Tìm kiếm Blog này
Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014
Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014
Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014
MAI LĨNH: Nỗi buồn An Lăng
MAI LĨNH: Nỗi buồn An Lăng: Bài và ảnh: Phạm Hồng Sơn Khách du lịch đến Huế, ai cũng muốn thăm các di tích triều đại nhà Nguyễn mà ngoài hoàng thành xưa...
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014
”Trung Quốc đã gửi 320.000 quân đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, ” – Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975
Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014
Trích: “Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.”
Năm 1960, khi Mỹ chưa đổ quân vào miền Nam thì đảng CSVN đã gọi Mỹ là “bọn xâm lược Mỹ”. Mỹ chỉ thật sự đổ quân vào Miền Nam năm 1965 và từ từ rút khỏi Miền Nam từ 1971-1973. (Mỹ đổ quân vào Miền Nam vì sợ Miền Nam rơi vào tay cộng sản, vì hàng trăm ngàn bộ đội Miền Bắc xâm nhập vào Miền Nam đánh nhau dọc theo biên giới Kampuchea – VN và Lào- Việt Nam; Bộ đội cộng sản VN hoạt động trong các tỉnh thành và thi hành chính sách khủng bố, ám sát, ném lựu đạn vào rạp hát và đám đông, gài mìn trên đường lộ giết thường dân di chuyển bằng xe đò diễn ra khắp 18 tỉnh thành miền Nam.)
Sau trận hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974, thì đây là ►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974. Khi Trung Quốc chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa 1988, thì Đảng CSVN im lặng, không hề phản kháng! Đây chính là hành động xâm lược của Trung Quốc, nhưng Đảng CSVN và Nhà Nước hiện nay không dám gọi Trung Quốc là bọn xâm lược. “một cuộc xâm lược là một cuộc tấn công bằng lực lượng từ bên ngoài vào. Mục đích của xâm lược là mở rộng phạm vi trong thời gian dài nên cần một lược lực lượng có quy mô lớn để giữ đất đai, lãnh thổ và bảo vệ quyền lợi trên lãnh thổ xâm chiếm.”.
“… người Nga và người Trung Quốc đã ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954,”
“Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn”
Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975
Tác giả: Địch Cường (Qiang Zhai)
Biên tập: John Lewis Gaddis
Nhà Xuất bản: University of North Carolina Press, Chapel Hill & London
Biên tập: John Lewis Gaddis
Nhà Xuất bản: University of North Carolina Press, Chapel Hill & London
DẪN NHẬP

Trung Quốc và Những Cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950-1975 là một đóng góp nổi bật cho lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh nói chung và cho lịch sử quốc tế về cuộc Chiến tranh Việt Nam nói riêng. Các nhà sử học từ lâu đã phỏng đoán về mối quan hệ giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong một phần tư thế kỷ chiến tranh tại Đông Dương, kéo dài từ 1950 đến 1975. Cho đến khi cuốn sách này xuất bản thì chúng ta mới biết được thực sự.
Với lối viết rõ ràng và thông suốt đáng ngưỡng mộ, Địch Cường đã dùng hàng loạt những nguồn thông tin đầy ấn tượng từ văn khố Trung Quốc vừa được công bố, các hồi ký, nhật ký, và tuyển tập tài liệu để kể lại việc Trung Quốc đã giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại nguời Pháp và sau đó là người Mỹ. Sau đây là một số khám phá nổi bật từ nghiên cứu của ông:
Rằng Mao Trạch Đông nhìn nhận phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam trên khía cạnh ý thức hệ lẫn địa chính trị. Cuộc đấu tranh này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ vì nó là một phần của chiến lược lớn hơn của ông ta trong việc thiết lập một trật tự thế giới chống đế quốc, nhưng cùng lúc ông cũng không sẵn sàng tách mục đích này ra khỏi quyền lợi của Trung Quốc trong việc cân bằng sự đối chọi giữa Liên Sô và Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu nổi bật về sự giao thoa giữa quyết tâm cách mạng và chính sách thực dụng trong suy tính của Mao.
Rằng viện trợ quân sự của Trung Quốc thì rất quan trọng đối với Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi có những thoả thuận từ hiệp định Geneva 1954. Mức độ của nguồn viện trợ này thật là đáng ngạc nhiên vì lúc ấy Trung Quốc cũng đang tham dự vào Chiến tranh Triều Tiên.
Rằng người Nga và người Trung Quốc đã, như chúng ta vốn nghi ngờ từ lâu, ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954, nhưng rồi sau đó Trung Quốc lại hối tiếc, thái độ độ này đã góp phần vào sự chia rẽ Trung-Sô cũng như việc Bắc Kinh ủng hộ Bắc Việt leo thang chiến tranh với người Mỹ và Nam Việt Nam trong những năm đầu 1960.
Rằng Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân hậu thuẫn đến Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.
Rằng Bắc Việt đã không tham vấn Trung Quốc khi họ bắt đầu đàm phán với người Mỹ vào năm 1968, và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Bắc Việt đã giảm thiểu từ đấy, trong khi ảnh hưởng của Liên Sô tăng dần.
Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn, và rằng – bất chấp mối giao hảo với người Mỹ – Mao vẫn mạnh mẽ hậu thuẫn việc Pol Pot và Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia vào năm 1975.
Rằng giờ đây ta biết được cuộc Chiến Trung-Việt năm 1979 bắt nguồn từ mối rạn nứt của liên minh Trung-Việt từ cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
Đây chỉ là vài điểm sáng tỏ có được từ tài liệu nghiên cứu mang tính mở đường này. Lần đầu tiên nó đã làm nổi bật vai trò quan trọng của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt Nam. Trên cả mọi thứ, “Lịch sử Mới của cuộc Chiến tranh Lạnh” dựa vào việc xem xét lại những gì chúng ta từng cho rằng mình đã hiểu bằng cách truy cập các tài liệu lưu trữ của “phía bên kia”. Cuốn sách này là khuôn mẫu của những nghiên cứu thuộc dạng này. Chắc chắn nó sẽ định hình kiến thức của chúng ta đối với cuộc Chiến tranh Lạnh tại Đông nam Á trong nhiều thập niên tới.
John Lewis Gaddis
Tháng Năm 1999
Tháng Năm 1999
GIỚI THIỆU
Quá trình thăng trầm của liên minh Trung-Việt là một trong những diễn tiến quan trọng nhất đối với lịch sử Chiến tranh Lạnh tại Châu Á nói chung và với quan hệ ngoại giao Trung Quốc nói riêng [1].
Trong một phần tư thế kỷ sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) ra đời vào năm 1949, Bắc Kinh đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đấu tranh chống lại hai kẻ thù hùng mạnh là Pháp và Mỹ.
Trong những năm 1950, các công thức của Trung Quốc được dùng làm khuôn mẫu cho Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong nỗ lực tái xây dựng miền bắc.
Trong những năm 1960, Bắc Kinh đã cung cấp rất nhiều viện trợ để giúp Hồ Chí Minh chống lại Hoa Kỳ. Hậu thuẫn của Trung Quốc rất quan trọng trong việc ĐLĐVN đánh thắng người Pháp vào năm 1954 cũng như trong khả năng chống trả áp lực của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Đông dương Lần 2. Vào thời điểm đoàn kết nhất giữa VNDCCH và Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã xem quan hệ giữa hai bên “vừa là đồng chí vừa là anh em.”
Tuy nhiên, trong đầu thập niên 1970, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu giảm cường độ và Trung Quốc đang sắp xếp lại các ưu tiên chiến lược của mình bằng cách cởi mở với Hoa Kỳ nhằm cân bằng mối đe doạ từ Liên Sô, mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội bắt đầu rạn nứt, với hệ quả là cuộc giao tranh trực tiếp vào năm 1979.
Nói chung, tầm quan trọng của Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp trong các tài liệu của Việt Nam lẫn phương Tây.[2] Các tác giả Việt Nam thường cố ý bác bỏ vai trò của Trung Quốc để nhằm tạo ra một “lịch sử mang tính dân tộc,”[3] trong khi việc khó truy câp các tài liệu lưu trữ tại Trung Quốc đã khiến giới học giả phương Tây giảm thiểu vai trò của Bắc Kinh trong mâu thuẫn Đông Dương.[4] Không có một nghiên cứu đầy đủ nào về quan hệ giữa Trung Quốc với VNDCCH trong giai đoạn 1950-1975. Cuốn sách này cố gắng bù đắp sự thiếu hụt ấy bằng cách trích dẫn những tài liệu mới có từ Trung Quốc để trình bày một cách đầy đủ quá trình chuyển hoá trong mối quan hệ Trung Quốc-VNDCCH giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương, trong đó chú trọng vào những khía cạnh chiến lược, chính trị và quân sự của mối quan hệ trên.
Nghiên cứu này phân tích nguồn gốc chính sách Đông Dương của Bắc Kinh bằng cách đặt nó vào bối cảnh lịch sử, địa phương và quốc tế, nơi nó được thảo ra.
Nghiên cứu này cũng điều tra các nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Đặc biệt là nó trả lời một số câu hỏi quan trọng trong việc Trung Quốc dính líu đến Đông Dương. Một số vấn đề này liên quan đến bản chất những mục tiêu của Bắc Kinh đối với Việt Nam và quá trình thực hiện các chính sách của họ.
Tại sao Mao lại quyết định công nhận nước VNDCCH và cung cấp cố vấn quân sự và viện trợ cho Việt Minh ngay sau khi giành được quyền lực ở Trung Quốc 1949?
Các cố vấn Trung Quốc đóng vai trò gì trong việc Hồ Chí Minh đánh thắng người Pháp?
Tại sao Bắc Kinh lại tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954 và cổ vũ cho việc chia cắt Việt Nam?
Trung Quốc đã đóng vai trò gì trong nỗ lực khôi phục miền bắc của VNDCCH sau 1954?
