Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: “CHẾ ĐỘ CSVN KHAI TỬ HOÀN TOÀN VÀO NĂM 2017”

GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: “CHẾ ĐỘ CSVN KHAI TỬ HOÀN TOÀN VÀO NĂM 2017”

unnamed
Khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo sụp đổ hoàn toàn?
Câu hỏi trên sẽ dựa trên bộ môn LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC của nền văn hóa Dịch Lý cổ xưa mà chỉ ra con đường ta phải đi để có đối sách với Phương Bắc và hóa giải các mâu thuẩn đến từ Đông Tây. Nghĩ cũng cần thưa: Lý số học Hà Lạc là một môn toán nghiên cứu cái lý số nằm trong các con số Âm Dương “Tiên Rồng Trăm Trứng”.
Đây là một môn học khách quan, vì nó là môn đạo học dựa trên các con toán số. Chính nhờ môn này mà xưa cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dựa vào đó mà toán ra và nói lên những lời tiên tri thế cuộc để đời, như cụ đã nói trong lời mở đầu sấm ký của cụ:
  •  Nước Nam từ thuở Hồng Bàng
  • Đổi thay cuộc thế thời gian chuyển vần
  • Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
  • Đã bao lần vận nước đổi thay
  • Núi sông Thiên Định đặt bày
  • Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành.
Tài tiên tri của Cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng Trình”. Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến quốc hiệu Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, trăm bài thơ văn với giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho tàng minh triết cho muôn đời sau.
Thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri dạy rằng:
  • Biển Đông vạn dậm giang tay giữ
  • Đât Việt muôn năm vẫn trị bình
  • Chí những phù nguy xin gắng sức
  • Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông, thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.
Để biết được một chế độ từ lúc nắm chính quyền cho đến thời điểm suy và sụy đổ, ta phải áp dụng và giải mã lời tiên tri của cụ Trạng, và Cụ đã nói: “Một câu là một nhiệm mầu”. Lấy 3 câu trong 483 câu sấm.
Các câu số:
  1. Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
  2. Chữ rằng lục thất nguyệt gian
  3. Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
Trong 3 câu, chỉ lấy ra một câu để giải đoán: câu 117.
117: Chữ rằng Lục Thất nguyệt gian
Ẩn ý chữ “Lục Thất: là gì?
Lục là số 6, thất là số 7, tổng số là 13. Số 13 gọi là Lục Thất. Ẩn ý nói thời gian hưởng được 13 năm.
Tiếp tục lấy 3 câu sấm khác. Các câu số:
  1. Canh niên tàn phá
  2. Tuất Hợi phục sinh
  3. Nhị Ngũ dư bình
Ba lời tiên tri cũng lấy ra câu 397 để giải mã, để biết được thời gian suy và sụp đổ.
“Nhị Ngũ” là gì? Nhị là số 2, ngũ là số 5. Hai số 5 là số 10. Ẩn ý nói: thời gian 10 năm mới là thời gian suy và sụp đổ.
Tổng số thời gian của một chế độ kéo dài bao nhiêu. Số thời gian đó đem chia cho số 13, ta biết được số Lục Thất được hưởng của chế độ.
Để chứng minh và áp dụng từ nhà Hậu Lê.
 NHÀ HẬU LÊ
Lê Lợi xưng vương năm 1428 và truyền đến vua Chiêu Thống tức là Mẫn Đế thì hết. Nhà Hậu Lê làm vua kể cả tiền Lê được 360 năm. Năm (1428 đến 1788).
Lấy 360 năm chia cho 13 được 27 Lục Thất tức là 13 x 27 = 351 năm.
Nhà Hậu Lê hưởng được 351 năm thì bị suy. Tức năm 1428 + 351 = 1779. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1779 + 10 = 1789.
 NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN
Nguyễn Nhạc xưng vương năm 1779. Nhà Nguyễn Tây Sơn hưởng được một Lục Thất 13 năm thì bị suy, tức năm 1779 + 13 = 1792. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức năm 1792 + 10 = 1802.
 NHÀ NGUYỄN GIA LONG
Gia Long xưng vương năm 1802, hưởng được 11 Lục Thất, tức 13 x 11 = 143 năm thì bị suy tức 1802 + 143 = 1945. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1945 + 10 = 1955 (ngày 23 tháng 10 Bảo Đại bị dân truất phế.)
 NHÀ HỒ
Hồ chí Minh cướp chính quyền nhà Nguyễn, vua Bảo Đại năm 1945. Nhà Hồ hưởng được 5 Lục Thất, tức 13 x 5 = 65 năm thì bị suy, tức 1945 + 65 = 2010. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 2010 + 10 năm = 2020.
  • Canh Dần 2010
  • Tân Mẹo 2011
  • Nhâm Thìn 2012
  • Quý Tị 2013
  • Giáp Ngọ 2014
  • Ất Mùi 2015
  • Bính Thân 2016
  • Đinh Dậu 2017 (Cộng Sản sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017 ứng theo Sấm Ký Thân Dậu)
  • Mậu Tuất 2018
  • K ỷ Hợi 2019 (Tuất + Hợi phục sinh)
  • Canh Tý 2020
unnamed (1)Sau khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017, và sự sụp đổ như thế nào? chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.
Sau khi Cộng Sản sụp đổ, chế độ mới lên thay thế dưới sự lãnh đạo của một đấng Minh Quân tài đức vẹn toàn và mang lại cho dân tộc Việt Nam một đời sống tự do, ấm no và hạnh phúc muôn đời.
Tôi là một HO thầm lặng bình thường, không phải là một nhà bình luận, không phải nhà chính trị, không phải nhà văn, không phải nhà báo. Nhưng tôi cũng yêu quê hương tôi, yêu dân tộc tôi. Tôi nói lên những điều mà tôi hiểu và biết cho tất cả mọi người Việt Nam giảm bớt sự âu lo, và đất nước Việt Nam không mất một tấc đất nào cho bọn bành trướng Bắc Kinh, dù trong đất liền hay ngoài các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hiện nay, bọn bành trướng đã làm những gì mà người Việt chúng ta nhìn thấy. Bọn chúng sẽ giao lại cho người Việt Nam sau này.
HO Mai Xuân Tấn

