Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Quan hệ Việt - Trung bắt đầu rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam đồng thời giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ 2 nước này xuất hiện nhiều xung đột căng thẳng. Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon tới thăm Bắc Kinh và đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Ba năm sau đó, Việt Nam từ chối tham gia liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc.
Bắc Kinh đã xem đó như mối đe dọa. Tháng 5/1975, Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng nghìn dân thường. Đứng sau viện trợ cho Khmer Đỏ về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự là Trung Quốc. Tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sacũng nổi lên rõ hơn khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền với hai quần đảo.
Ngày 3/11/1978, Việt - Xô ký hiệp ước hữu nghị 25 năm - chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô. Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.
Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy đã tuyên bố "phải dạy cho Việt Nam một bài học".
Cuộc chiến 30 ngày
Rạng sáng 17/ 2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.
Dù từng tuyên bố về ý định trừng phạt trước đó, cuộc tấn công của Trung Quốc vẫn bất ngờ với Việt Nam và cả thế giới.
Theo Niên giám châu Á năm 1980, thời điểm Trung Quốc tấn công, tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc chỉ có khoảng 50.000 quân.
Trong khi đó, Trung Quốc sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập; 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Quân Trung Quốc ước lượng có 600.000 người, gấp hơn 10 lần lực lượng tham chiến thực tế của Việt Nam.
Trên mặt trận Lạng Sơn, các cánh quân lớn của Trung Quốc chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chất (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Dù bị bất ngờ song chỉ với lực lượng dân quân địa phương, Việt Nam đã quả cảm chặn đánh, ghìm chân quân Trung Quốc nhiều ngày.
Ngày 20/2, Trung Quốc tăng cường lực lượng chi viện, mở các đường tấn công mới vào điểm cao nhằm tiến xuống phía nam Đồng Đăng. Quân và dân Lạng Sơn bám trụ trận địa, đánh trả mạnh mẽ các mũi tấn công phía trước, phía sau của địch, buộc quân xâm lược phải co về đối phó và bị đẩy lùi ở nhiều mặt trận.
Sau 10 ngày chiến đấu không đạt được mục tiêu, ngày 27/2, Trung Quốc tung thêm một quân đoàn nhằm vào thị xã Lạng Sơn dùng chiến thuật biển người hòng xâm chiếm các mục tiêu quan trọng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt giữa 2 quân đoàn tăng cường của Trung Quốc và lực lượng vũ trang địa phương Việt Nam. Ở điểm cao 417, đoàn An Lão đã đánh bật hàng chục đợt tấn công, loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 850 của Trung Quốc. Đặc biệt, ở khu vực cầu Khánh Khê trên đường 18, chiến sĩ đoàn Tây Sơn kiên cường đã chặn đứng một sư đoàn quân và một tiểu đoàn xe tăng Trung Quốc.
Ở hướng Cao Bằng, hai quân đoàn tăng cường của Trung Quốc hình thành hai cánh quân lớn từ phía tây bắc theo đường Thông Nông đánh xuống và từ phía đông bắc qua Thạch An, Quảng Hòa đánh lên nhằm hợp điểm ở thị xã Cao Bằng.
Cả hai cánh quân đều bị bộ đội địa phương và dân quân Cao Bằng đánh chặn. Cánh quân tây bắc dựa vào sức đột phá của xe tăng bị chặn tại Hòa An. Cánh quân đông bắc cũng bị đánh quyết liệt ở Thạch An và Quy Thuận, bị chặn đứng trên đường số 4. Mũi đánh vào Trà Lĩnh, Phục Hòa gồm 2 sư đoàn nhằm chiếm đèo Mã Phục, Khâu Chia cũng bị lực lượng vũ trang địa phương phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới.
3 ngày đầu, quân Trung Quốc tại Cao Bằng đã bị thiệt hại 4 tiểu đoàn, bị phá hủy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và buộc phải đưa lực lượng dự bị vào vòng chiến. Trên trận địa phòng ngự tại đồi Khâu Chia, các lực lượng của Việt Nam đã chặn đứng một sư đoàn Trung Quốc trong 12 ngày, diệt hơn 4.000 lính. Ngày 12/3, quân Trung Quốc tháo chạy.
Trên tuyến Hoàng Liên Sơn, mờ sáng 17/2, các sư đoàn tuyến 1 của hai quân đoàn Trung Quốc ồ ạt tấn công toàn biên giới Hoàng Liên Sơn từ phía tây bắc đến đông bắc thị xã Lào Cai. Cùng với việc đánh nhiều mũi vào các huyện Bát Xát, Mường Khương, bắn pháo dữ dội vào thị xã, quân Trung Quốc đồng thời bắc cầu qua sông Nậm Thi, cho xe tăng và bộ binh tiến vào thị xã Lao Cai và khu vực Bản Phiệt. Dân quân, tự vệ thị xã cùng các lực lượng vũ trang ở đây đánh trả quyết liệt. Sau 7 ngày, hai quân đoàn Trung Quốc không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích của quân và dân Hoàng Liên Sơn.
Trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, cùng một lúc quân Trung Quốc chia các hướng đánh vào nhiều điểm. Hai sư đoàn Trung Quốc tiến công theo đường 10 vào Nậm Cúm, Phong Thổ (Lai Châu) và đụng độ với lực lượng vũ trang địa phương. Qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ.
Ở Hà Tuyên, một sư đoàn Trung Quốc tấn công vào các đồn chốt biên phòng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của công an vũ trang, dân quân, bộ đội các huyện Đồng Văn, Thanh Thủy, Mèo Vạc và đồng bào các dân tộc. Hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng.
Tại Quảng Ninh, Trung Quốc dùng hai sư đoàn bộ binh tiến công vào Pò Hèn, Móng Cái, Cao Ba Lanh, huyện Bình Liêu. Trong hai ngày 19 và 20/2, hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui, tháo chạy sát về biên giới.
Trung Quốc rút quân
Ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố "hoàn thành mục tiêu chiến tranh" và rút quân. Các nhà quan sát lúc đó cho rằng rút lui là hành động rất khó, có thể gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nếu bị quân tinh nhuệ Việt Nam phản công.
Ngày 7/3, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân. 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân.
Trải qua 30 ngày chiến đấu ác liệt, các lực lượng vũ trang tại chỗ và đồng bào dân tộc 6 tỉnh biên giới Việt Nam đã dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều đánh bại "chiến thuật biển người, thọc sâu phá hoại" của quân Trung Quốc.
 