Trung Quốc đã phản ứng ra sao với quyết định của Hà Nội trong việc vực dậy cuộc chiến tranh cách mạng tại miền nam vào năm 1959?
Mao đã phản ứng ra sao khi Washington leo thang chiến tranh tại Việt Nam vào giữa thập niên 1960? Và mong muốn của Mao trong việc tái tổ chức đất nước và xã hội Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các quyết định về Việt Nam của ông ra sao?

Bản đồ Đông Dương. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh Đông Dương 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987)
Những câu hỏi sâu hơn nổi lên từ những tương tác giữa Trung Quốc với các đồng minh Sô Viết và Việt Nam. Liệu đã có sự phân chia nhiệm vụ giữa Mao và Stalin trong những năm đầu Trung Quốc can dự vào Việt Nam? Mâu thuẫn Trung-Sô đã ảnh hưởng đến chính sách của Bắc Kinh và quan hệ của nó với Hà Nội như thế nào? Trung Quốc và VNDCCH đã có những dị biệt gì trong việc phát động chiến tranh và theo đuổi hoà bình? Việc Trung Quốc chuyển hướng chiến lược đầu thập niên 1970 đã ảnh hưởng đến quan hệ với VNDCCH ra sao? Và những dị biệt văn hoá, truyền thống nghi kỵ trong lịch sử và tranh chấp khu vực đã ảnh hưởng thế nào đến mối hợp tác Trung-Việt?
Cả hai nước Lào và Cambodia tồn tại trong dưới cái bóng của các cuộc chiến tại Việt Nam, và tranh chấp tại Việt Nam thường lan sang hai quốc gia này. Nghiên cứu này cũng đề cập đến phản ứng của Bắc Kinh đối với những tiến triển tại Lào và Cambodia, đặc biệt là khi chúng có liên quan đến những sự kiện tại Việt Nam. Nó đặt phản ứng của Bắc Kinh vào bối cảnh của chính sách ngoại giao tổng thể cũng như những quan tâm đặc biệt riêng đối với Việt Nam.
Nhìn rộng hơn, chúng ta rút ra được điều gì từ chính sách ngoại giao của Mao qua việc phân tích cụ thể thái độ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam? Xa hơn, chúng ta rút ra được kết luận gì về việc xây dựng và quản lý đồng minh của phe Cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua việc điều tra chi tiết quá trình thăng trầm của mối quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội?
Các chương kế tiếp sẽ nhận diện những động cơ đầy phức tạp phía sau chính sách Đông Dương của Bắc Kinh. Việc cân nhắc những thực thế địa chính trị là một yếu tố trọng tâm trong tính toán của Mao.
Trong suốt thập niên 1950 và hầu hết thập niên 1960, Mao đã xem Hoa Kỳ là mối đe doạ chủ yếu đối với nền an ninh và cách mạng Trung Quốc. Vì thế việc hậu thuẫn Hồ chí Minh và Pathet Lào giúp Mao thoả mãn mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ tại Đông nam Á và đẩy lùi nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Washington.
Vào cuối thập niên 1960 đầu 1970, khi Mao nhận thức mối đe doạ lớn hơn từ Liên Sô và đe doạ nhỏ hơn từ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông bắt đầu sửa đổi lại chính sách của mình và khuyến khích Bắc Việt thoả thuận một giải pháp hoà bình.
Tinh thần trách nhiệm quốc tế và nghĩa vụ phải giúp đỡ một đảng Cộng sản anh em cũng như việc đẩy mạnh cuộc cách mạng chống đế quốc tại châu Á là một yếu tố quan trọng, thường mang tính quyết định trong chính sách của Mao về Việt Nam.
Những hành động của Bắc Kinh về Đông Dương thường được thúc đẩy bởi viễn kiến của Mao về vị trí của Trung Quốc trên thế giới. Khi cống hiến cả đời cho cách mạng, Mao nhắm vào việc thay đổi không chỉ nước Trung Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Thể chế thực dân Pháp tại Đông Dương bao gồm thành phần của một trật tự thế giới bất công và sai trái mà Mao mong muốn dẹp bỏ. Trong suy nghĩ của Mao, nếu không có một thay đổi chống lại hệ thống quốc tế hiện thời, chiến thắng vừa có được của Cộng sản tại Trung Quốc sẽ không được bảo đảm, củng cố và chính danh.
Trong khi trật tự quốc tế cũ đã khiến Trung Quốc phải chịu đau khổ và nhục nhã, thì việc thành lập một trật tự mới sẽ đóng góp cho sự tái sinh và thịnh vượng của Trung Quốc. Mao đặt nền an ninh và thịnh vượng trong nước ngang hàng với việc phát triển phong trào phản đế và các cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Một thế giới gồm các quốc gia Cộng sản cùng chí hướng sẽ là một bảo đảm tốt nhất cho chính quyền của Mao tại Trung Quốc. Mao xen lẫn các quan tâm về vấn đề an ninh với ý thức hệ trong suy nghĩ của mình. Mao và các đồng sự xem cuộc cách mạng của mình tương tự với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại các quốc gia đang phát triển và cho rằng khuôn mẫu Trung Quốc thì quan trọng đối với các phong trào ấy. Xa hơn, Mao can thiệp vào Đông Dương để tự tạo dựng hình ảnh Trung Quốc trên thế giới.
