có nghe cụ bà nói chuyện hai vợ chồng rời nhà 48 Hàng Ngang theo kháng chiến, năm 1954 trở về, đào lên dưới giếng vẫn còn nguyên 1,4 tấn bạc nén được gia nhân chôn giúp. Ông Đỗ Mười nghĩ vậy mà nói như thế.
Thế rồi, phải đến ngày 9.9.1994, vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô mới có quyết định của Thủ tướng trả nhà, dù rằng có chút tế nhị, ngôi biệt thự 34 Hoàng Diệu được ghi là "Tặng" gia đình, do ông bà Trịnh Văn Bô có công lao to lớn đối với đất nước trong Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Quyết định này được Phó thủ tướng thường trực Phan Văn Khải khi đó ký thay Thủ tướng Võ Văn Kiệt, sau nhiều năm ông Kiệt trăn trở, day dứt khôn nguôi. Cái lúc ông Kiệt phê duyệt đồng ý để Chính phủ ký quyết định "trả" nhà trên, ông bảo với nhiều người rằng việc này còn khó gấp nhiều lần ông ký cho ra đời một dự án kinh tế có giá trị vài trăm triệu đô la.
"Ngày vui vắn chẳng tày gang", tiếc thay, vì lý do nào đó, quyết định "Tặng nhà" trên đã bị tạm dừng (tháng 3.1995) đến nay vẫn chưa được thi hành. Về mặt pháp lý, nếu đã gọi là tạm dừng thi hành thì cũng có nghĩa quyết định trên vẫn không thay đổi hiệu lực, nếu nhìn nhận nó ở góc độ văn bản hành chính.
Được biết, gia đình cụ quả phụ Trịnh Văn Bô đã vào ở ngôi nhà này từ năm 2003, khi Bộ Quốc phòng đã bàn giao lại cho Ban Tài chính Quản trị T.Ư tạm giữ. Ông Phan Diễn, khi còn là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, cũng đã đến 34 Hoàng Diệu gặp cụ bà và hứa từ từ rồi Nhà nước sẽ giải quyết thủ tục. Tiếc rằng, lời hứa đó cũng đã 11 năm mà chưa đến hồi kết.
Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô - Ảnh 4
Nguyên Trưởng ban Tổ chức T.Ư Lê Đức Thọ đến viếng lễ tang nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô và viết trong sổ tang
Vậy là nỗi buồn nhân đôi khi cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ đã qua đời, dù đã ở ngôi nhà 34 Hoàng Diệu hơn chục năm nay, song sổ đỏ thì vẫn cứ chờ đợi, chờ vắt sang cả thế kỷ 21 mà vẫn chưa biết nó tắc ở chỗ nào?
Quốc Phong

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

 Dân Hà Nội đội mưa đón ông Tập Cận Bình

(VTC News) - Người dân và du học sinh Trung Quốc đội mưa đón đợi ông Tập Cận Bình trong chuyến thăm chính thức cấp nhà nước Việt Nam của lãnh đạo Trung Quốc.
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 1
Chuyên cơ chở Chủ tịch Cận Bình sẽ hạ cánh xuống sân bay Nội Bài vào sáng 12/11, bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước Việt Nam của nhà lãnh đạo Trung Quốc trong 2 ngày 12-13/11. Khâu chuẩn bị an ninh đã được hoàn tất trước khi chuyên cơ chở ông Tập hạ cánh. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 2
Lực lượng Cảnh sát cơ động trên đường phố. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 3
Những con đường bắt đầu được phong tỏa, đảm bảo công tác an ninh. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 4
Dù theo lịch trình, 11h ông Tập Cận Bình mới tới Hà Nội, nhưng từ sớm, khá đông người dân đã đứng chờ bên đường. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 5
Trời Hà Nội bắt đầu mưa, người dân che ô đón đợi nhà lãnh đạo Trung Quốc trên đường Đỗ Đức Dục, gần khách sạn được cho là ông Tập sẽ ở lại trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, khách sạn Marriott. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 6
 Lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam có mặt từ rất sớm. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 7
Người đứng đón ông Tập Cận Bình mang theo quốc kì của cả hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 8
Những lá quốc kì hai dân tộc đan xen, thể hiện tình đoàn kết - hữu nghị giữa hai nước. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 9
Người dân Việt Nam, du học sinh Trung Quốc cùng có mặt rất sớm chào đón ông Tập trong cơn mưa dần nặng hạt. Ảnh: Phạm Chiểu
Anh: Dan Ha Noi doi mua don ong Tap Can Binh hinh anh 10
Cơn mưa bắt đầu nặng hạt, người dân vẫn đứng bên đường chờ ông Tập. 
Lễ đón chính thức Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ diễn ra tại Phủ Chủ tịch vào chiều 12/11. Sau lễ đón, ông Tập sẽ có cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và tham gia vào lễ ký kết văn kiện.
Sáng mai 13/11, nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ tới đặt vòng hoa và viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó cùng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng di dạo, thăm nơi Bác Hồ mất và dự tiệc trà trong khu nhà sàn Bác Hồ.
Chiều cùng ngày, ông sẽ lên chuyên cơ rời Hà Nội, kết thúc công du cấp nhà nước đầu tiên tới Việt Nam kể từ sau Đại hội XIX của Đảng cộng sản Trung Quốc, sự kiện mà ông được tái bầu làm Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Trước đó, trong 2 ngày 10-11/11, Chủ tịch Trung Quốc đã tới Đà Nẵng và tham gia vào các hoạt động tại Tuần lễ cấp cao APEC 2017. Tại đây, ông có bài phát biểu trước các doanh nhân tại Hội nghị thượng đỉnh Lãnh đạo doanh nghiệp chiều 10/11.
