Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Vài nét về Ca Nhạc Saigon trước 1975



Vài nét về Ca Nhạc Saigon trước 1975


Lời người viết: Lâu rồi các bạn bè thân hữu mỗi khi gặp tôi cứ hỏi “Liệu ông có viết lại các mẫu chuyện về Ca Sĩ Sài Gòn trước năm 75 được không?”. Bởi dù gì ngày trước ở Sài Gòn tôi viết chuyên mục về điện ảnh tân nhạc cho nhiều báo và tạp chí, mà nhật báo Trắng Đen với số bán chạy nhất thời đó là chủ chốt; đồng thời cũng là một trong các sáng lập viên “Nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân nhạc Việt Nam” (như Huy Vân TTK báo Tiền Tuyến, tức Binh Cà Gật trong tạp chí Chiến Sĩ Cộng Hòa, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Phạm Hồng Vân, Phi Sơn….) thuộc “thiên lý nhãn”…. trăm tai ngàn mắt thời đó.
Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường, những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”; có thể có những vụ việc đã từng được đăng hoặc chưa được đăng trên báo, viết về người còn ở lại và người đã xa quê hương, quả thật hết sức phức tạp!
Lý do “sự thật hay mích lòng”, nhưng đã hơn 30 năm xin cứ coi đây là kỷ niệm, thật hư thế nào chính người trong cuộc sẽ hiểu!…. Nhưng vì một lẽ giản đơn “không muốn vạch áo cho người xem lưng” đó thôi! ?
Cuối cùng, những phần hồi ký này chỉ trích đăng từng phần, nếu có dịp xin sẽ viết tiếp… và viết ra để những người về sau tham khảo và biết về các Nhạc Sĩ & Ca Sĩ trước 1975, đang ở VN, Hải ngoại đã thành danh như thế nào. 
Tr cau hoi 1CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU?
Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật.
Tôi nhớ buổi sáng chủ nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta, một người lạ mặt vào được tận bên trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa kịp đến.
Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.
Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành chào thua sự lì lợm quá mức này, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”.
Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được , cho lên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, che+linhvới tên được giới thiệu là Chế Linh. (nghệ danh này sau mới rõ nó có hai nghĩa, nghĩa thứ thứ nhất là họ Chế để khẳng định là”con cháu” của Chế Mân, Chế Bồng Nga. Nghĩa thứ hai có nghĩa là “lính chê” bởi người thiểu số được miễn hoãn quân dịch).
Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.
Nhưng nhìn những người ái mộ vỗ tay gào thét kia lại chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vào xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.
Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát tủ của Duy Khánh từng thành đạt. Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).
hoang+thi+thoTừ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình.
Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TCCTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.
Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ.
Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…
Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến… Vì từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) nguyen+van+dongđã cho “ra lò” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan
Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.
Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập. Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà – Anh Tú), Thanh Tuyền, hài có Khả Năng, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…
Elvis Phương nổi danh từ l1972 thời gian vào lúc do Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh đàn chị.
mai
Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuât băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó (1969). Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “lăng xê” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công
Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.
Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), julienghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…
Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.
Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ”Tivi Chi Bảo“, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.
phuongNhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh dược như thế ? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v…
Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò “đào tạo ca sĩ”. Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê “nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số… các ông thầy đều có máu dê.
Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho họ nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ”thưởng thức“, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.
Chuyện bí mật đó là gì ? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ kịch sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kịch nghệ trở lại (cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân cộng).
Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ, mà không khoái khi nghe ông bầu show là quái kiệt Trần Văn Trạch của “Đại nhạc hội một cây” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ca sĩ mầm non” Thanh Lanđang bán phở hủ tíu, chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca..
TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM
Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước, phong trào Kich Động Nhac và Nhạc trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh, các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nhạc ngoại quốc được Việt hóa, lý do bộ thông tin & tâm lý chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.
Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính dù lên điểm, Người ở lại Charlie, Đám cưới nhà binh, Hoa biển, Anh không chết đâu em, Câu chuyện chiếc cầu đã gãy, Kỷ vật cho em, Mùa thu chết v.v.. ra đời.
Loại kích động nhạc, nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai Lệ Huyền lúc đó đang còn sống chung (sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên Đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.
Tr Thien thanh
Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan. Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ vật cho Em, Giọt mưa trên lá… Các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.
Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộ thông tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi người tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Lịch sử một chuyện tình… được ra đời. Trước đó xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps, Les Vampires, Rockin Stars, The 46, Fanatiques, Spotlights, và phong trào Viet Hóa như Phượng Hoàng, Mây Trắng (Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương), CBC (Bích Liên), Crazy Dog (Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn) Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), Tú Hà Thúy (Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh) và những ”thủ lãnh” phong trào lúc đó là Nhac Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy, Kỳ Phát, Nam Lộc.
truong+kyNên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời TT Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội. Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm (sau thành vợ Hoàng Thi Thơ), Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Ánh Tuyết, Cao Thái…
Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, Lưu Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát (một kịch sĩ nghiệp dư) chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…
Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ:
– SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Paolo Tuan, Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuật cao cấp.
– Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, elvisTúy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.
Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích (gọi là “nhạc sến”), cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hát cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Giang Tử, Duy Khánh v.v…
Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức. Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp:
– Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.
– Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.
– Nhãn băng Hồn Nước có Chế Linh,Tu Cong Phung Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…
– Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.
– Tầng lớp SVHS có nhãn bang hiệu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.
Mai le huyen– Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…
– Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga (không phải vợ Hoàng Thi Thơ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quốc nước ngoài mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang.
Thế giới ca nhạc Saigon đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… tháng 04 /1975.
CẶP TRỊNH CÔNG SƠN & KHÁNH LY
Từ ngày tôi viết báo và làm báo đến ngày Sài Gòn “đứt phim” nhiều lần tôi viết về Trịnh Công Sơn, dù đến bây giờ giữa tôi và họ Trịnh chưa một lần tiếp xúc, có lẽ vì Trịnh Công Sơn quá cao ngạo thường nghĩ mình là cái “rún” của nền âm nhạc Việt Nam từ trước và sau 1975, đồng thời họ Trịnh còn phân biệt địa phương chỉ thích giao tiếp với người gốc Huế hay gốc Bắc di cư 1954 sau này 1975, còn người làm báo miền Nam (ngày xưa có hai phe báo Nam báo Bắc, có cả 2 nghiệp đoàn ký giả Nam Bắc khác nhau), họ Trịnh tỏ ra không mặn mà để giao tế hay tiếp xúc.
Tôi nhớ vào khoảng năm 1964-65 phong trào Sinh Viên Học Sinh xuống đường đang bộc phát mạnh từng ngày. Ngày nào SVHS cũng xuống đường đòi xé Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, khanh+lyrồi một Quách Thị Trang nữ sinh trường Bồ Đề (Cầu Muối) ngã xuống do lạc đạn tại bồn binh chợ Bến Thành trong một đêm đầy biến động với lựu đạn cay và cả tiếng súng thị oai của cảnh sát bót Lê Văn Ken, và từ đó nổi lên phong trào hát du ca, toàn ca khúc phản chiến.
Cũng từ đó quán cà phê Văn được hình thành trên một bãi đất gò rộng lớn, bãi đất này từ thời Pháp từng được dùng làm khám lớn còn gọi bót Catinar bên hông pháp đình Sài Gòn. Bãi đất được chính quyền Nguyễn Khánh mà mị ve vuốt cấp cho SVHS làm trụ sở Tổng Hội Sinh Viên do Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho đang lãnh đạo phong trào SVHS xuống đường, để đổi lấy sự yên tĩnh cho thủ đô.
Quán cà phê Văn nằm sau trường Đại Học Văn Khoa, lúc đó do nhóm sinh viên đang theo học tại đây dựng lên và đặt thành tên gọi, được đông đảo anh chị em SVHS ủng hộ hàng đêm cả ngàn người đứng ngồi trên bãi cỏ, mở đầu nghe phong trào hát du ca của cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly qua những Ca khúc Da Vàng.
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly mới từ Đà Lạt vào Sài Gòn. Phong cách biểu diễn của Khánh Ly lúc đó rất bụi, chân đất, miệng phì phà điếu thuốc Salem và hát những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác và đệm đàn. Bấy giờ người ta đã đặt cho Khánh Ly cái tên “ca sĩ cần sa”, “tiếng hát ma túy” v.v… vì giới SVHS thời đó, nhất là giới nữ chưa thấy một ai dám cầm điếu thuốc hút phì phèo nơi công cộng như thế, xem như một cuộc cách mạng trong giới trẻ.
Trước thời gian này họ Trịnh tuy đã có nhiều sáng tác nhưng chưa được ai biết đến như bài Ướt mi, Lời Buồn Thánh, Xin mặt trời ngủ yên (liên hoàn khúc) thanhchưa hội nhập được vào giới ca sĩ phòng trà. Nên biết rằng, ca sĩ thời đó thường hát các nhạc phẩm của những nhạc sĩ đã thành danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Văn Phụng, Lê Dinh, Anh Bằng, Y Vân, Lan Đài… những nhạc phẩm mang tính đại chúng, còn nhạc và tên tuổi của họ Trịnh hãy còn quá xa lạ với mọi người; các ca sĩ không dám hát sợ rằng khán thính giả sẽ tẩy chay khi hát những nhạc phẩm của người không tên tuổi.