Tuy nhiên Mao không theo đuổi những mục tiêu cách mạng của mình tại Đông nam Á với cùng cường độ trong khoảng thời gian được đề cập trong cuốn sách này. Mặc dù đồng cảm với phong trào chống đế quốc thực dân trên thế giới, Mao cũng không muốn gây chiến với Hoa Kỳ. Vị lãnh tụ Trung Quốc này là một người thực tế, có đủ khả năng để chỉnh sửa chính sách khi gặp phải những khó khăn kinh tế trong nước hoặc những áp lực từ nước ngoài. Ông có khả năng vượt qua những thoái bộ chiến thuật trong nhiều lần nhưng luôn giữ vững lập trường của mình. Ví dụ như từ năm 1954 đến 1960, ông giảm bớt sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với phong trào phản kháng tại Đông Dương để Trung Quốc có thể tập trung phát triển kinh tế trong nước. Mao không ngần ngại đề xuất chiến thuật ôn hoà hoặc nhượng bộ nếu thấy thế lực phản động đang quá mạnh để phong trào cách mạng có thế tiếp tục đấu tranh. Đấy là lý do tại sao ông đã chấp nhận một chia rẽ hoà bình tại Việt nam tại Hội nghị Geneva năm 1954 và can ngăn nỗ lực thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lúc ấy.
E sợ việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam nếu chiến tranh tiếp diễn, Mao không muốn Trung Quốc dính líu đến một cuộc chiến tương tự như tại Triều Tiên, vốn sẽ làm Trung Quốc trệch hướng quá trình tái xây dựng rất cần thiết trong nước. Nỗi lo trước sự can thiệp của Mỹ cũng giải thích được quyết định của Mao trong việc đưa Lào trở lại tình trạng trung lập trong Hội nghị Geneva 1961-62.
Mao ủng hộ hình thức trung lập của Lào lúc ấy không phải vì ông muốn tạo ra tình trạng trung lập vĩnh viễn ở nước này, như Liên Sô mong muốn, mà bởi vì ông muốn tạo thêm thời gian để Pathet Lào củng cố và phát triển lực lượng, tiến đến giành lấy quyền lực.
Trong tính toán của Mao, nhượng bộ và ôn hoà không có nghĩa là từ bỏ; cách mạng cần phải qua từng giai đoạn. Mao hiểu rõ câu châm ngôn của Lenin “một bước lùi hai bước tiến” khi tiến hành cách mạng. Và từ kinh nghiệm của chính mình, ông kết luận rằng việc chuẩn bị cho chuyển biến cách mạng là một cuộc đua đường dài chứ không phải là cự ly ngắn.
Tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng thứ ba trong quá trình hình thành thái độ của Bắc Kinh đối với cách mạng Việt Nam. Khi cân nhắc viện trợ cho Việt Minh, giới lãnh đạo ĐCSTQ không thể bỏ qua mối quan hệ cá nhân mật thiết và tình đoàn kết cách mạng mà họ và Hồ Chí Minh đã có được trong những năm cùng nhau chiến đấu trước đây.
Có cùng những giá trị và niềm tin giống nhau, họ đã trải qua những khó khăn trở ngại tương tự nhau. Hồ đã làm bạn với những đảng viên ĐCSTQ kỳ cựu như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hoành Nhược Phi, Bành Phái, và Lý Phú Xuân từ những năm 1920, khi ông hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp và sau đó đóng vai đại diện của Đệ Tam Quốc tế hỗ trợ phong trào công nhân và nông dân tại Quảng Đông.
Trong thời kỳ nội chiến ở Trung Quốc vào những năm cuối 1940, chính quyền của Hồ đã cung cấp nơi trú ẩn cho quân đội ĐCSTQ từ miền nam Trung Quốc khi họ rút quân sang Việt Nam để tránh quân đội Quốc Dân Đảng tấn công. Qua quyết định giúp đỡ Việt Minh vào năm 1950, Mao nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi tình hữu nghị giữa hai bên.
[Mao giúp Hồ vũ khí và quân viện năm 1950 để đổi lấy Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi giúp ông Hồ chiếm lấy 1/2 nước VN qua Hiệp định Geneve 20-7-1954, Mao lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa 1956. Sau khi biết Mỹ sẽ rút khỏi Nam VN 27-1-1973, biết trước Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, Mao đã đánh chiếm Hoàng Sa 19-1-1974. Đây là lần lấy công lần thứ hai, chiếu theo mật ước trao đổi với ông Hồ hồi 1950- Trần Hoàng]
Cuối cùng, chủ ý sử dụng cuộc đấu tranh quốc tế để phát triển lịch trình chính trị trong nước thường được đặt ở vị trí quan trọng trong các cân nhắc của Mao về Việt Nam. Việc này thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Mao chỉ trích những đề xướng được xem là xét lại trong chính sách đối ngoại từ nội bộ đảng và nhấn mạnh lần nữa sự cần thiết phải chống lại chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bao gồm cuộc đấu tranh tại Việt Nam.