Video: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại tiệc chiêu đãi APEC
PHẠM CHIỂU

Dân bức xúc vì quà lũ lụt toàn vào nhà cán bộ

Dân bức xúc vì quà lũ lụt toàn vào nhà cán bộ

Dân trí Trong đợt cứu trợ lũ lụt vừa qua, nhiều gia đình nghèo, cụ già neo đơn, tàn tật, ốm đau tại xã Thiệu Dương, TP Thanh Hóa không được nhận quà, trong khi hàng chục suất quà lại rơi vào các gia đình cán bộ thôn khiến người dân vô cùng bức xúc, phẫn nộ.

Video tạm dừng
Dân bức xúc vì nhiều cán bộ được nhận quà lũ lụt
Theo phản ánh của hàng chục hộ dân thôn 4, xã Thiệu Dương, việc cán bộ thôn phân bổ quà lũ lụt từ các đoàn từ thiện không công bằng. Mới đây nhất, có đoàn của một ngôi chùa trong Bình Dương đến xã này để trao 170 suất quà, mỗi suất trị giá 1 triệu đồng, trong đó có 1 yến gạo, chăn, quần áo ấm, bát, 300.000 đồng tiền mặt và 1 đoàn tăng ni phật tử của một ngôi chùa trên địa bàn với 100 phần quà, mỗi phần quà trị giá 500.000 đồng.
Cụ Cúc (ảnh trên), cụ Lược (ảnh dưới) ngậm ngùi cho biết nhà chỉ nhận được mấy gói mì tôm sau lũ lụt
Cụ Cúc (ảnh trên), cụ Lược (ảnh dưới) ngậm ngùi cho biết nhà chỉ nhận được mấy gói mì tôm sau lũ lụt
Người đứng đầu trong đoàn khi đến đã thông báo số phần quà trên sẽ dành cho những gia đình người già, cô đơn, bệnh tật, ốm đau thế nhưng theo người dân ở đây thì rất nhiều người già, bệnh tật, ốm đau lại không có trong danh sách nhận quà. Người dân phản ánh hàng chục suất quà được bố trí cho gia đình cán bộ thôn như: Thôn trưởng, Bí thư thôn, cán bộ của Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, đều là những hộ có điều kiện khá giả.
Người dân ở đây cũng liệt kê ra một loạt các hoàn cảnh đặc biệt như: Ông Dương Văn Tiệu (80 tuổi), dù ông Tiệu mắc đủ thứ bệnh, cuộc sống nghèo khổ. Sau lũ lụt, nhà ông Tiệu lại càng khó khăn hơn thế nhưng ông Tiệu cho đến nay cũng chỉ nhận được 5 gói mì tôm. Nhà ông Dương Văn Nguyên (93 tuổi) đang nuôi vợ là Dương Thị An (93 tuổi) bị liệt; nhà bà Dương Thị Cúc (80 tuổi), bà Hà Thị Sánh (78 tuổi), hoàn cảnh khó khăn thế nhưng cũng chỉ được nhận ít mì tôm từ những đợt cứu trợ trước đó.
Rất nhiều người dân bức xúc kéo ra thôn nêu ý kiến
Rất nhiều người dân bức xúc kéo ra thôn nêu ý kiến
“Ông Yêng là Bí thư thôn, ông Thanh là Trưởng thôn, cả hai đều trong danh sách nhận quà. Ngoài ra, còn cán bộ phụ nữ, cán bộ hội nông dân. Gần 300 suất quà mà người nghèo chỉ có 1-2% thôi còn nhà 2, 3, 4 tầng đến nhận hết. Tôi không nói để đòi cho gia đình tôi, mà tôi nói để đòi quyền lợi cho bà con. Nhiều gia đình cụ già ốm đau, bệnh hiểm nghèo, nằm liệt giường không được gì cả. Còn họ vừa khỏe mạnh, vừa làm cán bộ, có điều kiện mà lại lợi dụng thì không thể chấp nhận được” – ông Nguyễn Văn Lan, thôn 4 nói.
Ông Dương Đình Tạo, 72 tuổi (thôn 4, Thiệu Dương) hiện đang nuôi vợ bệnh thần kinh. Ông cho biết, sau đợt lũ lụt vừa qua, lúa gạo, gà lợn trôi hết, chẳng còn gì. Cho đến thời điểm này, ông nhận được 1 yến gạo, 1 thùng mì tôm và 1 lần 6 gói mì tôm.
“Bình thường thì ai làm người nấy ăn, chúng tôi có đói nghèo cũng không trông chờ gì vào nhà nước cả. Thế nhưng, không may thiên tai, lũ lụt nên người dân mới khổ vậy. Thế nhưng, họ không công bằng gì cả, kể ra thì quá đáng lắm. Có 1 lần thôn phát cho nhà tôi 5 gói mì tôm rồi sau đó lại gọi gia đình ra lấy thêm 1 gói nữa. Rất nhiều nhà vì tức mà không ra lấy nữa” – ông Tạo ngậm ngùi.
Trao đối về vấn đề trên, ông Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư, Chủ tịch UBND xã Thiệu Dương, cho biết đã nhận được thông tin phản ánh của người dân và xác nhận có việc quà được trao cho người thân của lãnh đạo thôn.
“Đoàn này họ không làm việc trực tiếp với lãnh đạo xã mà thông qua mặt trận, sau khi có thông tin tôi đã có kiểm tra và đúng có tên vợ của bí thư thôn và trưởng thôn trong danh sách nhận quà” – ông Tuấn thông tin.
Nguyễn Thùy

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

Từ Quốc Hận 30 Tháng Tư Tới Sứ Mạng Chân Chính Của Người Việt Tử Tế

Hiện tượng và hiệu ứng “Ngày 30 Tháng Tư” Năm 1975 tới nay, sau 42 năm ròng rã, vẫn bao hàm nhiều ngộ nhận cần sửa sai và định hướng lại.