Lúc đó Khánh Ly cũng như Trịnh Công Sơn đều chưa có chỗ đứng trong sinh hoạt tân nhạc, khán thính giả chỉ biết đến những ca sĩ như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Châu Hà, Duy Trác, Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Hoài Trung, Hoài Bắc hoặc trẻ trung như Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung v.v…
Khi được giới SVHS chào đón trên bãi đất Văn, bấy giờ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly mới được mọi người để ý, bởi lời nhạc và cung cách biểu diễn của cả hai đang cách tân truyền thống cũ; nhưng tiếp đó cặp Vũ Thành An – Thanh Lan rồi Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên tuy đi sau nhưng lại nổi đình nổi đám cũng từ phong trào hát du ca này. Các nhạc sĩ sau soạn nhạc cũng dành cho giới trẻ cho tầng lớp người mới có kiến thức. doanLời nhạc không rên siết bởi tiếng bom đạn mà rất du dương tình tứ đến lãng mạn gieo đến tâm hồn người nghe ngọn gió mới.
Sau đó quán cà phê Văn đâm ra “hắt hủi” cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, vì tính theo tần suất ái mộ, giới SVHS bắt đầu thích nghe “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông” hơn “Gia tài của mẹ”, “Ca khúc da vàng” v.v…
Các nhạc sĩ trẻ Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên đã khai phá nguồn gió mới cho quán Văn, ngược với dòng nhạc và phong cách sáng tác nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn chống chiến tranh. Lúc này giới trẻ SVHS cảm thấy dòng nhạc của các nhạc sĩ trên có lời ca rất lãng mạn trữ tình luôn qua tiếng hát của Thanh Lan. Chính vì vậy Thanh Lan có nhiều lợi thế hơn Khánh Ly vì được giới SVHS ủng hộ đông đảo hơn, một phần do Thanh Lan là sinh viên Văn Khoa và cà phê Văn như sân nhà. Sau đó còn có cặp ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương v…v…
Trịnh Công Sơn – Khánh Ly bắt buộc phải chuyển thể theo trào lưu, không hát nhạc phản chiến, cả hai muốn lấy lại tư thế “người của mọi người” nên chuyển đề tài qua tình ca như dòng nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng hay Ngô Thụy Miên; và Diễm Xưa lại được Khánh Ly thể hiện xem như ca khúc lãng mạn của Trịnh Công Sơn nhằm đối kháng với “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông”, sau Diễm Xưa tiếp tục với Lời Buồn Thánh, Mưa hồng, Biển nhớ, Tình xa, Một ngày như mọi ngày…
Nói như vậy cho thấy Trịnh Công Sơn đi trước về sau qua những bản nhạc tình.
Le UyenCuối cùng tôi gặp Trịnh Công Sơn vào trưa ngày 30/4/75 tại Đài phát thanh Sài Gòn. Trưa hôm ấy có lẽ Trịnh Công Sơn muốn đến kêu gọi giới văn nghệ sĩ (vì vẫn coi mình là cái “rún” của nền âm nhạc miền Nam ?) bình tĩnh và ủng hộ chính quyền quân quản, còn tôi đến để lấy tin làm báo, vì tờ báo tôi được uỷ quyền còn ra đến số báo đề ngày 2/5/75. Và đúng như bài của Trịnh Cung viết về Trịnh Công Sơn, trưa đó họ Trịnh chẳng nói được lời nào sau micro, còn Tôn Thất Lập có nói gì với họ Trịnh không thì tôi “bó tay” do lúc này ở phòng thu người chật như nêm, ai cũng muốn chen vào muốn “có tiếng nói” làm “ông kẹ ba mươi tháng tư” kể cả tên mặt rô ở chợ Cầu Muối cũng có mặt muốn kêu gọi bạn hàng chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối hợp tác với ban quân quản.
Sau ngày 30/4 ai cũng thấy rõ chiến tuyến của họ Trịnh và Khánh Ly. Quả thật Trịnh Công Sơn phản chiến vì thân cộng, còn Khánh Ly lại thuộc thành phần chống cộng. Có người hỏi tại sao Khánh Ly lại ra đi không cùng họ Trịnh ở lại để hưởng phước lộc trong xã hội chủ nghĩa, khi cả hai từng có công trạng gián tiếp xúi giục mọi người phản chiến, thanh niên trốn quân dịch; vì cả hai như cặp bài trùng?
Khi hỏi cũng đã có câu trả lời, vì khi phong trào du ca không còn tồn tại, chỉ còn nhóm “Hát cho đồng bào tôi nghe” của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập “hát chui” ở đâu đó. Còn Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã tách ra thành hai, bởi cả hai đâu phải đôi “thanh mai trúc mã”, một người bị chứng bất lực còn một người đang Ng Duc Quangtràn trề sinh lực của lứa tuổi thèm yêu.