Xem thêm:







>> Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Ai nợ ai?

Theo số liệu công bố, trong hành động quân sự mưu toan phá hoại, 62.500 lính Trung Quốc (hơn 1/10 tổng số được huy động) bị thiệt mạng, 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn bị tiêu diệt, thiệt hại; 550 xe quân sự trong đó có 220 xe tăng, xe bọc thép (hơn một nửa số tham chiến) bị bắn cháy, 115 đại bác và súng cối hạng nặng bị phá hủy…Giới phân tích nhận định, thay vì dạy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc đã học được bài học quân sự đắt giá của chính mình.
Tuy nhiên, cuộc xâm chiếm của Trung Quốc cũng gây ra những tổn thất nặng nề cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn, hàng chục nghìn người thiệt mạng trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ nhỏ. Hiện vẫn chưa có số liệu thống nhất về số thương vong từ phía Việt Nam (thông tin này Tòa soạn bổ sung sau khi có thắc mắc của độc giả về số liệu những người dân, chiến sĩ Việt Nam bị thiệt mạng); 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; hàng chục nghìn ha hoa màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản.
Từ 18/3/1979 đến cuối năm 1988, Trung Quốc đã không rút hết quân như tuyên bố. Suốt gần 10 năm đó, chiến sự vẫn tiếp diễn, cao điểm nhất là năm 1984-1985. Nhiều đơn vị quân đội của Trung Quốc đã được luân chuyển tới biên giới, biến Việt Nam thành thao trường.
Việt Nam vì thế buộc phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự lớn dọc biên giới. Tình trạng chiến tranh khiến kinh tế Việt Nam thiệt hại nặng nề.
Năm 1992, Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Cuộc chiến biên giới phía bắc, vì nhiều lý do, trong suốt một thời gian dài đã ít được công bố.
Theo VNEXPRESS