I. Những Ngộ Nhận Căn Bản Về Hiện tượng “Ngày 30 Tháng Tư”:
Trước hết, ngày 30 Tháng Tư năm 1975 không phải là ngày vui của toàn dân Việt, dù ông Võ Văn Kiệt có nhận định “…ngày 30 tháng 4, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn”; dù trong buổi lễ tiếp thu Sài Gòn, Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản, đã phát biểu một cách bâng quơ trước mặt Tổng Thống chớp nhoáng Dương Văn Minh: “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này không có ai là kẻ thắng, ai là kẻ bại. Toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng…”; dù cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên gặp bại tướng Nguyễn Hữu Có cũng đã cầm tay mà nói: “Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay ta đã là hai anh em”.[1] 
VTT 56 APR 16 Fall of Saigon 2
1. Lịch Sử Đã Cho Thấy Rõ Thực Trạng “Ngày 30 Tháng Tư”: Toàn Quân Và Toàn Dân Việt Nam Không Hề Chiến Thắng
  • Chỉ vài ngày, vài tháng sau “ngày giải phóng” [sic], đã phát động một hiện tượng “đổi đời” khốn khổ, khốn nạn nhất cho “toàn quân và toàn dân” miền Nam trong dòng lịch sử hiện đại. “Anh Em”, “toàn quân và toàn dân Việt Nam” chỉ là những xảo ngôn, dối trá, “nói-dối-như-vẹm”.[2]
Đương nhiên, đối với kẻ bên kia chiến tuyến, khi là thành phần thua trận, kẻ thắng chỉ cần gọi họ là “ngụy”, là tội phạm lý tưởng, họ sẽ bị vơ vét của cải, cướp đoạt nhà cửa, đánh tư sản, rồi từng đợt, từng đợt đi “cải tạo”, nghĩa là “được” cải huấn tù đày, “được” tra tấn, hành hạ chục năm này sang chục năm khác, liên tiếp, theo khuôn khổ Gulag Cộng Sản Quốc Tế.[3]  CSVN tước đoạt nhân phẩm, tài sản và sức sống của người dân thất thế một cách tàn nhẫn, dã man.  Họ độc ác, khốn nạn hơn lũ mật thám thực dân Pháp đối với dân bản xứ, thời thuộc địa.  Chỉ vì CSVN mặc cảm bất tài và tham lam đã tìm mọi cách củng cố vị thế độc đảng, độc tôn, để ngoài họ ra không còn ai được quyền quản trị đất nước, dù sau họ là phá sản, là tự hủy.
  • Kể cả cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam thành lập từ năm 1960, dưới hình thức một “Lực lượng Việt Cộng Miền Nam” trá hình cũng không hề “chiến thắng”.  Họ bị “thất sủng”, các lãnh tụ của “Mặt Trận” cũng bị thủ tiêu, hoặc đi “cải tạo” như kẻ thù phản động.  Đồng chí hôm trước, kẻ thù hôm sau.
  • Kể cả “đồng bào” của người cộng sản cũng không hề “chiến thắng”. Điển hình là đồng báo đói khổ Miền Bắc từ 1954 tới 1975, dù được tuyên truyền tung hô là “dân làm chủ”, bất cứ lúc nào “họ” cũng sống trên đe dưới búa và dưới lưỡi liềm sát cổ.  Kể cả gần 90 triệu người dân hôm nay cũng không hề “chiến thắng”.  Cũng như ông cha họ trước kia, người dân Việt ngày nay vẫn là thứ dân oan, tiếp tục bị cướp bóc, thổ phỉ, sách nhiễu, hành hạ bởi lũ đảng phiệt đội lốt mafia/tài phiệt đỏ, ác với dân, hèn với giặc-lạ. Nhất là khi CSVN hạ mình để Hán Cộng tùy tiện lấn đất, chiếm đảo, cắt rừng; tùy tiện phóng uế gây ô nhiễm Tây Nguyên, sông ngòi; tùy tiện phá hoại sinh lực dân nghèo bằng đủ loại thực phẩn chế biến độc hại, rẻ tiền.
  • Kể cả giới trí thức cộng sản cũng không hề “chiến thắng”. Trước kia, tự coi là “hèn” nên không được trọng dụng bằng “cục phân”[sic] bởi đám lãnh tụ CSVN, lũ lượt ăn phải đũa Mao.[4] Ngày nay kẻ sĩ dù “đổi đời” vẫn mất giá đến độ “phi thường”; bất cứ lúc nào cũng có thể bị ghép đủ thứ tội, từ phản động, phản đảng, tới phản quốc.  Nhà cầm quyền Hà Nội thừa thắng xông lên đem công an và xã hội đen thẳng tay hành hạ, phá phách, đổ phân người vào nơi trú ngụ các “đồng chí” ly khai như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Khoa Điềm; nơi trú ngụ các các nhà dân chủ, các nhà tu hành “phản động” vì không chịu đổi đời thành “cha-quốc-doanh”, thành “sư-quốc-doanh”.  Gần đây, họ cũng “xử lý” như vậy đối với thành phần bất đồng chính kiến, như gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy.
VTT ZZJAN13. 19 BenThangCuoc_Cover
2. Đích Thực Ngày 30 Tháng Tư” Năm 1975 Là “Ngày-Quốc-Hận” Cho Toàn Dân Việt; Còn CSVN Là Kẻ “Thua Cuộc”:
Thật vậy, ngày 30 Tháng Tư năm 1975 không xứng đáng được coi là một thành thích vẻ vang cho CSVN để họ tự xét là “Bên Thắng Cuộc”.  Trái lại, ngày đó chỉ đáng nhớ là ngày chiếm đoạt Sài Gòn của “Bên Thắng Trận”, nhờ vào súng đạn và quân nhu Trung Cộng cho vay với lãi cắt cổ, trong khi bên thua trận là VNCH lại bị đổng minh Hoa Kỳ trong chiến lược “be bờ”[5] bỏ rơi cái một vì quyền lợi quốc gia họ, lúc đó đổi hướng đầu cơ vào thị trường sản xuất rẻ, “made in China”.  