Trước đó Khánh Ly đã ấy một đại úy biệt kích to con lực lưỡng làm chồng, còn là một bảo kê cho phòng trà khiêu vũ trường của vợ trên đường Nguyễn Huệ (Queen Bee) sau chuyển qua đường Tự Do (Khánh Ly). Do vậy Khánh Ly phải xa họ Trịnh để đến đất nước của Nữ thần tự do, còn nếu ở lại với lý lịch lấy chồng sĩ quan ngụy quân sẽ bị trù dập “ngóc đầu lên không nổi”.
Tuy vậy khi qua Mỹ, Khánh Ly không còn nhớ đến người chồng biệt kích còn đang học tập cải tạo ở quê hương, liền lấy ngay một ký giả từ Sài Gòn cũng vừa di tản để cả hai tiếp tục hô hào chống cộng.
Còn Trịnh Công Sơn, khoảng thời gian mười năm sau ngày Sài Gòn “đứt phim”, họ Trịnh lại bắt đầu nổi tiếng (?), còn tại sao nổi tiếng khi Trịnh Công Sơn chỉ có những bản nhạc “nhạt như nước ốc” sáng tác cổ động cho phong trào thanh niên xung phong hay học đường, việc này mọi người đã biết tôi không nói thêm nữa.
Sự trở lại với nền âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng để Xuân Hồng, Trần Long Ẩn… làm mưa làm gió, nên mọi người còn nhớ Trịnh Công Sơn và báo chí lại đưa tên tuổi họ Trịnh lên chín tầng mây. Và mặc dù bị chứng bất lực nhưng cũng có vài con thiêu thân chịu sa ngã để được “dựa hơi”, mong “hơi hám” của họ Trịnh sẽ cho mình chút hư danh, như cô ca sĩ HN vừa loé lên đã tắt lịm, bởi nhạc cũ họ Tr bang hoangTrịnh thì chưa được hát còn nhạc mới lại nhạt nhẻo chỉ dành cho thiếu nhi hay hát vào mỗi lúc hô “khẩu hiệu”mà thôi.
Biết rằng nhạc không còn hồn, không còn sôi nổi cuốn hút người nghe như thời trước 1975, Trịnh Công Sơn mở quán cà phê trên đường Phạm Ngọc Thạch tức đường Duy Tân cũ, rồi bắt đầu vẽ hươu vẽ nai rồi nhờ mấy tên ký giả cà phê “lăng-xê” nét vẽ không thua gì những Phạm Cung, Trịnh Cung… có người đòi mua cả vài ngàn đô?!. Vậy là hết cuộc đời âm nhạc để rồi chết vì nghiện rượu, mà tác phẩm để lại được mọi người còn nhớ đến toàn nhạc phẩm của những ngày trước 30/4.
Nguyễn Việt

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

MAI LĨNH: Nỗi buồn An Lăng

MAI LĨNH: Nỗi buồn An Lăng: Bài và ảnh: Phạm Hồng Sơn Khách du lịch đến Huế, ai cũng muốn thăm các di tích triều đại nhà Nguyễn mà ngoài hoàng thành xưa...

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

”Trung Quốc đã gửi 320.000 quân đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, ” – Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2014
Trích: “Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân  đến giúp Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.”
Năm 1960, khi Mỹ chưa đổ quân vào miền Nam thì đảng CSVN đã gọi Mỹ là “bọn xâm lược Mỹ”. Mỹ chỉ thật sự đổ quân vào Miền Nam năm 1965 và từ từ rút khỏi Miền Nam từ 1971-1973. (Mỹ đổ quân vào Miền Nam vì sợ Miền Nam rơi vào tay cộng sản, vì hàng trăm ngàn bộ đội Miền Bắc xâm nhập vào Miền Nam đánh nhau dọc theo biên giới Kampuchea – VN và Lào- Việt Nam; Bộ đội cộng sản VN hoạt động trong các tỉnh thành và thi hành chính sách khủng bố, ám sát, ném lựu đạn vào rạp hát và đám đông, gài mìn trên đường lộ giết thường dân di chuyển bằng xe đò diễn ra khắp 18 tỉnh thành miền Nam.)
Sau trận hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974, thì đây là Khi Trung Quốc chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa 1988, thì Đảng CSVN im lặng, không hề phản kháng! Đây chính là hành động xâm lược của Trung Quốc, nhưng  Đảng CSVN và Nhà Nước hiện nay không dám gọi Trung Quốc là bọn xâm lược.  “một cuộc xâm lược là một cuộc tấn công bằng lực lượng từ bên ngoài vào. Mục đích của xâm lược là mở rộng phạm vi trong thời gian dài nên cần một lược lực lượng có quy mô lớn để giữ đất đai, lãnh thổ và bảo vệ quyền lợi trên lãnh thổ xâm chiếm.”.