Sự tái nhấn mạnh việc ủng hộ sự nghiệp phản đế trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã tạo cho Mao một công cụ hữu hiệu để vận động hậu thuẫn từ trong nước cho quá trình “diễn tiến cách mạng” của ông, và để dẹp bỏ những chướng ngại bên trong giới lãnh đạo đảng, vốn đang bị chia rẽ bởi những thảm hoạ của chương trình Bước Đại Nhảy Vọt.
Tương tự, giữa những năm 1965 và 1966 Mao đã dùng nguyên cớ cần thiết phải ủng hộ cuộc chiến tranh của Hà Nội chống lại Hoa Kỳ để phát động một chiến dịch chống đế quốc trong nước, để phục hồi tinh thần cách mạng cấp tiến và để vận động quần chúng đấu tranh chống lại những lãnh đạo “xét lại” trong đảng, những người đang muốn đi theo con đường của Liên Sô nhằm phục hồi chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc. Nói chung, chính sách Đông Dương của Bắc Kinh là kết quả của một tổng thể bao gồm thực tế địa chính trị, niềm tin ý thức hệ, tính cách cá nhân, và các hoàn cảnh chính trị.
Cuốn sách này nhấn mạnh vai trò của khía cạnh con người trong việc làm nên lịch sử. Trước hết là Mao đầy quyền lực với những ý tưởng và tầm nhìn kiến tạo cơ cấu chung cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc.
Ông là người quyết định việc giúp đỡ Hồ Chí Minh, thương thảo với các cường quốc phương Tây, đối đầu với áp lực từ Mỹ, bác bỏ những đề nghị của Liên Sô, hoặc tăng cường quan hệ với Washington trong những thời điểm quan trọng.
Kế đến là những đồng sự thân tín của Mao và những lãnh đạo thứ nhì trong đảng, bao gồm Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, tổng bí thư đảng Đặng Tiểu Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Nghị, Đại sứ La Quí Ba, các tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh, những nhân vật đã trung thành thực thi những quyết định ngoại giao và quân sự của Mao đối với Việt Nam.
Những chương kế tiếp sẽ liệt kê và đánh giá cụ thể một Mao Trạch Đông đầy lôi cuốn như là một nhà cách mạng nhìn xa trông rộng, một Lưu Thiếu Kỳ cẩn trọng như một nhà tổ chức kỹ lưỡng việc tiếp tế cho Việt Minh, một Chu Ân Lai lão luyện trong vai trò của nhà ngoại giao thông minh tại các hội nghị quốc tế, một Đặng Tiểu Bình cứng rắn khi thương lượng với Bắc Việt, một Trần Nghị thẳng thắn là tiếng nói của Mao trong các vấn đề quốc tế, và Trần Canh cùng Vi Quốc Thanh dày dạn trận mạc trong vai trò cố vấn quân sự trên chiến trường Việt Nam. Họ đã đạt được chiến thắng nhưng cũng mắc phải sai lầm. Tiếng nói của họ làm nên chính sách của Trung Quốc và ứng xử của họ để lại dấu ấn sâu đậm trong mối quan hệ Trung-Việt.
Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội bao gồm cả đồng thuận lẫn mâu thuẫn, hợp tác và đối đầu. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu bản chất và các động lực của mối quan hệ này và đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử phức tạp của chính nó.
Trong suốt lịch sử của mình, người Việt có một thái độ yêu/ghét đối với Trung Quốc. Một mặt, họ có truyền thống hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn cảm hứng. Các vua chúa Việt Nam đã bắt chước và vận dụng những phương pháp và tổ chức của Trung Quốc để biến mình thành một lực lượng chính danh. Bày tỏ lòng kính nể đối với triều đình bề trên Trung Quốc là con đường duy nhất để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp nhận những định chế văn hoá của Trung Quốc đã trở thành thói quen của giới cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, người Việt luôn mong muốn gìn giữ độc lập cũng như truyền thống văn hoá của mình.
Trong những thập niên 1950 và 1960, Cộng sản Việt Nam phải đối diện với những kẻ thù hùng mạnh là người Pháp và người Mỹ khi tìm cách thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm tham vấn và vũ khí từ Trung Quốc. Nhưng thái độ nghi ngờ vẫn không hề biết mất. Ví dụ Trung Quốc nghi ngờ Hà Nội muốn sát nhập Lào and Cambodia vào với mình thành một “Liên bang Đông Dương” trong khi Bắc Việt cũng dè chừng mối “quan hệ đặc biệt” với Lào khi Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Pathet Lào.