Nay sau 40 năm nhì nhằng lỗ hơn lời, Hoa Kỳ đã thấy “hố to” và đương tìm đường tháo lui.  Trước sau vẫn là một: quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ trên hết.  Đó là mệnh lệnh bất di bất dịch của con buôn và người kinh doanh.  Chỉ khác một điều, Hoa Kỳ là thương gia khá chân chính, vì còn biết sợ luật pháp và biết kết sinh với luân lý chân chính [corporate integrity] trong khi Tàu Cộng [khác với Tàu Singapore, Tàu Hồng Kông] lại là thứ “gian thương made in China” thứ tả-pín-lù, thi đua văng mạng, chết sống mặc bay.
Vậy, thành ngữ “Thắng Cuộc” của CSVN ngày Sài Gòn thất thủ không những ngạo mạn, tự mãn, mà còn vang vọng một hậu ý man khai, lừa đảo, và tự lừa đảo, theo đúng truyền thống hoả mù cộng sản quốc tế. 
Có lẽ nhà báo Huy Đức cũng thấy rõ như vậy, nên dù có khai sinh cuốn sách song tập trong năm 2012 & 2013 với cái tên tiền chế là Bên Thắng Cuộc,[6]  ông đã vội vàng cảnh cáo ngay trong lời giới thiệu sách, như để tránh một sự lầm lẫn lịch sử đáng tiếc: 
“Cuốn sách bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để giành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.”
Còn nhà văn cộng sản ly khai Dương Thu Hương, nổi tiếng với những tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Khải Hoàn Môn, thì trước đây đã phân minh rõ ráng:
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc… Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”[7]
VTT 55 apr 14 paris-Grande Journée de Deuil. Ngày Đại Tang. Honneur à nos Soldats morts pour la Liberté
Thật ra CSVN đã “thua cuộc” khi bước vào Sài Gòn, vì kể từ lúc đó, họ không còn cơ hội lừa dân mãi; không còn lý do đòi hỏi ở dân sự hy sinh trường kỳ như trước.  Họ đã tự lột mặt nạ để trở thành những tên hung thần man rợ, ác với dân, hèn với giặc khi bó tay và cúi đầu đành mất ranh giới, mất biển, mất rừng, mất đảo cho Tàu Cộng để trả nợ quân sự chu kỳ, và nhất là để giữ lấy “Đảng-Ta”. 
CSVN đã “thua cuộc” vì bất lực quản trị đất nước khi luẩn quẩn ôm ấp phe đảng chia năm xẻ bẩy, rình rập thanh toán lẫn nhau; khi thao túng tham nhũng quốc doanh, chia trác gia đình trị tới độ tắc nghẹn.  Trong suốt 41 năm tự hào “thống nhất & độc lập” giả tạo, CSVN đã công khai tự duy bất tài khai mở sáng tạo, với những kế hoạch không tưởng, man khai, bán đứng thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa; in giấy bạc giả, thu lấy “dollars”; với đống văn bằng hàng mã [dùng để đốt hương hoả] và những bộ óc teo mòn, bịt bùng, rỗng tuếch.  CSVN còn bất lực ngay trong cuộc sống hằng ngày gìn giữ văn hoá đạo người; bất lực duy trì luân lý, phẩm giá, hạnh phúc và danh dự dân tộc, khi nhà cầm quyền Hà Nội và bè lũ cán cùn chỉ đủ kế “xoá đói giảm nghèo” bằng cách bán lao động, bán con thành dâu nước ngoài; xuất cảng đồ “đểu” hay xuất cảnh cán bộ chuyên viên ăn cắp vặt, để cả Đông Nam Á phải treo bảng “Cấm Người Việt” lai vãng.
2015 FEB 13 STOP CSVN ĂN CẮP.300
Như thế ngày 30 Tháng Tư Năm 1975 Không Phải Là Ngày Vui Lịch Sử Việt Nam, Mà Đích Thực Là “Ngày-Quốc-Hận” Cho Toàn Dân Việt vậy.
II. Những Hiệu Ứng Tiếp Nối Của “Ngày 30 Tháng Tư”
Sau ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư, cả nước Việt Nam đã trở thành một nhà tù lớn với rất nhiều nhà tù nhỏ, kể cả những nhà tù cá nhân thi hành tại chỗ, dưới mắt “Đảng-Ta” hạch sách, làm tiền và hành tội.  Dưới mãnh lực toàn trị của gần 4 triệu cán bộ và lãnh chúa CSVN, người dân có ba cách phản ứng:
  • tỵ nạn nước ngoài với hy vọng khôi phục danh dự và quyền làm người;
  • tỵ nạn trong nước với thế cam phận, vô cảm;
  • tranh đấu trong nước với hy vọng bật lửa đại nghĩa.
1. Liên hệ trực tiếp với thời điểm kết thúc tiền đồn trận tuyến ý thức hệ, từng đợt từng đợt người Việt đã “bỏ phiếu chống cộng” bằng chân, bằng thuyền, trong cảnh phiêu lưu tỵ nạn chưa từng thấy trước đây: cho tới nay, gần 4 triệu người Việt đã bỏ nước thoát cộng, bỏ lại tất cả để thoát hiểm.
2014 AUG 31 HAND OF HOPE MONUMENT 3002014 aug 7 hand of hope
“Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope” [đúc bằng ciment cốt sắt/béton armé, cao 9 ft, móng sâu 9 ft] do LS Lưu Nguyễn Đạt [Hoạ sĩ, điêu khắc gia, nguyên Tổng Thư Ký hội Hoạ Sĩ Trẻ VN/SàiGòn/ trước 1975] tạo dựng và tặng Trại TQLC Camp Pendleton, San Clemente, California vào đúng Ngày Độc Lập July 4, 1975.   Tiêu biểu cho “Hy Vọng” đứng dậy & khởi phát của [hậu duệ] Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ và trên Thế Giới Tự Do. 