“… người Nga và người Trung Quốc đã  ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954,”
“Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn”

Trung Quốc và Những cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950 -1975

Tác giả: Địch Cường (Qiang Zhai)
Biên tập: John Lewis Gaddis
Nhà Xuất bản: University of North Carolina Press, Chapel Hill & London
DẪN NHẬP
Trung Quốc và Những Cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1950-1975 là một đóng góp nổi bật cho lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh nói chung và cho lịch sử quốc tế về cuộc Chiến tranh Việt Nam nói riêng. Các nhà sử học từ lâu đã phỏng đoán về mối quan hệ giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong một phần tư thế kỷ chiến tranh tại Đông Dương, kéo dài từ 1950 đến 1975. Cho đến khi cuốn sách này xuất bản thì chúng ta mới biết được thực sự.
Với lối viết rõ ràng và thông suốt đáng ngưỡng mộ, Địch Cường đã dùng hàng loạt những nguồn thông tin đầy ấn tượng từ văn khố Trung Quốc vừa được công bố, các hồi ký, nhật ký, và tuyển tập tài liệu để kể lại việc Trung Quốc đã giúp đỡ Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại nguời Pháp và sau đó là người Mỹ. Sau đây là một số khám phá nổi bật từ nghiên cứu của ông:
Rằng Mao Trạch Đông nhìn nhận phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam trên khía cạnh ý thức hệ lẫn địa chính trị. Cuộc đấu tranh này nhận được hỗ trợ mạnh mẽ vì nó là một phần của chiến lược lớn hơn của ông ta trong việc thiết lập một trật tự thế giới chống đế quốc, nhưng cùng lúc ông cũng không sẵn sàng tách mục đích này ra khỏi quyền lợi của Trung Quốc trong việc cân bằng sự đối chọi giữa Liên Sô và Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu nổi bật về sự giao thoa giữa quyết tâm cách mạng và chính sách thực dụng trong suy tính của Mao.
Rằng viện trợ quân sự của Trung Quốc thì rất quan trọng đối với Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước khi có những thoả thuận từ hiệp định Geneva 1954. Mức độ của nguồn viện trợ này thật là đáng ngạc nhiên vì lúc ấy Trung Quốc cũng đang tham dự vào Chiến tranh Triều Tiên.
Rằng người Nga và người Trung Quốc đã, như chúng ta vốn nghi ngờ từ lâu, ép buộc Việt Minh phải chấp nhận việc chia cắt đất nước vào năm 1954, nhưng rồi sau đó Trung Quốc lại hối tiếc, thái độ độ này đã góp phần vào sự chia rẽ Trung-Sô cũng như việc Bắc Kinh ủng hộ Bắc Việt leo thang chiến tranh với người Mỹ và Nam Việt Nam trong những năm đầu 1960.
Rằng Trung Quốc đã gửi khoảng 320 nghìn quân hậu thuẫn đến Bắc Việt trong giai đoạn 1965-68, và hơn một nghìn người trong họ đã bị thiệt mạng ở đó, và Mao đã sẵn sàng đánh nhau trực tiếp với người Mỹ vào năm 1968 nếu họ đổ bộ lên Bắc Việt.
Rằng Bắc Việt đã không tham vấn Trung Quốc khi họ bắt đầu đàm phán với người Mỹ vào năm 1968, và ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Bắc Việt đã giảm thiểu từ đấy, trong khi ảnh hưởng của Liên Sô tăng dần.
Rằng Trung Quốc đã gặp khó khăn rất lớn trong việc giải thích với Bắc Việt về chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon vào năm 1972, rằng họ đã tìm cách bù đắp bằng cách tăng cường tiếp tế quân sự cho Hà Nội trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán ngưng bắn, và rằng – bất chấp mối giao hảo với người Mỹ – Mao vẫn mạnh mẽ hậu thuẫn việc Pol Pot và Khmer Đỏ nắm chính quyền tại Cambodia vào năm 1975.
Rằng giờ đây ta biết được cuộc Chiến Trung-Việt năm 1979 bắt nguồn từ mối rạn nứt của liên minh Trung-Việt từ cuối thập niên 1960 và đầu 1970.
Đây chỉ là vài điểm sáng tỏ có được từ tài liệu nghiên cứu mang tính mở đường này. Lần đầu tiên nó đã làm nổi bật vai trò quan trọng của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt Nam. Trên cả mọi thứ, “Lịch sử Mới của cuộc Chiến tranh Lạnh” dựa vào việc xem xét lại những gì chúng ta từng cho rằng mình đã hiểu bằng cách truy cập các tài liệu lưu trữ của “phía bên kia”. Cuốn sách này là khuôn mẫu của những nghiên cứu thuộc dạng này. Chắc chắn nó sẽ định hình kiến thức của chúng ta đối với cuộc Chiến tranh Lạnh tại Đông nam Á trong nhiều thập niên tới.