Tướng Đô Bá Tỵ đòi làm rõ và trừng trị kẻ đưa Formosa vào VN

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

Việt Nam văn học sử (xuất bản 1949): Nhớ về thuở bình minh trong trẻo của nền văn hóa và báo chí dân tộc

Việt Nam văn học sử (xuất bản 1949): Nhớ về thuở bình minh trong trẻo của nền văn hóa và báo chí dân tộc

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 7 năm 2016



<- Bìa cuốn Việt Nam văn học sử, xuất bản năm 1949 tại miền Nam

Năm 1949 là thời kỳ đất nước Việt Nam đang ở vào tình cảnh khá phức tạp về mặt chính trị. Hoàng đế Bảo Đại (gọi theo các tư liệu thời đó) vừa ký chưa ráo mực bản "Thỏa hiệp ngày mồng 8 tháng 3 năm 1949" với Pháp, có nội dung "nước Pháp long trọng tuyên bố quyết định không cản trở việc xứ Nam kỳ trở lại lãnh thổ Việt Nam bằng bất cứ phương tiện và hành động pháp lý nào" (tôi sẽ có bài giới thiệu lần sau, trong một cuốn sách khác).

Năm 1949 đất nước ta lúc này đã phần nào chia làm hai xu hướng chính trị Bắc - Nam rõ ràng. Ở miền Bắc là cuộc chiến đấu của mặt trận Việt Minh chống thực dân Pháp - kéo dài đến năm 1954, với kết thúc là chiến thắng lợi của quân Việt Minh ở Điện Biên Phủ.




Tuy nhiên, cuốn sách này là nói về vấn đề văn hóa, văn học, chứ không nói về chính trị.

Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ

Cuốn sách gồm 2 tập, tập 2 mà tôi giới thiệu dày 155 trang, tóm tắt và phác họa cơ bản về lịch sử nền văn học, văn hóa nước nhà từ thời kỳ đầu thế kỷ 19 đến năm 1949.

Trong phần "Chữ Nôm", tác giả đã điểm qua các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm tiêu biểu và giá trị nhất, gồm các nhà thơ như: bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Yên Đổ, Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Tế Xương  ...; Các tác phẩm như: Thập nhị tứ hiếu, Đại Nam quốc sử diễn ca ... và đặc biệt dành nhiều trang cho hai tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Kiều của Nguyễn Du...  

Trong phần "Chữ Quốc Ngữ", cuốn sách giới thiệu các tác giả, tác phẩm viết bằng chữ Quốc Ngữ (lúc này chữ Quốc Ngữ đang ở giai đoạn còn khá mới mẻ, đang  phát triển ở Việt Nam). Đó là các tác phẩm nói về tinh thần ái quốc, đấu tranh đánh đổ cường quyền, chế độ áp bức, như các bài thơ: Khuyên thanh niên, Á tế á ca, Chiêu hồn nước... Các nhà thơ, nhà văn như: Đông Hồ, Tản Đà, Á nam Trần Tuấn Khải, Quách Tấn, Khái Hưng, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh ... được nêu danh, trích thơ.