Đối với người viết là tác giả điêu khắc “Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope[8] đúc bê-tông cốt sắt thực hiện và tặng trại Thủy Quân Lục Chiến Camp Pendleton, San Clemente, California vào đúng Ngày Độc Lập July 4, 1975, thì cuộc ra đi của người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản có rất nhiều ý nghĩa chính:
  • Tỏ rõ lập trường của những người Việt tự trọng, khao khát tự do và tôn trọng giá trị nhân phẩm, nên không thể sống chung với con người cộng sản phi nhân, phi nghĩa.
  • Nuôi dưỡng “hy vọng” sắt đá khôi phục danh dự và quyền làm người. Đó cũng là cách tạo dựng lại một không gian an toàn, vượt tiến cho hậu duệ, như biểu tượng “Bàn Tay Hy Vọng” dựng trên xứ người với những đứa trẻ tụ hợp “đứng thẳng” và sẵn sàng “bay ra khỏi bàn tay” cưu mang. Chỉ bằng đường lối thẳng thắn, vươn cao và khởi tiến, người Việt Tỵ Nạn mới chắp nối cho họ, cho con em họ cái thế đứng vững vàng làm người tử tế, mạch lạc để trở thành những công dân tiến bộ xứng đáng với cuộc sống mới mà người tỵ nạn đã chọn với giá rất cao, đôi khi cần phải hy sinh tột đỉnh.
  • Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản nhập cảnh với diện quốc tế công pháp “tỵ nạn chính trị”, khác hẳn với diện “di dân kinh tế”.  Căn cước người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản thuộc quy chế chính trị, nên khi họ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Nhật, v.v., họ có quốc tịch nơi cư ngụ và chỉ còn là “sắc dân/công dân gốc Việt”.  Vậy đối với những “công dân gốc Việt”, ngoài trường hợp có song tịch với Việt Nam, không thể coi họ là “Việt Kiều”, vì họ đã bỏ quốc tịch Việt, trên phương diện luật di trú và quốc tế công pháp.  Quốc tịch mới và “gốc Việt” phải được thi hành và tôn trọng một cách đứng đắn, phân minh, phù hợp với pháp luật và lẽ phải.
  • Quốc tịch mới là những “Bàn Tay Hy Vọng” đặt tại xứ người.  Là những “Ngày Hành Trình Đến Tự Do” nơi bến hứa [La Terre Promise- The Promised Land].  Người Việt Tỵ Nạn thoát khỏi địa ngục cộng sản, phần lớn là để bảo toàn tương lai cho hậu duệ họ.  Nhưng các hiện tượng sáng sủa, hy vọng và vui mừng đó phải “tới sau” mùa tang tóc quốc thể. Phải tới sau “Ngày Quốc Hận” và cũng không thể xoá bỏ “Dấu Ấn” lịch sử đó.  Những hiện tượng “Hy Vọng” và “Tự Do” có thể tưởng niệm hay ăn mừng bất cứ ngày, tháng, năm nào “KHÁC”, chứ không thể lấn át, thay thế Ngày Quốc Hận “30 Tháng Tư” được.
2013 NOV 1 CROP 300 boatpeople_005
  • Thật vậy, nếu tung tăng cờ quạt, kèn trống, xăm banh tiệc tùng “Ngày Hành Trình Đến Tự Do” vào đúng “Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư”, chẳng khác nào cố tình cử hành hôn lễ chạy-tang cho vài người có hạnh phúc tới bến, trong khi chưa chôn xong ông bà, bố mẹ còn mục nát trên mảnh đất tổ tiên. Tưởng nghĩ con người tử tế, chân chính cũng nên tôn trọng thứ tự ưu tiên gia đạo, không nên “mua vui” đúng ngày “tang lễ” thờ người, nhất là nếu cuộc vui chạy tang, chỉ với “mục đích thiển cận” thu lượm được thứ tự do vô trách nhiệm — vị kỷ, độc diễn, phóng túng; coi thường luật pháp, công lý; coi rẻ nhân phẩm, nhân quyền mọi người [ngoài cái tôi], thì quả thật cuộc “hành trình đó” chỉ đưa tới bãi tự do tự s[x]ướng, tự hủy.  Vì tự do phải có điều kiện chính đáng, trung thực, trọng pháp, trọng nhân, tương ứng và tương xứng.  Thứ tự do phá phách, nhục mạ, vu khống là những hành vi, những tuyên ngôn không được luật pháp và hiến pháp bảo vệ [unprotected speech/unprotected freedom];[9] và cũng không được đạo người bái phục.
2. Ngoài trừ 4 triệu cán bộ cộng sản, tất cả người Việt còn kẹt lại trong nước không hề là “cộng sản”; trái lại, họ cũng chỉ là những người “tỵ nạn cộng sản” trong nước, lâu năm bị hành hạ, uốn nắn, bịt mồm, bịt tai, chọc mắt, nhồi sọ, nên đa số cam phận, đến độ vô cảm, vui buồn lẫn lộn.  Với cái đà ù lì này, đất nước Việt có thể còn tự ru ngủ vài thế hệ lặng nín nữa. Nếu giới trẻ đôi lúc thức dậy, chẳng qua cũng chỉ để hấp thụ những thói hư tật xấu, những hào quang ngoại nhập, ăn chơi phè phỡn, ồn ào; hay lại kéo bè kết đảng thi đua chui luồn lối tắt, học lỏm, mánh mung. Nghề chính trong nước là xây vội, tháo vội, bán vội; môi giới ảo và hùa theo ức đoán, tin đồn nhảm; vá víu tín ngưỡng với mê hoặc bùa ngải và tướng số.  Đôi khi mồ mả, nơi tôn thờ cúng bái cũng thao túng trang hoàng vương giả như để thi thố phồn thịnh giả tạo hay dùng mánh khoé làm hoa mắt thế gian.