John Lewis Gaddis
Tháng Năm 1999
GIỚI THIỆU
Quá trình thăng trầm của liên minh Trung-Việt là một trong những diễn tiến quan trọng nhất đối với lịch sử Chiến tranh Lạnh tại Châu Á nói chung và với quan hệ ngoại giao Trung Quốc nói riêng [1].
Trong một phần tư thế kỷ sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) ra đời vào năm 1949, Bắc Kinh đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đấu tranh chống lại hai kẻ thù hùng mạnh là Pháp và Mỹ.
Trong những năm 1950, các công thức của Trung Quốc được dùng làm khuôn mẫu cho Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong nỗ lực tái xây dựng miền bắc.
Trong những năm 1960, Bắc Kinh đã cung cấp rất nhiều viện trợ để giúp Hồ Chí Minh chống lại Hoa Kỳ. Hậu thuẫn của Trung Quốc rất quan trọng trong việc ĐLĐVN đánh thắng người Pháp vào năm 1954 cũng như trong khả năng chống trả áp lực của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Đông dương Lần 2. Vào thời điểm đoàn kết nhất giữa VNDCCH và Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã xem quan hệ giữa hai bên “vừa là đồng chí vừa là anh em.”
Tuy nhiên, trong đầu thập niên 1970, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu giảm cường độ và Trung Quốc đang sắp xếp lại các ưu tiên chiến lược của mình bằng cách cởi mở với Hoa Kỳ nhằm cân bằng mối đe doạ từ Liên Sô, mối quan hệ của Bắc Kinh với Hà Nội bắt đầu rạn nứt, với hệ quả là cuộc giao tranh trực tiếp vào năm 1979.
Nói chung, tầm quan trọng của Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp trong các tài liệu của Việt Nam lẫn phương Tây.[2] Các tác giả Việt Nam thường cố ý bác bỏ vai trò của Trung Quốc để nhằm tạo ra một “lịch sử mang tính dân tộc,”[3] trong khi việc khó truy câp các tài liệu lưu trữ tại Trung Quốc đã khiến giới học giả phương Tây giảm thiểu vai trò của Bắc Kinh trong mâu thuẫn Đông Dương.[4] Không có một nghiên cứu đầy đủ nào về quan hệ giữa Trung Quốc với VNDCCH trong giai đoạn 1950-1975. Cuốn sách này cố gắng bù đắp sự thiếu hụt ấy bằng cách trích dẫn những tài liệu mới có từ Trung Quốc để trình bày một cách đầy đủ quá trình chuyển hoá trong mối quan hệ Trung Quốc-VNDCCH giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương, trong đó chú trọng vào những khía cạnh chiến lược, chính trị và quân sự của mối quan hệ trên.
Nghiên cứu này phân tích nguồn gốc chính sách Đông Dương của Bắc Kinh bằng cách đặt nó vào bối cảnh lịch sử, địa phương và quốc tế, nơi nó được thảo ra.
Nghiên cứu này cũng điều tra các nguyên nhân dẫn đến sự thăng trầm trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Đặc biệt là nó trả lời một số câu hỏi quan trọng trong việc Trung Quốc dính líu đến Đông Dương. Một số vấn đề này liên quan đến bản chất những mục tiêu của Bắc Kinh đối với Việt Nam và quá trình thực hiện các chính sách của họ.
Tại sao Mao lại quyết định công nhận nước VNDCCH và cung cấp cố vấn quân sự và viện trợ cho Việt Minh ngay sau khi giành được quyền lực ở Trung Quốc 1949?
Các cố vấn Trung Quốc đóng vai trò gì trong việc Hồ Chí Minh đánh thắng người Pháp?
Tại sao Bắc Kinh lại tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954 và cổ vũ cho việc chia cắt Việt Nam?
Trung Quốc đã đóng vai trò gì trong nỗ lực khôi phục miền bắc của VNDCCH sau 1954?
Trung Quốc đã phản ứng ra sao với quyết định của Hà Nội trong việc vực dậy cuộc chiến tranh cách mạng tại miền nam vào năm 1959?
Mao đã phản ứng ra sao khi Washington leo thang chiến tranh tại Việt Nam vào giữa thập niên 1960? Và mong muốn của Mao trong việc tái tổ chức đất nước và xã hội Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các quyết định về Việt Nam của ông ra sao?