Quan hệ CHNDTQ-VNDCCH bao gồm việc hội nhập và chia sẻ quyền lợi. Hai quốc gia có cùng một triển vọng ý thức hệ và một quan tâm chung về sự can thiệp của người Mỹ vào Đông Dương, nhưng giới lãnh đạo Hà nội muốn tránh xa mối nguy hiểm của việc phải vướng vào mối quan hệ phụ thuộc với Trung Quốc. Một khi giới lãnh đạo Hà Nội và Bắc Kinh vẫn còn có các mục tiêu chung là chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, những quyền lợi riêng rẻ trên sẽ nhượng bộ cho các điểm thoả thuận của hai bên.
Nhưng vào năm 1968 mối quan hệ Trung-Việt đã chuyển nhanh sang chiều hướng xấu khi Washington vừa đưa ra một bước thăm dò trong việc nới lỏng cam kết với Nam Việt. Trong tình hình mới, quyền lợi chiến lược của Bắc kinh bắt đầu có sự khác biệt cơ bản so với Hà Nội. Trong khi lúc này Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là một tiềm năng đối trọng để chống lại Liên Sô, những đồng chí Việt Nam vẫn tiếp tục xem Washington là đối thủ nguy hiểm nhất.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam (1973) và đất nước được thống nhất, những tranh chấp song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh về Cambodia, về bất đồng lãnh thổ trên biển Đông, và việc đối xử với người gốc Trung Quốc tại Việt Nam bắt đầu gia tăng, dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979.
Nghiên cứu này lần đầu tiên vận dụng những nguồn tài liệu do Trung Quốc công bố trong vài năm gần đây. Những tài liệu mới này được xếp vào bốn loại: nguồn hồ sơ lưu trữ, các tuyển tập tài liệu đã được xuất bản, hồi ký và nhật ký, và các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ.
Nguồn Hồ sơ Lưu trữ
Nguồn Hồ sơ Lưu trữ
Trong khi các nhà nghiên cứu không được truy cập những tài liệu lưu trữ quan trọng như Văn khố Trung ương ĐCSTQ và Văn khố Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh, các văn khố địa phương của đảng tại các tỉnh thì ít nghiêm ngặt hơn và hợp tác hơn với các học giả.
Trong thời gian 1995 và 1996, tôi đã có hai chuyến đi nghiên cứu đến Văn khố Chính quyền Nhân dân tỉnh Giang Tô. Kho tài liệu này bao gồm các chỉ thị do Uỷ ban Trung ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh gửi cho các lãnh đạo tỉnh giải thích vai trò của Trung Quốc trong hàng loạt những vấn đề quốc tế bao gồm Đông Dương.
Từ năm 1958 đến 1966, Văn phòng Đối ngoại của Uỷ ban Nhà nước triệu tập các cuộc họp hàng năm về công tác đối ngoại tại Bắc Kinh, trong đó các cán bộ từ trung ương đảng và các cơ quan chính quyền như Ban Liên lạc Quốc tế ĐCSTQ, Bộ Ngoại giao, và Uỷ ban người Hoa đang sống ở Nước Ngoài báo cáo và giải thích cho các cán bộ chuyên về ngoại giao cấp tỉnh những diễn tiến mới của quan hệ ngoại giao Trung Quốc. Nhiều bài phát biểu và tài liệu nội bộ từ những hội nghị này được lưu giữ tại Văn khố tỉnh Giang Tây. Những tài liệu này trình bày quan điểm và phản ứng của lãnh đạo Trung Quốc đối với những diễn biến trên thế giới nói chung và Đông Dương nói riêng chính xác hơn so với các tường thuật từ báo chí Trung Quốc thời kỳ ấy.
Các Tuyển Tập Tài Liệu Đã Xuất Bản
Trong những năm gần đây Bắc Kinh đã xuất bản nhiều tuyển tập gồm các bản thảo, bài viết, trao đổi và phát biểu của các lãnhđạo như Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Những bộ sách này bao gồm vô số những bức điện tín từ các lãnh đạo trên gửi đến các cố vấn Trung Quốc tại VNDCCH cũng như vô số những ghi chép từ các trao đổi giữa họ và đối tác Việt Nam.
Những bộ sách quan trọng nhất cho cuộc nghiên cứu này gồm Kiến quốc Dĩ lai Mao Trạch Đông Văn cảo (Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi lập nước cho đến nay) gồm 18 bộ (Bắc Kinh XB 1987-98), Mao Trạch Đông Quân sự Văn tập (Tuyển tập các bài viết quân sự của Mao Trạch Đông) 6 bộ (Bắc Kinh XB 1993), Mao Trạch Đông Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Mao Trạch Đông) (Bắc Kinh XB 1994), Chu Ân Lai Niên Phả, 1949-1976 (Biên niên ký của Chu Ân Lai) 3 bộ (Bắc Kinh XB 1997), Chu Ân Lai Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1990), Chu Ân Lai Ngoại giao Hoạt động Đại Sự ký, 1949-1975 (Ký sự những hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1993), Lưu Thiếu Kỳ Niên Phả (Biên niên ký của Lưu Thiếu Kỳ), 2 bộ (Bắc Kinh XB 1996).