Cái chênh lệch giữa người giầu và kẻ nghèo thật khủng khiếp, khó mà nối ghép, hoà nhập.  Bên cạnh hơn 80 triệu dân nghèo mạt kiếp làm bạn với rác rưới, phóng uế, ô nhiễm thì nhô lên những khu tân lập biệt thự khang trang, dinh cơ lộng lẫy mà chỉ kẻ đại gia ăn trùm và các ngài cán bộ tham nhũng bự mới được bước chân tới để chia phần, đổi chác, rửa tiền.  Thành phần tư bản đỏ Tàu và Việt còn chuyển động hạ cánh an toàn khắp nơi trên thế giới tự do.  Tại Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, nhất là tại các thị trấn cao sang giáp Biển Thái Bình Dương [nam California & Vancouver] với những địa ốc, dinh thự trên 2 hay 3 triệu Mỹ Kim đều được cán bộ cộng sản và giới đại gia liến kết mua đứt và trả “cash”/tiền mặt để cho con em và nhân tình họ trú ngụ, đợi ngày “đoàn tụ” gia đình, sẵn sàng có thông hành cả xanh, cả đỏ. Điển hình, con gái Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước là dâu “quốc gia”, này là công dân Mỹ song tịch chính hiệu.
Dù có Luật di trú Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Pháp v.v. và biết bao quy luật quốc gia và quốc tế cấm rửa tiền [Financial Crimes Enforcement Network; Countering Financial of Terrorism; Money Laundering Act; USA Patriot Act; Financial Action Task Force, Office of Foreign Assets Control, etc] vẫn có rất nhiều kẽ hở hay biệt lệ để con ông cháu cha mafia và tư bản Đỏ lọt vào “địa đàng trần gian” Tân Thế Giới, mà chúng nhai nhải chê bai với cả triệu cái lưỡi không xương đảng phiệt.
3. Giữa đám đông vô cảm, vô định và thường xuyên đối mặt với cả một hệ thống cầm quyền độc tài mật vụ, cảnh sát trị là những phần tử bất đồng chính kiến, miệt mài tranh đấu lẻ loi cho chính nghĩa dân chủ tự do, cho nhân phẩm, nhân quyền.  Với khoảng 527 cá nhân và hiệp hội trong nước, họ bắt đầu công khai tỏ bày bất đồng chính kiến với chế độ CSVN, nhất là về mặt bảo vệ nhân quyền, bảo vệ tự do tôn giáo.  Họ là những bloggers trong nước, những nhà báo độc lập, những tổ chức xã hội dân sự non nớt, mà điều lệ tổ chức và phương tiện thu thập vốn liếng và uy tín xã hôi [social capital] vẫn còn vấp váp sơ khai.  Họ cũng là những nhà tu chân chính, thu thập nhân từ nhân ái, mong bảo vệ tín ngưỡng họ luôn luôn bị tước đoạt, triệt hạ, sách nhiễu. Nhưng ít ra họ là những nguồn hy vọng trong vô vọng; là những tia lửa khai phóng đại nghĩa, đại cuộc khi lay chuyển được lòng dân, thu hút được lương tâm và lương tri nhân loại, trên thế giới tự do và trong không gian người Việt tự do từng được cưu mang.  Có gì quá đáng khi những người may mắn tới trước giúp người tới sau, trong cuộc hành trình luân phiên tìm thấy tự do chân chính, sự thật và công lý.
Phải nghiêm chỉnh thấy rằng, ngày hôm nay, việc tranh đấu của những nhà bất đồng chính kiến đương đầu với thế lực CSVN là hiện trạng thách đố, là hy sinh tù đày và đổ máu trước tiên của người trong nước. Định mệnh và trách nhiệm khai phóng thoát cộng hay dựng nước theo hướng dân chủ tự do cũng nằm trong tay người trong nước. Vuông tròn, trong sáng, cao siêu hay “tương đối” khả chấp, khả thi cũng theo tầm tay và sở trường của chính họ.  Nước Việt Nam ngày nay và sau này là của người Việt sinh sống, thờ phụng, tái tạo tương lai theo khuôn khổ, nhu cầu và triển vọng của người trong nước. 
Họ chỉ cần phối kiểm với những ý niệm tốt, những tri thức khả chấp, khả dụng đối với họ. Họ sẽ ngưỡng mộ, học hỏi từ những nhân sinh quan phù hợp, những mẫu người chân chính làm gương soi.  Nhưng đời sống, môi sinh, thân thể và giá trị con người họ là do họ quyết định.  Họ không bắt buộc phải nghe lệnh chỉ giáo hay cóp nhặt y chang từ bất cứ ai ngoài cuộc.  Họ là người cuối cùng xây dựng và bảo trì vận mệnh đúng mức của chính họ, khi họ trở thành những quản trị viên đích thực, sáng suốt, công minh của đất nước mà họ tranh đấu, vun xới cho tới giờ. Tất cả chung quanh chỉ là những mối liên hệ yểm trợ, giúp đỡ, hợp tác, kết sinh.  Nhưng tác nhân chính yếu, có trách nhiệm và quyền thế cột trụ vẫn chỉ là người sống còn trong nước.  Thắng cuộc đại nghĩa hay thất bại nội tại cũng do chính họ đảm nhận và chịu đựng.  Ngay bây giờ hay một vài thế hệ nữa.
2013 APR 12 HUMAN RIGHTS 1
III. Sứ Mạng Chân Chính Của Người Việt Tử Tế
1. Thế nào là Người Việt Tử Tế? 
Tử Tế có vài nghĩa chính: [a] có những gì phải có để được coi trọng; [b] hành động tinh-mật, rành rõi, cẩn mẫn, kỹ càng [Đào Duy Anh, Hán-Việt Từ-Điển]; [c] có lòng tốt trong cách đối xử đứng đắn, nhân đạo với nhau.