Báo chí rất phát triển, đa dạng, chủ yếu là báo tư nhân 

Một điều rất thú vị, là qua cuốn sách, chúng ta biết hóa ra ngay từ những năm đầu thế kỷ 19, ở Việt Nam nền văn hóa đã rất hiện đại so với thế giới, nhưng vẫn giữ nét truyền thống, hoạt động xuất bản và báo chí đã phát triển đến mức có thể nói là rực rỡ! Và rất tự do, thưa quý vị.

Báo chí tư nhân thường do các nhóm nhân sỹ hay các nhà "tư bản" là chủ, với quan điểm chính trị và xu hướng, quan điểm khác nhau, được phép thành lập và xuất bản khá rầm rộ, đa dạng, thuộc hầu hết các lĩnh vực. Chẳng hạn như đoạn sau viết (nguyên văn trong sách) nói về các tờ báo:

BÁO -

- Tờ Gia Định báo do Chính phủ xuất bản.

- Đại Nam Đồng Văn nhật báo - do Nha kinh lược phát hành.

Rồi sau lần lượt xuất hiện những tờ báo của tư nhân, xin lược kể như sau:

- 1900: Nông cổ mín đàn (quốc văn).

- 1905: Nhật báo tĩnh (quốc văn).

- 1905: Đại Việt tân báo (nửa quốc văn, nửa chữ Nho).

- 1907: Đăng cổ tùng báo (quốc văn).
   
- 1910: Lục tỉnh tân văn.

- 1915: Trung Bắc tân văn.

- 1920: Thực nghiệp dân báo.

- 1923: Khai hóa, Trung lập, Thần Trung, Điện tín ....

- 1927: Tiếng Dân, Hà thành ngọ báo ... vv và vv.

Ngoài ra còn có nhiều TẠP CHÍ tư nhân rất nổi tiếng và hay, tiêu biểu như:

- 1913: Đông Dương tạp chí.

- 1917: Nam phong.

- 1921: Hữu thanh.

- 1926: Annam tạp chí.

- 1929: Phụ nữ tân văn.

- 1931: Pháp viện tạp chí.

- 1932: Văn học tạp chí.

Bìa cuối ấn tượng

Tôi cũng cảm thấy rất ấn tượng và thú vị về bìa cuối cuốn sách (xem ảnh bên dưới). Chỉ qua các dòng quảng cáo giới thiệu một số cuốn sách, đã cho thấy xã hội và đời sống văn hóa Việt Nam khi đó thực sự rất dân chủ, văn minh và hiện đại - một cách bất ngờ!




Như trang bìa giới thiệu cuốn sách đang in có tên "Hùn vốn lập hội" với giải thích "những hội buôn theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam của luật sư Nguyễn Huy Mẫn". Mèng đéc ơi, thì ra cách nay hơn 70 năm, ở miền Nam đã có luật về doanh nghiệp tư nhân, về nghề luật sư. Thậm chí rất phát triển!

(Ghi chú: Trong khi sau khi thống nhất đất nước năm 1975, phải chờ đến 20 năm nữa (cuối những năm 1980), Nhà nước CHXHCNVN do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân, cho phép nghề luật sư xuất hiện lại!).

Và ngay cả Nhà sách Vĩnh Hảo, nơi xuất bản cuốn sách này, cũng là một nhà xuất bản tư nhân.

Thế nên, khi đọc cuốn sách này, tôi thấy nhớ và luyến tiếc một thuở bình minh và trong trẻo của nền văn hóa và báo chí dân tộc là vậy.

Gần 80 năm sau, ngày nay nước ta báo chí cũng đã và đang rất phát triển. Nhưng nói cho cùng, thì đó là báo chí "cách mạng", hoạt động theo chỉ đạo và định hướng của đảng, tổng biên tập là đảng viên, chứ không phải là báo chí theo quan niệm và khái niệm như "ngày xưa" ấy!

...................

Sách:

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

Bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn thời Pháp thuộc, VNCH và hiện tại

Bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn thời Pháp thuộc, VNCH và hiện tại

Sau năm 1975, khoảng gần 1/3 tên đường của Sài Gòn cũ đã được thay đổi...