Ô Lâu còn đó câu hò

  • Nguyễn Đặng Kỳ
Ảnh: Mai Lĩnh

Trăm năm vì lỗi hẹn hò

Cây đa bến cộ con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi!
Chuyện xưa kể rằng, có chàng thư sinh từ phương Bắc trên đường vào kinh (Huế) ứng thí, đã gặp cô lái đò ngang trên sông Ô Lâu rồi hai người đem lòng mến thương nhau. Sau kỳ thi, chàng về quê và ước hẹn sẽ sớm quay lại gặp nàng. Nhưng rồi, bặt vô âm tín, chàng không trở lại như đã hứa hẹn. Sau thời gian dài mòn mỏi đợi chờ, cô lái đò lâm bệnh mà chết. Lúc chàng trai ngày ấy trở lại tìm người yêu thì cô lái đò năm xưa đã không còn nữa. Câu chuyện đơn giản như hàng ngàn câu chuyện tình khác, nhưng không hiểu sao với tôi cảm giác mến thương cô gái đa tình ngày xưa cứ đọng mãi trong lòng và cứ hẹn với mình thế nào cũng phải tìm đến bến đò ấy một lần.
Để thỏa ước nguyện đó và cũng là dịp thưởng ngoạn khung cảnh trữ tình của sông Ô Lâu thường được nhiều văn nhân, thi sĩ ca tụng. Cuối tháng 6 vừa qua, giữa những ngày hè nắng như đổ lửa, nhóm bạn chúng tôi xuống đò làm một chuyến thám du đường thủy.
Ảnh: Mai Lĩnh.
Xuất phát từ một bến sông làng Hội Kỳ, những bụi tre vươn mình trên dòng sông đẹp như tranh vẽ. Nước trong vắt, mát lạnh, mơn man bàn chân, chúng tôi xuôi theo dòng sông lặng lờ trôi. Bên kia là Mỹ Xuyên rồi đến Phước Tích - ngôi làng nổi tiếng với nghề gốm cổ và những ngôi nhà rường đã hàng trăm năm tuổi. Thuyền chạy khoảng 15 phút, ra đến ngã ba sông, nơi gặp nhau của hai dòng sông Ô Lâu và sông Thác Ma.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí gọi sông Ô Lâu là sông Lương Điền; còn sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí thì gọi là sông Lương Phước, ở địa giới hai huyện Phong Điền (Thừa Thiên) và Hải Lăng (Quảng Trị), tục gọi là sông Độc, có hai nguồn, phía hữu là sông Ô Lâu, phía tả là sông Thác Ma (tên cũ là Tho Lai hay Thu Lai).
Sông Thác Ma (chảy qua cầu Mỹ Chánh trên quốc lộ 1A) bắt nguồn từ vùng đồi núi ở phía tây huyện Phong Điền chảy về phía đông qua đất Hải Lăng rồi nhập vào sông Ô Lâu.
Sông Ô Lâu cũng xuất phát từ vùng núi thuộc huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên, len lỏi qua vùng đồi núi Phong Điền, băng qua quốc lộ 1A tại cầu Câu Nhi, sang đất Hải Lăng rồi gặp hai con sông Thác Ma và Ô Giang (một đoạn nối dài của sông Vĩnh Định từ Triệu Phong vào vùng trũng Hải Lăng) nhập dòng trước khi đổ ra phá Tam Giang.
Ảnh: Mai Lĩnh
Từ ngã ba sông, chúng tôi xuôi dòng Ô Lâu về hạ lưu. Bên này là Lương Điền, Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ... bên kia là Phước Tích, Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm... Khung cảnh hai bên bờ êm đềm với những bến nước, con thuyền, những hàng tre đong đưa. Thỉnh thoảng lại có vài cô gái giặt đồ trên bến sông. Lòng tôi bỗng bâng khuâng, tự hỏi những “người đẹp” tên T., V., Kh. tôi từng “quen” trong những ngày bom đạn xưa, nay còn ở quanh đây hay trôi dạt phương nào?