Vậy, ngay hai chữ “tử tế” tự nó có thể quy tụ những thành tố kết lực để định nghĩa Người Việt Tử Tế [NVTT]:
  • Tự trọng, Tự Quyết, Tự Chủ về tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế;
  • Ưu đãi Dân Chủ Tự Do Chân Chính;
  • Trọng Pháp, Trọng Nhân, Trọng Sinh một cách mạch lạc, chân chính; 
  • Êm thuận, hài hoà, sáng suốt, khiêm tốn, quân bình, không thái quá.
Chúng ta cần khẳng định ngay, Người Việt Tử Tế không thể là người cộng sản, vì căn bản của người cộng sản đi ngược lại với tất cả các kết tố của NVTT. Hơn nữa cũng không thể chờ mong người cộng sản “biến hoá” thành NVTT, ngoại trừ trường hợp họ thực sự, thực tâm thoái đảng và bỏ hẳn lối sống và tư duy cộng sản.
Nhưng đồng thời, không phải bất cứ ai cứ “chống cộng” đương nhiên là NVTT. Giả thử người chống CSVN lại [a] ngoi theo chủ nghĩa phát-xít, độc tài quân phiệt hay [b] hùa theo đường lối khủng bố của bá đạo Cực-Hồi [ISIS/Islamic State of Iraq and Syria], hay [c] vẫn quen mui áp dụng thủ đoạn tố khổ, chụp mũ, vu khống của “địch” CSVN, thì rõ rệt, chống cộng như thế cũng chả hơn gì, vì vẫn đắm đuối trong vòng luẩn quẩn của tội ác triệt hạ đời sống và phẩm giá con người. 
Trước đây, người Việt Quốc Gia đã có công mở đường tới ý niệm dân chủ tự do, trọng pháp, trọng nhân.  Nhưng trong một giai đoạn quá ngắn và nhiều trở ngại binh đao bất ổn, người Quốc Gia qua hai nền Cộng Hoà đã không kịp vẹn toàn sứ mạng giao phó. Danh hiệu và chức năng “Quốc Gia” chỉ là hình ảnh ngón tay chỉ dẫn tới “Dân Chủ Tự Do Chân Chính Nhân Bản”, nếu ngón tay đó thực sự là một “mẫu mực” thẳng thắn, nghiêm chỉnh, nhân từ, chính đáng, đích thực dẫn đường tới “con người tử tế, chân chính”. 
Nên ngón tay chưa phải là cái “đích tìm kiếm” hay ngưng lại tại đó.  Bản Chất Người Tử Tế Chân Chính của ý niệm “Quốc Gia/không Cộng Sản” mới là cứu cánh của cuộc hành trình tìm lẽ sống, lẽ phải. 
Vậy, người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn Cộng Sản tại thế giới tự do tân tiến đã thực hiện được những gì, sau 42 năm sinh sống thoải mái với đầy đủ phương tiện an cư lập nghiệp, an sinh xã hội, với đầy đủ thời gian [gấp 2 lần nền Cộng Hoà 1 và 2] để hội nhập nền dân chủ chân chính trọng pháp, trọng nhân? 
Người viết vẫn tin rằng, sau 42 năm hấp thụ nền nếp dân chủ tự do nhân bản nơi tá túc; sau 42 năm học hỏi kiến thức cởi mở, đa nguyên, đa dạng; sau 42 năm kinh nghiệm làm người Việt tự do, tử tế, tự tin, biết rõ quyền hành và trách nhiệm của mình, đa số công dân Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới đều trở thành cởi mở, thông minh và can trường hơn so với quá khứ đen tối trước đây.
Nhưng trong giai đoạn “chuyển tiếp” khá dài này, vẫn còn sót một thiểu số người Quốc Gia cực đoan, độc diễn với những thành tích không mấy rõ rệt, dẫm chân tại chỗ, tự mãn, không cần mở mang trí tuệ, không cần bổ túc nhân cách; cùng không cần trau dồi kiến thức về mặt pháp lý và công lý nhân quyền, nên dễ trở thành độc đoán, độc tài, vô hình trung đã đi ngược lại với sứ mạng và đường lối Dân Chủ Tự Do Nhân Bản Chân Chính mà Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản thực sự muốn tìm kiếm và hoàn tất.
VTT 56 APR 19 Human rights Abuse
2. Người Việt Tử Tế Là Mẫu Số Chung
Trong 42 năm qua trên mặt công luận, qua báo sách, truyền thông trên mạng, người Việt chúng ta đã bỏ quá nhiều công sức “Chống Cộng”.  Đó là điều cần làm để bác bỏ, khai trừ một căn bệnh văn hoá ý thức hệ điên cuồng, ác liệt, phá hoại nhân phẩm và đời sống con người hơn 80 năm qua tại Việt Nam. Nhưng nỗ lực kêu đau, gào thét, mắng chửi này chưa đủ, vì khiếm khuyết đường lối “Vượt Cộng” và “Chữa Cộng”.
Nếu chỉ chẩn bệnh và hô hào thật to đó là bệnh “Cộng Sản” mà không tìm cách giúp con bệnh “thoát bệnh”, giúp đương sự khoẻ mạnh lại thì vô hình trung người “chống cộng suông” chưa phải là một “lương y” hoàn tất trách nhiệm cứu người bị CSVN ám hại.  Một lương y, một y sĩ giỏi phải cấp tốc cho đơn thuốc điều trị bệnh và chỉ dẫn những biện pháp cần thiết triệt bệnh và ngừa bệnh.
Nếu chúng ta muốn xóa đói giảm nghèo ngay trong gia đình chúng ta, thì:
  • Hãy bớt thì giờ kêu gào, than thân trách phận hẩm hiu, đói nghèo;
  • mà lập tức học hỏi; tìm hiểu thế nào là sung túc, là an khang, thịnh vượng; là hãnh diện gia đình, là hạnh phúc con người biết sống ra sống, biết ăn, biết mặc;
  • và từ đó tìm cách giải đáp nhu cầu, chu toàn cấp bách giải pháp sinh sống căn bản/tạo nghiệp/đầu tư nhân sự/phát triển toàn diện /trao đổi/tích lũy cho tương lai v.v.
Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại, những vị cựu tù nhân chính trị/tù nhân lương tâm, những thành phần tranh đấu, bất đồng chính kiến trong nước đều có thể đảm nhận nghiệp vụ “lương y”, [a] một mặt xác định rõ thế nào là căn bệnh “cộng sản”, nhưng lập tức [b] phải điều nghiên, thử thách, phổ biến thuốc men và phương pháp trị bệnh, ngừa “bệnh cộng sản”.
Người Việt Tử Tế tại Hải ngoại và trong nước là hiện sinh của giới “lương y” chữa bệnh cộng sản, khi đối xử với mình và tha nhân, khi quản trị việc công cũng như tư nghiệp với những nhận định và tiêu chuẩn như sau:
  • Tự trọng, Tự Quyết, Tự Chủ về tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế;
  • Ưu đãi Dân Chủ Tự Do Chân Chính;
  • Trọng Pháp, Trọng Nhân, Trọng Sinh một cách mạch lạc, chân chính; 
  • Êm thuận, hài hoà, sáng suốt, khiêm tốn, quân bình, không thái quá.
Chỉ những Công Dân Người Việt Tử Tế, những đồng bào, đồng hương “Chúng Ta” khi nghiêm nghị, cẩn mẫn, biết rõ quyền thế và trách nhiệm của mình; biết rõ gốc gác & sứ mạng nhân từ của chính mình; biết rõ cách sinh sống thuận hoà, khiêm tốn, quân bình mới thực sự đảm nhận cuộc sống đầy đủ ý nghĩa ngày hôm nay; mới thực sự đóng góp phúc lợi cho tương lai dân tộc, cho con cháu chúng ta.
2014 SEP 7 POLITICS LOGO 5
Chúng ta hãy đặt trọng tâm vào giai đoạn Làm Người Tốt.  Đó là một thứ Đạo-Việt “tân-ước” hay cập nhật thành một Cách-Sống nhân bản tự tin, nhân chủ và dân chủ; thành trạm tới của Người Việt Tử Tế, cái bến tạm dung, nhưng toàn mỹ, toàn bích, an lành, khả chấp và khả thi.  
Đó sẽ là Không Gian Người Việt Tử Tế, mở và bao dung, không quá khích, không miệt thị, không kỳ thị. Tất cả Người Việt chúng ta không cần làm thánh, làm siêu nhân; nhất là không cần làm “hung thần”, hung tướng, mà chỉ cần hoàn tất đúng và đủ vị thế của những con người tử tế, chân chính, mạch lạc; từ bi và hùng dũng.  Thế đã là đủ.
Vậy chúng ta hãy níu kèo lại chúng ta theo hướng đị đó, từng bước ngắn, gọn, rõ rệt, chân thật, công minh.  Không dối lòng.  Không dối mình.  Không dối người. Không dối đời.  
Và trước tiên không thể tự bôi nhọ minh, bôi nhọ tha nhân, bôi nhọ cuộc đời còn lại hay sắp tới.  
Chúng ta đều trách nhiệm như nhau, hay ít ra sẽ phải “đối mặt” với ngần ấy hậu quả, ngần ấy vận mệnh, ngay trong cuộc sống tập thể hay quan niệm sống từng người, dù chúng ta nhập cuộc hay không nhập cuộc cũng vậy.  Điển hình, chúng ta đã một lần mất nước.  Biết thế nào là mất tất cả, dù muốn, dù không. 
Nhưng xin đừng mất nốt dân tộc chúng ta.
Vậy, khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống! Ít ra khi nhắm mắt sẽ không tiếc nuối đã bỏ lỡ cơ hội làm Người Việt Tử Tế.
Trân Trong.
Cập nhật April 15, 2017
Lưu Nguyễn Đạt, PhD, LLB/JD, LLM
Michigan State University
GHI CHÚ 
[2]Nói ngon, nói ngọt, và nói dối như «vẹm » [Việt-Minh]
[3]Gulag tên gọi tắt của Tổng cục Lao cải Liên Xô (Tiếng Nga: Главное управление исправительно-трудовых лагерей и колоний) của NKVD (Ủy ban Nhân dân Nội chính.
[4]Thực ra Chủ tịch Mao Trạch Đông ở bên Tàu mới là người đầu tiện gọi trí thức là “cục cứt”.  Hồ Chí Minh và đồng bọn lây tục ngữ theo.
[6]Bên Thắng Cuộc là cuốn sách của nhà báo Huy Đức, gồm hai tập: Tập 1: Giải Phóng và Tập 2: Quyền Bính, được chào bán lần lượt vào 12 tháng 2 năm 2012 và 13 tháng 1 năm 2013 trên Amazon.com, Inc.
[7] Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ”. Tháng Tư năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương đã trả lời cuộc phỏng vấn do Đinh Quang Anh Thái thực hiện và phát thanh trên làn sóng của đài Little Saigon Radio ở California.
[8]Lưu Nguyễn Đạt,“Bàn Tay Hy Vọng/Hand of Hope” [đúc bằng ciment cốt sắt/béton armé, cao 9 ft, móng sâu 9 ft] do LS Lưu Nguyễn Đạt [Hoạ sĩ, điêu khắc gia, nguyên Tổng Thư Ký hội Hoạ Sĩ Trẻ VN/SàiGòn/trước 1975] tạo dựng và tặng Trại TQLC Camp Pendleton, San Clemente, California vào đúng Ngày Độc Lập July 4, 1975. Tiêu biểu cho “Hy Vọng” đứng dậy & khởi phát của [hậu duệ] Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do.

http://www.vietthuc.org/luu-nguyen-dat-tu-quoc-han-30-thang-tu-toi-su-mang-chan-chinh-cua-nguoi-viet-tu-te/