Thời thuộc Pháp


Thời VNCH


Hiện tại

1.
Boulevard Bonard
Lê Lợi
Lê Lợi
2.
Boulevard Chanson
Lê Văn Duyệt
Cách Mạng Tháng Tám
3.
Boulevard Charner
Nguyễn Huệ
Nguyễn Huệ
4.
Boulevard Galliéni
Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo
5.
Boulevard Kitchener
Nguyễn Thái Học
Nguyễn Thái Học
6.
Boulevard Norodom
Thống Nhất
Lê Duẩn
7.
Boulevard Paul Bert
Trần Quang Khải
Trần Quang Khải
8.
Boulevard de la Somme
Hàm Nghi
Hàm Nghi
9.
Rue - 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)
Nguyễn Hoàng
Trần Phú
10.
Abattoir
Hưng Phú
Hưng Phú
11.
d’Adran
Võ Di Nguy
Phan Đình Phùng
12.
Albert 1er
Đinh Tiên Hoàng
Đinh Tiên Hoàng
13.
Alexandre de Rhodes
Lục Tỉnh
Alexandre de Rhodes
14.
Alexandre Frostin
Bà Lê Chân
Bà Lê Chân
15.
Alsace Loraine
Phó Đức Chính
Phó Đức Chính
16.
Amiral Dupré
Thái LậpThành
Phan Xích Long
17.
Amiral Roze
Trương Công Định
Trương Định
18.
d’Arfeuille
Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu
19.
Armand Rousseau
Hùng Vương
Hùng Vương
20.
d’Arras
Cống Quỳnh
Cống Quỳnh
21.
Arroyo de l’Avalanche
Rạch Thị Nghè
Rạch Thị Nghè
22.
Audouit
Cao Thắng
Cao Thắng
23.
d’Ayot
Nguyễn Văn Sâm
Nguyễn Thái Bình
24.
Ballande
Nguyễn Khắc Nhu
Nguyễn Khắc Nhu
25.
Barbier
Lý Trần Quán
Lý Trần Quán
26.
Barbé
Lê Quý Đôn / Hồng Thập Tự
Nguyễn Thị minh Khai
27.
Blan Subé
Duy Tân
Phạm Ngọc Thạch
28.
Bourdais
Calmette
Calmette
29.
Catinat
Tự Do
Đồng Khởi
30.
Chaigneau
Tôn Thất Đạm
Tôn Thất Đạm
31.
Champagne
Yên Đổ
Lý Chính Thằng
32.
Charles de Coppe
Hoàng Diệu
Hoàng Diệu
33.
Charles Thomson
Hồng Bàng
Hồng Bàng
34.
Chasseloup Laubat
Hồng Thập Tự
Nguyễn Thị minh Khai
35.
Colonel Budonnet
Lê Lai
Lê Lai
36.
Colonel Grimaud
Phạm ngũ Lão
Phạm ngũ Lão
37.
Cornulier
Thi Sách
Thi Sách
38.
Danel - Denis Frères
Phạm Đình Hổ
Ngô Đức Kế
39.
Dixmude
Đề Thám
Đề Thám
40.
Docteur Angier
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm
41.
Docteur Yersin
Ký Con
Ký Con
42.
Đỗ Hữu Vị
Huỳnh Thúc Kháng
Huỳnh Thúc Kháng
43.
Douaumont
Cô Giang
Cô Giang
44.
Dumortier
Cô Bắc
Cô Bắc
45.
Duranton
Bùi thị Xuân
Bùi thị Xuân
46.
Eyriaud des Verges
Trương Minh Giảng
Lê Văn Sĩ
47.
l’Église
Trần Bình Trọng
Trần Bình Trọng
48.
d’Espagne
Lê Thánh Tôn
Lê Thánh Tôn
49.
Faucault
Trần Khắc Chân
Trần Khắc Chân
50.
Frère Louis
Nguyễn Trãi & Võ Tánh
Nguyễn Trãi
51.
Frère Guilleraut
Bùi Chu
Tôn Thất Tùng
52.
Filippiny
Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực
53.
Fonck
Đoàn Nhữ Hài
Đoàn Nhữ Hài
54.
Gallimard
Nguyễn Huy Tự
Nguyễn Huy Tự
55.
Gaudot
Khổng Tử
Khổng Tử
56.
Georges Guynomer
Võ Di Nguy
Võ Di Nguy
57.