Qua khỏi làng Văn Quỹ đến Hưng Nhơn, Phú Kinh... càng đi xuống sông càng hẹp, hai bên là cánh đồng rộng, thỉnh thoảng một vài cánh đồng sen rực rỡ khoe màu, hoa lá đung đưa trong không gian ngào ngạt hương sen giúp chúng tôi thấy nhẹ nhàng giữa cái nắng chói chang mùa hạ với gió Lào rát mặt.
Ảnh: Mai Lĩnh
Thuyền chạy khoảng 10 cây số thì đến Vân Trình. Đây là nơi Ô Lâu gặp sông Ô Giang và tiếp tục đổ ra phá Tam Giang. Sau khi vượt qua cầu Vân Trình, lòng sông ngày càng rộng, mặc dầu chưa đến phá nhưng những bè cá, những chiếc thuyền đánh cá, những tiếng lóc cóc đuổi cá của ngư dân vùng sông nước Tam Giang đã rộn rã khắp vùng.
Thời xưa, khi phương tiện giao thông còn thô sơ, đường bộ chưa được mở mang, việc vận chuyển hàng hóa, đi lại giữa Quảng Trị, Huế chủ yếu dựa vào đường thủy thì sông Ô Lâu và các phụ lưu như Vĩnh Định - Ô Giang và Thác Ma đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ nông sản của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng.
Ảnh: Nguyễn Vỹ.
Từ sông Thạch Hãn, ghe thuyền vào sông Vĩnh Định đến các chợ thu mua nông sản và đón khách rồi theo sông Ô Lâu vô phá Tam Giang, rẽ vô ngã ba Sình ngược sông Hương để lên Huế và ngược lại trên thủy lộ này. Ghe thuyền dập dìu đi lại, từ đó mới có cảnh:
Thuyền ai đi trước
Cho tôi lướt đến cùng
Chiều về trời đất mênh mông
Phải duyên thì xích lại, cho đỡ não nùng tiếng sương.
Cũng từ đây biết bao nhiêu chuyện tình đã xảy ra, hư có, nên có, mới ra những chuyện: Trồng trầu lộn với dây tiêu, Con đi đò dọc mẹ liều con hư.
Thuyền chúng tôi chạy thêm khoảng gần nửa giờ thì vào đến Đại Lộc (xưa gọi là Đại Lược), nơi đây ngày xưa cũng là nơi hội tụ trên thủy lộ Huế - Quảng Trị. Chợ Đại Lược ngày trước là một ngôi chợ khá lớn, các loại ghe thuyền chở hàng hóa, khách thương từ Huế về đây tấp nập ngược xuôi.
Ảnh: Mai Lĩnh
Tình về Đai Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là chỗ rẽ của lòng
Gặp nhau chẳng biết trên sông bến nào.
Không biết ngày xưa chợ Đại Lược có nằm sát sông Ô Lâu hay không, nhưng hiện nay thì chợ cách sông khá xa, nên chúng tôi không ghé vào và cũng không có ý định vào phá Tam Giang nên cho quay thuyền trở ra.
Rời Vân Trình, sau bữa ăn trưa với món lẫu cá dét ngon tuyệt ở một quán ăn bên ngã ba sông, chúng tôi theo dòng Ô Giang đi khoảng hơn một cây số vào vùng trũng của Hải Lăng, nơi có những xóm càng độc đáo.
Đây là một vùng đất trũng mênh mông với hàng ngàn hecta ruộng sâu ngập nước quanh năm. Cảnh vật khiến cho ta liên tưởng đến mùa nước nổi ở miền Tây Nam bộ, có khác chăng là nhìn về phía tây thấy rặng Trường Sơn xanh xanh chập chùng xa thẳm.
Càng là từ để chỉ những xóm nhà và vườn tược trên đất cao nhô ra như những “bán đảo” trên vùng đồng ngập nước mênh mông này. Nông dân các làng gần đó ra càng mở rộng diện tích canh tác rồi làm nhà ở, có lẽ cũng là do nhu cầu mở rộng đất thổ cư khi dân số phát triển. Nhưng, hỏi nhiều người, chưa được ai giải thích vì sao gọi những xóm đó là “càng”, nên tôi đoán rằng địa dạng những xóm càng này giống như những càng cua, vươn ra trên mặt nước chăng?