Hồi Ký Và Nhật Ký
Nhiều quan chức đảng, chỉ huy quân sự, nhà ngoại giao, thư ký và thông dịch viên về hưu đã xất bản những hồi ký và nhật ký cá nhân của mình trong thập niên vừa qua. Trong vài trường hợp, các tác giả nhờ vào những phụ tá trẻ giúp họ đối chứng tài liệu trong các văn khố. Những nhật ký và hồi ký này thường cho thấy những động cơ và tính toán ngầm đằng sau những trường hợp đơn thuần về chính sách.
Không những chúng cung cấp những bằng chứng mới về những lời phát biểu của Mao vốn thường không tìm thấy ở nơi khác, mà còn là một cửa sổ quan trọng cho thấy những gì ông đã đọc. Từ đó ta có thể tự do tìm hiểu mối tương giao trong các hoạt động của Mao với những đồng sự cao cấp và thư ký của mình. Từ những câu chuyện này, ta có thể nhận hiểu được quá trình thảo chính sách cũng như quan điểm của Mao. Những nhật ký và hồ ký cá nhân có ích nhất cho cuộc nghiên cứu này bao gồm Bạc Nhất Ba, Trần Canh, Hu Zhengqing, Lý Việt Nhiên, La Quí Ba, Shi Zhe, Tong Xiaopeng, Vương Bỉnh Nam, Ngũ Tu Quyền, Hùng Hướng Huy, Zeng Sheng, và Zhang Dequn[5].
Những Bài Viết Gián Tiếp
Kể từ giữa thập niên 1980, một số lớn các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ đã xuất hiện tại Trung Quốc. Chúng bao gồm lịch sử tổng quát về đảng, quân đội, và ngoại giao, các tiểu sử, chuyên khảo và bài viết. Tác giả của chúng đa số từ Bắc Kinh, hoặc là một tập thể các tác giả do đảng tập hợp hoặc các học giả làm việc riêng rẻ được phép truy cập các kho lưu trữ. Những tác phẩm này thường trích dẫn các tài liệu lưu trữ nổi bật. Nhưng vì những cấm đoán của đảng, họ chỉ đề cập đến các nguồn tài liệu này mà không nói rõ nơi lưu trữ chúng.
Khi tìm hiểu những nguồn tài liệu mới đã nói ở trên, tôi đã tránh không để lòng phấn chấn về việc khám phá ra chúng làm ảnh hưởng đến thái độ nghiêm khắc cũng như tính nhạy cảm của mình đối với nội dung vốn vô cùng quan trọng trong việc xem xét bất kỳ bộ phận nào của các thông tin lịch sử.
Khi sử dụng các tuyển tập tài liệu đã xuất bản, tôi hoàn toàn biết rõ rằng chúng đã được giới biên tập viên của đảng lựa chọn, thường là với mục đích chính trị, và chúng có thể không phải là những tài liệu hoàn hảo. Tôi đã cố gắng làm việc một cách cẩn trọng với những bộ văn tuyển này, loại bỏ một lượng lớn những cường điệu và bí ẩn. Tôi cũng đã đối xử với các hồi ký với sự cẩn trọng tương tự, hoàn toàn nhận thức được rằng ký ức của con người thì rời rạc và có thể không đúng sự thật và hồi tưởng của các cá nhân thường là để tự đề cao mình. Mỗi khi có thể, tôi đã đối chiếu và xác nhận các câu chuyện, chỉ ra những dị biệt và mâu thuẫn.
Khi làm việc với các tài liệu gián tiếp dựa trên văn bản lưu trữ, tôi nhận thức rõ rằng mình phải dựa vào sự xét đoán của các tác giả cũng như sự thiếu sót trong các nguồn tài liệu mà các tác giả ấy được phép truy cập.
https://hoangtran204.wordpress.com/2014/01/03/trung-quoc-da-gui-320-nghin-quan-hau-thuan-den-bac-viet-trong-giai-doan-1965-68-trung-quoc-va-nhung-cuoc-chien-tranh-viet-nam-1950-1975/?fbclid=IwAR1X3urU6mGMbtjveddLbk7JOKjivOtmEnOc8Xx9mWjl4c4GyHsmdstTsdk
Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013
Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến
Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến
Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
Tổng quan
Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.
Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên ( công viên 30/4 hiện tại ), nằm trên đường Boulevard Norodom – ( Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà ).
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh Trung học, và 101.454 sinh viên Đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ ( trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.
Triết lý giáo dục
Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng ( liberalic) ” được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).
1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.
Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.
3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.
Mục tiêu giáo dục thời VNCH:
1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.
Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
Giáo dục tiểu học:
Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
| Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8] | ||
|---|---|---|
| Niên học | Số học sinh | Số lớp học |
| 1955 | 400.865 | 8.191 |
| 1957 | 717.198[9] | |
| 1960 | 1.230.000[9] | |
| 1963 | 1.450.679 | 30.123 |
| 1964 | 1.554.063[10] | |
| 1970 | 2.556.000 | 44.104 |
Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.
Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).