Guillaume Martin
Đỗ Thành Nhân
Đỗ Thành Nhân
58.
Hamelin
Hồ Văn Ngà
Hồ Văn Ngà
59.
Heurteaux
Nguyễn Trường Tộ
Nguyễn Trường Tộ
60.
Hui Bon Hoa
Lý Thái Tổ
Lý Thái Tổ
61.
Jaccaréo
Tản Đà
Tản Đà
62.
Jauréguiberry
Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương
63.
Jean Eudel
Trình Minh Thế
Nguyễn Tất Thành
64.
Lacaze
Nguyễn Tri Phương
Nguyễn Tri Phương
65.
Lacotte
Phạm Hồng Thái
Phạm Hồng Thái
66.
Lacaut
Trương Minh Ký
Hoàng Văn Thụ
67.
De Lagrandière
Gia Long
Lý Tự Trọng
68.
Larclause
Trần Cao Vân
Trần Cao Vân
69.
Lefèbvre
Nguyễn công Trứ
Nguyễn công Trứ
70.
Legrand de la Liraye
Phan Thanh Giản
Điện Biên Phủ
71.
Le Man
Cao Bá Nhạ
Cao Bá Nhạ
72.
Léon Combes
Sương Nguyệt Ánh
Sương Nguyệt Ánh
73.
Lesèble
Lý Văn Phức
Lý Văn Phức
74.
Loucien Lecouture
Lương Hữu Khánh
Lương Hữu Khánh
75.
Luro
Cường Để
Đinh Tiên Hoàng
76.
Mac Mahon
Công Lý
Nam kỳ Khởi Nghĩa
77.
Marchaise
Ký Con
Ký Con
78.
Maréchal Fox
Nguyễn Văn Thoại
Lý Thường Kiệt
79.
Maréchal Pétain
Thành Thái
An Dương Vương
80.
de Marins
Đồng Khánh
Trần Hưng Đạo B
81.
Martin des Pallières
Nguyễn Văn Giai
Nguyễn Văn Giai
82.
Massiges
Mạc Đĩnh Chi
Mạc Đĩnh Chi
83.
Mayer
Hiền Vương
Võ Thị Sáu
84.
Miche Phùng
Phùng Khắc Khoan
Phùng Khắc Khoan
85.
Miss Cawell
Huyền Trân Công Chúa
Huyền Trân Công Chúa
86.
Nancy
Cộng Hoà
Nguyễn Văn Cừ
87.
Nguyễn Tấn Nghiệm
Phát Diệm
Trần Đình Xu
88.
Noel
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu
89.
Ohier
Tôn Thất Thiệp
Tôn Thất Thiệp
90.
d’Ormay
Nguyễn Văn Thinh
Mạc Thị Bưởi
91.
Paracels
Alexandre de Rhodes
Alexandre de Rhodes
92.
Paris
Phùng Hưng
Phùng Hưng
93.
Pavie
Trần Quốc Toản
3 tháng 2
94.
Paul Blanchy
Hai Bà Trưng
Hai Bà Trưng
95.
Paulin Vial
Phan Liêm
Phan Liêm
96.
Pellerin
Pasteur
Pasteur
97.
Pierre Flandin
Đoàn thị Điểm
Đoàn thị Điểm
98.
Laregnère
Bà Huyện Thanh Quan
Bà Huyện Thanh Quan
99.
Renault
Hậu Giang
Hậu Giang
100.
René Vigerie
Phan Kế Bính
Phan Kế Bính
101.
Résistance
Nguyễn Biểu
Nguyễn Biểu
102.
Richaud
Phan Đình Phùng
Nguyễn Đình Chiểu
103.
Roland Garros
Thủ Khoa Huân
Thủ Khoa Huân
104.
Sabourain
Tạ Thu Thâu
Tạ Thu Thâu
105.
Sohier
Tự Đức
Nguyễn Văn Thủ
106.
Taberd
Nguyễn Du
Lý Tự Trọng
107.
Testard
Trần Quý Cáp
Võ Văn Tần
108.
Tong-Kéou
Thuận Kiều
Thuận Kiều
109.
Turc
Võ Tánh
Hoàng Văn Thụ
110.
Verdun
Lê Văn Duyệt
Cách Mạng Tháng Tám
111.
Vassoigne
Trần Văn Thạch
Trần Văn Thạch
112.
Yunnam
Vạn Tượng
Vạn Tượng
113.
Quai de Belgique
Bến Chương Dương
Võ Văn Kiệt
114.
Quai Le Marn
Bến Hàm Tử
Võ Văn Kiệt
115.
Quai Le Myre de Vilers
Bến Bạch Đằng
Tôn Đức Thắng
116.
Quai de Fou-Kien
Bến Trang Tử
Trang Tử
S.T