Sau một hồi vòng vèo quanh co, chúng tôi đến một đoạn Ô Giang thẳng tắp, hai bên bờ có đê bao với những cống thoát nước, phía sau là đồng ruộng bạt ngàn với những sóng lúa nhấp nhô dưới ánh nắng mùa hạ miền Trung. Thuyền cứ chạy, nước sông cứ lững lờ trôi, gió Lào vẫn thổi rát mặt, trời trong xanh không một gợn mây, chúng tôi được “tận hưởng” cái nắng hè Quảng Trị một cách trọn vẹn. Giữa cánh đồng bao la chỉ có lúa và lúa, không một bóng cây, nổi bật trên nền trời là ngọn tháp chuông của một ngôi nhà thờ hiện ra trước mắt. Khoảng nửa giờ sau thuyền cập bến sông ngay trước nhà thờ Cây Da.
Ảnh: Mai Lĩnh
Ngôi thánh đường khá bề thế và đẹp ở làng Cây Da (thuộc xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng). Ngày trước, muốn đến đây người ta phải dùng xuồng, thuyền hoặc men theo các đường đê, bờ ruộng đi vòng khá xa. Ngày nay việc đi lại đã thuận tiện hơn nhiều. Trong khuôn viên nhà thờ Cây Da có một ngôi trường do cha xứ lập nên để dạy cho các con em trong làng và các càng chung quanh.
Rời Cây Da, lại theo dòng Ô Giang trở về Ô Lâu, bên này sông là Hà Lỗ, Câu Nhi, bên kia là Lương Điền, chúng tôi đã trở lại ngã ba sông nơi cái doi đất hình đầu con rùa của làng Câu Nhi nhô ra sông, là nơi mà dân làng Câu Nhi cho rằng linh địa của làng. Từ đây chúng tôi trở về bến sông ở Hội Kỳ, nơi xuất phát chuyến du ngoạn này.
Sau gần một ngày rong ruổi trên dòng sông huyền thoại, vui thì vui nhưng lòng tôi vẫn mang nặng nỗi băn khoăn là chưa ghé thăm nơi bến sông xưa, nơi diễn ra câu chuyện tình làm nên câu hò quen thuộc, truyền khẩu trong dân gian Quảng Trị.
Nhiều lần hỏi thăm người địa phương. Nơi nào là bến đò ngày xưa ấy? Có người nói là bến đò nơi làng Cây Da, theo họ thì câu ca dao là “Cây Da, bến Cộ con đò khác đưa” (viết hoa).Tôi vẫn băn khoăn vì bến đò phải nằm trên đường cái quan trong khi đó làng Cây Da nằm ở giữa vùng trũng nên đường cái quan không thể đi qua đó được.
Ảnh: Mai Lĩnh
Có người lại nói là bến đò ấy nằm phía tây cầu Mỹ Chánh trên đường quốc lộ hiện nay. Tôi vẫn băn khoăn vì nếu bến đò ở đó là qua sông Thác Ma chứ không phải Ô Lâu. Cũng có người cho biết ngay tại Lương Điền có một bến đò gọi là Ba Bến vì từ đây có đò vượt Ô Giang qua Câu Nhi và có đò vượt Ô Lâu qua Mỹ Xuyên, nghe thì biết vậy chứ chưa chắc chắn gì cả. Thôi đành lòng vậy, lại hẹn với Ô Lâu một dịp khác chứ biết làm sao hơn!
May mắn khi về nhà, đọc lại một số sách xưa như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí của Lê Quang Định hoặc Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quan triều Nguyễn, trong đó có ghi rõ có bến đò Lương Điền ở huyện Hải Lăng và bến đò Mỹ Xuyên thuộc huyện Phong Điền và con đường cái quan từ Huế ra đến Mỹ Xuyên qua Lương Điền đến Trường Sanh, Diên Sanh. Tại Mỹ Xuyên lại có nhà trạm là nơi có nhiệm vụ chuyển công văn thư từ của triều đình. Từ những tài liệu trên, tôi tin rằng bến đò năm xưa nằm ở làng Lương Điền và Mỹ Xuyên, trên đường cái quan từ phía bắc vào Huế.
Cây đa, bến cũ nay đã khác xưa, nhưng không nhiều thì ít cũng mong còn một số dấu tích, hoặc phần mộ cô lái đò năm xưa ở đâu đó. Nếu xác định được thì đó chính là một điểm tham quan thú vị biết bao!