Bản đồ Đông Dương. Nguồn: Jacques Dalloz, Chiến tranh Đông Dương 1945-54 (Dublin: Gill & Macmillan, 1987) 
Những câu hỏi sâu hơn nổi lên từ những tương tác giữa Trung Quốc với các đồng minh Sô Viết và Việt Nam. Liệu đã có sự phân chia nhiệm vụ giữa Mao và Stalin trong những năm đầu Trung Quốc can dự vào Việt Nam? Mâu thuẫn Trung-Sô đã ảnh hưởng đến chính sách của Bắc Kinh và quan hệ của nó với Hà Nội như thế nào? Trung Quốc và VNDCCH đã có những dị biệt gì trong việc phát động chiến tranh và theo đuổi hoà bình? Việc Trung Quốc chuyển hướng chiến lược đầu thập niên 1970 đã ảnh hưởng đến quan hệ với VNDCCH ra sao? Và những dị biệt văn hoá, truyền thống nghi kỵ trong lịch sử và tranh chấp khu vực đã ảnh hưởng thế nào đến mối hợp tác Trung-Việt?
Cả hai nước Lào và Cambodia tồn tại trong dưới cái bóng của các cuộc chiến tại Việt Nam, và tranh chấp tại Việt Nam thường lan sang hai quốc gia này. Nghiên cứu này cũng đề cập đến phản ứng của Bắc Kinh đối với những tiến triển tại Lào và Cambodia, đặc biệt là khi chúng có liên quan đến những sự kiện tại Việt Nam. Nó đặt phản ứng của Bắc Kinh vào bối cảnh của chính sách ngoại giao tổng thể cũng như những quan tâm đặc biệt riêng đối với Việt Nam.
Nhìn rộng hơn, chúng ta rút ra được điều gì từ chính sách ngoại giao của Mao qua việc phân tích cụ thể thái độ và hành động của Trung Quốc đối với Việt Nam? Xa hơn, chúng ta rút ra được kết luận gì về việc xây dựng và quản lý đồng minh của phe Cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh qua việc điều tra chi tiết quá trình thăng trầm của mối quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội?
Các chương kế tiếp sẽ nhận diện những động cơ đầy phức tạp phía sau chính sách Đông Dương của Bắc Kinh. Việc cân nhắc những thực thế địa chính trị là một yếu tố trọng tâm trong tính toán của Mao.
Trong suốt thập niên 1950 và hầu hết thập niên 1960, Mao đã xem Hoa Kỳ là mối đe doạ chủ yếu đối với nền an ninh và cách mạng Trung Quốc. Vì thế việc hậu thuẫn Hồ chí Minh và Pathet Lào giúp Mao thoả mãn mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ tại Đông nam Á và đẩy lùi nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Washington.
Vào cuối thập niên 1960 đầu 1970, khi Mao nhận thức mối đe doạ lớn hơn từ Liên Sô và đe doạ nhỏ hơn từ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông bắt đầu sửa đổi lại chính sách của mình và khuyến khích Bắc Việt thoả thuận một giải pháp hoà bình.
Tinh thần trách nhiệm quốc tế và nghĩa vụ phải giúp đỡ một đảng Cộng sản anh em cũng như việc đẩy mạnh cuộc cách mạng chống đế quốc tại châu Á là một yếu tố quan trọng, thường mang tính quyết định trong chính sách của Mao về Việt Nam.
Những hành động của Bắc Kinh về Đông Dương thường được thúc đẩy bởi viễn kiến của Mao về vị trí của Trung Quốc trên thế giới. Khi cống hiến cả đời cho cách mạng, Mao nhắm vào việc thay đổi không chỉ nước Trung Quốc cũ mà cả trật tự thế giới cũ. Thể chế thực dân Pháp tại Đông Dương bao gồm thành phần của một trật tự thế giới bất công và sai trái mà Mao mong muốn dẹp bỏ. Trong suy nghĩ của Mao, nếu không có một thay đổi chống lại hệ thống quốc tế hiện thời, chiến thắng vừa có được của Cộng sản tại Trung Quốc sẽ không được bảo đảm, củng cố và chính danh.
Trong khi trật tự quốc tế cũ đã khiến Trung Quốc phải chịu đau khổ và nhục nhã, thì việc thành lập một trật tự mới sẽ đóng góp cho sự tái sinh và thịnh vượng của Trung Quốc. Mao đặt nền an ninh và thịnh vượng trong nước ngang hàng với việc phát triển phong trào phản đế và các cuộc cách mạng vô sản trên thế giới. Một thế giới gồm các quốc gia Cộng sản cùng chí hướng sẽ là một bảo đảm tốt nhất cho chính quyền của Mao tại Trung Quốc. Mao xen lẫn các quan tâm về vấn đề an ninh với ý thức hệ trong suy nghĩ của mình. Mao và các đồng sự xem cuộc cách mạng của mình tương tự với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại các quốc gia đang phát triển và cho rằng khuôn mẫu Trung Quốc thì quan trọng đối với các phong trào ấy. Xa hơn, Mao can thiệp vào Đông Dương để tự tạo dựng hình ảnh Trung Quốc trên thế giới.