Giáo dục trung học:
Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
| Tên gọi năm lớp bậc tiểu học | |
|---|---|
| trước 1971 | sau 1971 |
| lớp năm | lớp một |
| lớp tư | lớp hai |
| lớp ba | lớp ba |
| lớp nhì | lớp tư |
| lớp nhất | lớp năm |
| Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp | |
| lớp đệ thất | lớp sáu |
| lớp đệ lục | lớp bảy |
| lớp đệ ngũ | lớp tám |
| lớp đệ tứ | lớp chín |
| Tên các lớp trung học đệ nhị cấp | |
| lớp đệ tam | lớp mười |
| lớp đệ nhị | lớp 11 |
| lớp đệ nhất | lớp 12 |
Trung học đệ nhất cấp:
Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
Trung học đệ nhị cấp:
Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.
Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban Vạn vật; ban Toán; ban Văn chương và ban Văn chương Cổ ngữ – thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
| Số liệu giáo dục bậc trung học[8] | ||
|---|---|---|
| Niên học | Số học sinh | Số lớp học |
| 1955 | 51.465 | 890 |
| 1960 | 160.500[9] | |
| 1963 | 264.866 | 4.831 |
| 1964 | 291.965[10] | |
| 1970 | 623.000 | 9.069 |
Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.
Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên). Thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm. Mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài thí sinh đậu hạng này, có năm không có. Kế tiếp là hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20)
Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh; và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.
Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.
Trung học tổng hợp:
Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.
Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960
Bổ sung ( theo góp ý của độc giả Nguyễn ):
Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường
Trung-học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở).
Trung-học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở).
Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung học Kiểu mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân khoa Sư phạm của Viện Đại học Cần Thơ.
Trung học kỹ thuật:
Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM).
Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử
Các trường tư thục và Bồ đề:
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.
Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).
Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.
Giáo dục đại học:
Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.
| Số liệu giáo dục bậc đại học: | |
|---|---|
| Niên học | Số sinh viên |
| 1960-61 | 11.708[45] |
| 1962 | 16.835[10] |
| 1964 | 20.834[10] |
| 1974-75 | 166.475[46] |
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng Kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao học hay Tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteurde troisième cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).
Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.
Bổ sung của đọc giả Trần Thạnh (26.12.2013):
VNCH có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:

Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy.
Ecole Normale Supérieure
Ðánh dấu hoa (*) là ông Phạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou.
Ecole Normale Supérieure
Ðánh dấu hoa (*) là ông Phạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges Pompidou.
Theo hệ thống của Pháp (ngày trước):
– Cử Nhân (Licencié), Cao học (DEA), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (Doctorat de 3è cycle),Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État).
Theo hệ thống của Hoa Kỳ:
– Cử Nhân (Bachelor), Master (trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này), Tiến Sĩ (PhD).
Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. ( Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người ).
Từ “ Thạc Sĩ ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp (agrégation). Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.
Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:
Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).
Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc Trường hay Trường Đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…).
Trong mỗi Phân khoa Đại học hay Trường Đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.
Các viện đại học công lập:
Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.

Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng 3/1957-7/1957 ). Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.
Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).
Các viện đại học tư thục:
Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.
Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.
Các học viện và viện nghiên cứu:
Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.
Các trường đại học cộng đồng:
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.
Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sát nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
Các trường nghệ thuật:
Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).
Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.
TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.
Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.
NHÀ GIÁO
Đào tạo giáo chức:
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.
Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.
Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.
Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.

Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đời sống và tinh thần giáo chức:
Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.
Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.
THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965–1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.
Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.
Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu
Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:
- Phan Huy Quát: sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng trưởng Giáo dục Quốc gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
- Nguyễn Thành Giung: sinh năm 1894 tại Sa Đéc; tiến sĩ vạn vật học (Viện Đại học Khoa học Marseille); Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục 1952-53 thời Quốc gia Việt Nam, kiêm Phó Viện trưởng Viện Đại học Hà Nội.
- Trần Hữu Thế: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học (1952), từng dạy học ở Lyon (Pháp) và làm giáo sư ở Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục; từng làm Đại sứ của Việt Nam Cộng hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958 chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
- Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ vào năm 1966.
- Trần Ngọc Ninh: sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, giáo sư Văn minh Đại cương và Văn hóa Việt Nam tại Viện Đại học Vạn Hạnh; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa.[98]
- Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng trưởng Giáo dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]
- Nguyễn Lưu Viên: sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, Bệnh viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục rồi Phó thủ tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa ở Hội nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.
- Ngô Khắc Tĩnh: sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
- Đỗ Bá Khê: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Southern California); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở miền Nam Việt Nam và được xem là “cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam”. Ông còn thiết lập Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974 dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ) và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.
- Nguyễn Thanh Liêm: sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa.
- Các Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình
ĐÁNH GIÁ
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
…
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
…
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:
“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:
“Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.“[107]
***
(Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen)
Huỳnh Minh Tú (biên tập, đối chứng từ nhiều nguồn và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet)
Mời xem thêm:
Advertisements
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




















