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

(Thời sự) - Bệnh tình của Trưởng Ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh đang ở trong “giai đoạn nặng”, dù thể trạng có khá hơn so với thời gian điều trị tại Hoa Kỳ.

Giáo sư Khải cho biết thể trạng ông Nguyễn Bá Thanh có khá hơn so với lúc mới về nước
Giáo sư Khải cho biết thể trạng ông Nguyễn Bá Thanh có khá hơn so với lúc mới về nước
Thông tin trên được Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, nói với BBC trong cuộc phỏng vấn hôm 3/2.
“Ông Thanh đầu tiên được chẩn đoán là bị rối loạn sinh tủy. Biểu hiện ban đầu là giảm hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu”.
“Sau một thời gian thì chuyển sang giai đoạn tăng bạch cầu, tức là bệnh đã chuyển thành ung thư máu”.
“Đây là giai đoạn bệnh đã trở nên nặng”.
Giáo sư Khải cho biết các chuyên gia Việt Nam đang kết hợp các biện pháp đông tây để điều trị cho ông Thanh.
“Chúng tôi đang tiếp tục giảm bạch cầu như bên Singapore và bên Mỹ. Tại Việt Nam chúng tôi vẫn truyền máu, truyền tiểu cầu, hồng cầu và giảm bạch cầu xuống”, ông nói.
“Từ khi về nước, ông có dùng thêm thuốc kháng sinh dân tộc, dùng thảo dược nhiều hơn”.
“Lượng bạch cầu hiện đã giảm xuống khoảng 5-6% so với tổng số bạch cầu, dù vẫn cao nhưng có giảm so với trước đây.”
“Thứ hai là ông ấy đã điều trị về hóa chất khá mạnh tại Hoa Kỳ. Trung tâm ông ấy điều trị ở Seattle đã làm tương đối tốt.”
Mắc nhiều bệnh khác
Ông đã giữ được lâu hơn, đó là sự cố gắng chung của anh em tổ điều trị. Đó cũng là sự cố gắng của gia đình và cá nhân ông Thanh
Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương
Tuy nhiên, bệnh tình của ông Thanh cũng bị làm cho phức tạp bởi các bệnh khác, ông Khải nói thêm.
“Do dùng nhiều hóa chất nên tế bào gan bắt đầu bị tổn thương. Men gan đã tăng rất nhiều”, ông cho biết.
“Chúng tôi nhận thấy đây là viêm gan do hóa chất, không phải do vi trùng.”
“Trước đây ông từng bị viêm gan B. Đây là bệnh khó tránh khỏi khi dùng hóa chất.”
“Thời gian vừa qua chúng tôi cũng cho thuốc để thải chất độc trong gan ra.”
“Ông còn có bệnh áp xe hậu môn. Bệnh này thì mắc từ lâu rồi, nhưng khi bị rối loạn sinh tủy thì lại nặng lên. Chúng tôi còn phải chữa cái đó nữa.”
“Trước mắt phải tẩy trùng chỗ bị tổn thương và thông chỗ bị rò ở hậu môn.”
Giáo sư Khải cho biết tình trạng của ông Thanh vẫn “chưa nguy kịch”, và “có khá hơn” so với lúc mới về nước, dù thừa nhận “vẫn còn rất nhiều khó khăn trước mắt”.
“Ông đã giữ được lâu hơn, đó là sự cố gắng chung của anh em tổ điều trị. Đó cũng là sự cố gắng của gia đình và cá nhân ông Thanh”, ông nói.
GS Phạm Gia Khải
GS Phạm Gia Khải
‘Không nên lạc quan’
Trước thông tin một số báo trong nước đưa về việc ông Thanh đã “đi lại, nói chuyện được”, giáo sư Khải cho rằng “không nên lạc quan đến mức đó”.
“Thì cũng có lúc đứng lên được. Nhưng không nên lạc quan đến mức đó đâu. Có khá hơn nhưng tất nhiên là không thể ở mức chúng tôi mong muốn được”.
“Ông ấy ăn uống khá hơn, chỉ số sinh hoạt tương đối khá hơn”, ông nói.
Tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh trở thành chủ đề được dư luận quan tâm một thời gian nay
Hôm 7/1, Phó Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ đã có cuộc “tiếp xúc” với truyền thông trong nước và khẳng định: “Trên mạng có nhiều thông tin xấu độc, chia rẽ nội bộ, tung tin. Phải sàng lọc thông tin, không thể nghe bất kỳ thông tin nào trên mạng. Hoàn toàn không có chuyện đó.”
“Báo chí không được biến đây thành thông tin bất thường, giật gân câu khách. Mạng xã hội đưa thông tin xấu là ông Thanh bị đầu đọc bằng phóng xạ, đấu đá tranh giành quyền lực… phải phản bác để định hướng dư luận.
Ông Nguyễn Bá Thanh bị bệnh từ tháng 5/2014, được đưa vào bệnh viện 108 để điều trị rối loạn sinh tủy. Sau đó, ông được đưa sang Singapore điều trị và giữa tháng Tám được đưa sang Hoa Kỳ.
Các bác sỹ nói về khả năng ghép tủy của ông Nguyễn Bá Thanh

Các bác sỹ nói về khả năng ghép tủy của ông Nguyễn Bá Thanh

Theo GS Khải, ông Nguyễn Bá Thanh đã có thể đi lại nhẹ nhàng và nói chuyện với mọi người xung quanh cũng như ăn các thức ăn nhẹ. Trao đổi với chúng tôi vào chiều 31/1, GS Phạm Gia Khải,...
Ông Nguyễn Bá Thanh đã đi lại, nói chuyện được

Ông Nguyễn Bá Thanh đã đi lại, nói chuyện được

Sau ba tuần được chăm sóc tại Đà Nẵng, sức khỏe ông Nguyễn Bá Thanh chuyển biến theo chiều hướng ổn định hơn. Ông Thanh có thể đi lại được, nói chuyện được, ăn được cháo. Đó là nhận định...
Ông Nguyễn Bá Thanh vẫn đủ sức khỏe để ký văn bản

Ông Nguyễn Bá Thanh vẫn đủ sức khỏe để ký văn bản

Sau khi được các bác sĩ Việt Nam điều trị, sức khỏe ông Nguyễn Bá Thanh hồi phục khá tốt. Trên giường bệnh, ông Thanh vẫn có thể ký các văn bản liên quan đến công việc. Trao đổi với...
(Theo BBC)

Cập Nhật Sức Khỏe Ông Nguyễn Bá Thanh

BBC:Giáo sư Khải cho biết thể trạng ông Nguyễn Bá Thanh có khá hơn so với lúc mới về nước

Bệnh tình của Trưởng Ban Nội chính Nguyễn Bá Thanh đang ở trong "giai đoạn nặng", dù thể trạng có khá hơn so với thời gian điều trị tại Hoa Kỳ.

Thông tin trên được Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, nói với BBC trong cuộc phỏng vấn hôm 3/2.

"Ông Thanh đầu tiên được chẩn đoán là bị rối loạn sinh tủy. Biểu hiện ban đầu là giảm hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu".

"Sau một thời gian thì chuyển sang giai đoạn tăng bạch cầu, tức là bệnh đã chuyển thành ung thư máu".

"Đây là giai đoạn bệnh đã trở nên nặng".

Giáo sư Khải cho biết các chuyên gia Việt Nam đang kết hợp các biện pháp đông tây để điều trị cho ông Thanh.

"Chúng tôi đang tiếp tục giảm bạch cầu như bên Singapore và bên Mỹ. Tại Việt Nam chúng tôi vẫn truyền máu, truyền tiểu cầu, hồng cầu và giảm bạch cầu xuống", ông nói.

"Từ khi về nước, ông có dùng thêm thuốc kháng sinh dân tộc, dùng thảo dược nhiều hơn".

"Lượng bạch cầu hiện đã giảm xuống khoảng 5-6% so với tổng số bạch cầu, dù vẫn cao nhưng có giảm so với trước đây."

"Thứ hai là ông ấy đã điều trị về hóa chất khá mạnh tại Hoa Kỳ. Trung tâm ông ấy điều trị ở Seattle đã làm tương đối tốt."
Mắc nhiều bệnh khác

Ông đã giữ được lâu hơn, đó là sự cố gắng chung của anh em tổ điều trị. Đó cũng là sự cố gắng của gia đình và cá nhân ông Thanh. Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Chăm sóc Sức khỏe Trung ương
Tuy nhiên, bệnh tình của ông Thanh cũng bị làm cho phức tạp bởi các bệnh khác, ông Khải nói thêm.

"Do dùng nhiều hóa chất nên tế bào gan bắt đầu bị tổn thương. Men gan đã tăng rất nhiều", ông cho biết.

"Chúng tôi nhận thấy đây là viêm gan do hóa chất, không phải do vi trùng."

"Trước đây ông từng bị viêm gan B. Đây là bệnh khó tránh khỏi khi dùng hóa chất."

"Thời gian vừa qua chúng tôi cũng cho thuốc để thải chất độc trong gan ra."

"Ông còn có bệnh áp xe hậu môn. Bệnh này thì mắc từ lâu rồi, nhưng khi bị rối loạn sinh tủy thì lại nặng lên. Chúng tôi còn phải chữa cái đó nữa."

"Trước mắt phải tẩy trùng chỗ bị tổn thương và thông chỗ bị rò ở hậu môn."

Giáo sư Khải cho biết tình trạng của ông Thanh vẫn "chưa nguy kịch", và "có khá hơn" so với lúc mới về nước, dù thừa nhận "vẫn còn rất nhiều khó khăn trước mắt".

"Ông đã giữ được lâu hơn, đó là sự cố gắng chung của anh em tổ điều trị. Đó cũng là sự cố gắng của gia đình và cá nhân ông Thanh", ông nói.

'Không nên lạc quan'


Trước thông tin một số báo trong nước đưa về việc ông Thanh đã "đi lại, nói chuyện được", giáo sư Khải cho rằng "không nên lạc quan đến mức đó".

"Thì cũng có lúc đứng lên được. Nhưng không nên lạc quan đến mức đó đâu. Có khá hơn nhưng tất nhiên là không thể ở mức chúng tôi mong muốn được".

"Ông ấy ăn uống khá hơn, chỉ số sinh hoạt tương đối khá hơn", ông nói.

Tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh trở thành chủ đề được dư luận quan tâm một thời gian nay

Hôm 7/1, Phó Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ đã có cuộc “tiếp xúc” với truyền thông trong nước và khẳng định: “Trên mạng có nhiều thông tin xấu độc, chia rẽ nội bộ, tung tin. Phải sàng lọc thông tin, không thể nghe bất kỳ thông tin nào trên mạng. Hoàn toàn không có chuyện đó."

“Báo chí không được biến đây thành thông tin bất thường, giật gân câu khách. Mạng xã hội đưa thông tin xấu là ông Thanh bị đầu đọc bằng phóng xạ, đấu đá tranh giành quyền lực… phải phản bác để định hướng dư luận.

Ông Nguyễn Bá Thanh bị bệnh từ tháng 5/2014, được đưa vào bệnh viện 108 để điều trị rối loạn sinh tủy. Sau đó, ông được đưa sang Singapore điều trị và giữa tháng Tám được đưa sang Hoa Kỳ.
 0  0  0  New


Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn

 
Sáng 3/2, UBND TP HCM tổ chức lễ động thổ dự án cầu Thủ Thiêm 2. Đây là cây cầu trị giá hơn 3.000 tỷ, có 6 làn xe nối trung tâm Sài Gòn và khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2).

Công trường metro - ngày đêm hối hả

Trái ngược với hình ảnh lộng lẫy của Sài Gòn trong không khí đón năm mới là sự hối hả của những người đang miệt mài làm việc trên đại công trường của dự án tuyến Metro số 1.
Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn
Cầu Thủ Thiêm 2 có 6 làn xe, tổng chiều dài là 1.465 m, trong đó phần cầu 885,7 m. Công ty cổ phần Đầu tư Đại Quang Minh là chủ đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn
Cầu được thiết kế theo kiểu dây văng, trụ tháp chính được thiết kế mô phỏng đầu rồng cao 113 m, nghiêng về phía khu Thủ Thiêm (quận 2). 
Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn
Cầu Thủ Thiêm 2 có điểm đầu tại đường Tôn Đức Thắng - Lê Duẩn (quận 1) vượt sông Sài Gòn sang quận 2.
Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn
Tổng vốn đầu tư của dự án là 3.100 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào dịp 30/4 năm 2018. Theo thiết kế, phía bờ quận 1 có 3 đường dẫn lên cầu. Phía bờ quận 2 có đường dẫn kết nối vào đại lộ Vòng cung trong khu Thủ Thiêm.
Khởi công cây cầu trị giá 3.100 tỷ ở Sài Gòn
Phó Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Hữu Tín cho rằng Cầu Thủ Thiêm 2 kết nối trung tâm thành phố với khu đô thị Thủ Thiêm tạo nên động lực phát triển cho vùng. Đây là cây cầu có kiến trúc nổi bật trên sông Sài Gòn, tạo điểm nhấn cho thành phố ở cửa ngõ phía đông.Trường Nguyên
Ảnh do chủ đầu tư cung cấp