Tuy nhiên Mao không theo đuổi những mục tiêu cách mạng của mình tại Đông nam Á với cùng cường độ trong khoảng thời gian được đề cập trong cuốn sách này. Mặc dù đồng cảm với phong trào chống đế quốc thực dân trên thế giới, Mao cũng không muốn gây chiến với Hoa Kỳ. Vị lãnh tụ Trung Quốc này là một người thực tế, có đủ khả năng để chỉnh sửa chính sách khi gặp phải những khó khăn kinh tế trong nước hoặc những áp lực từ nước ngoài. Ông có khả năng vượt qua những thoái bộ chiến thuật trong nhiều lần nhưng luôn giữ vững lập trường của mình. Ví dụ như từ năm 1954 đến 1960, ông giảm bớt sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với phong trào phản kháng tại Đông Dương để Trung Quốc có thể tập trung phát triển kinh tế trong nước. Mao không ngần ngại đề xuất chiến thuật ôn hoà hoặc nhượng bộ nếu thấy thế lực phản động đang quá mạnh để phong trào cách mạng có thế tiếp tục đấu tranh. Đấy là lý do tại sao ông đã chấp nhận một chia rẽ hoà bình tại Việt nam tại Hội nghị Geneva năm 1954 và can ngăn nỗ lực thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh lúc ấy.
E sợ việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam nếu chiến tranh tiếp diễn, Mao không muốn Trung Quốc dính líu đến một cuộc chiến tương tự như tại Triều Tiên, vốn sẽ làm Trung Quốc trệch hướng quá trình tái xây dựng rất cần thiết trong nước. Nỗi lo trước sự can thiệp của Mỹ cũng giải thích được quyết định của Mao trong việc đưa Lào trở lại tình trạng trung lập trong Hội nghị Geneva 1961-62.
Mao ủng hộ hình thức trung lập của Lào lúc ấy không phải vì ông muốn tạo ra tình trạng trung lập vĩnh viễn ở nước này, như Liên Sô mong muốn, mà bởi vì ông muốn tạo thêm thời gian để Pathet Lào củng cố và phát triển lực lượng, tiến đến giành lấy quyền lực.
Trong tính toán của Mao, nhượng bộ và ôn hoà không có nghĩa là từ bỏ; cách mạng cần phải qua từng giai đoạn. Mao hiểu rõ câu châm ngôn của Lenin “một bước lùi hai bước tiến” khi tiến hành cách mạng. Và từ kinh nghiệm của chính mình, ông kết luận rằng việc chuẩn bị cho chuyển biến cách mạng là một cuộc đua đường dài chứ không phải là cự ly ngắn.
Tính cách cá nhân là yếu tố quan trọng thứ ba trong quá trình hình thành thái độ của Bắc Kinh đối với cách mạng Việt Nam. Khi cân nhắc viện trợ cho Việt Minh, giới lãnh đạo ĐCSTQ không thể bỏ qua mối quan hệ cá nhân mật thiết và tình đoàn kết cách mạng mà họ và Hồ Chí Minh đã có được trong những năm cùng nhau chiến đấu trước đây.
Có cùng những giá trị và niềm tin giống nhau, họ đã trải qua những khó khăn trở ngại tương tự nhau. Hồ đã làm bạn với những đảng viên ĐCSTQ kỳ cựu như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Hoành Nhược Phi, Bành Phái, và Lý Phú Xuân từ những năm 1920, khi ông hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp và sau đó đóng vai đại diện của Đệ Tam Quốc tế hỗ trợ phong trào công nhân và nông dân tại Quảng Đông.
Trong thời kỳ nội chiến ở Trung Quốc vào những năm cuối 1940chính quyền của Hồ đã cung cấp nơi trú ẩn cho quân đội ĐCSTQ từ miền nam Trung Quốc khi họ rút quân sang Việt Nam để tránh quân đội Quốc Dân Đảng tấn công. Qua quyết định giúp đỡ Việt Minh vào năm 1950, Mao nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trao đổi tình hữu nghị giữa hai bên.
[Mao giúp Hồ vũ khí và quân viện năm 1950 để đổi lấy Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi giúp ông Hồ chiếm lấy 1/2 nước VN qua Hiệp định Geneve 20-7-1954,  Mao lấy công lần thứ nhất bằng cách chiếm vài đảo trong quần đảo Hoàng Sa 1956. Sau khi biết Mỹ sẽ rút khỏi Nam VN 27-1-1973, biết trước Miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản, Mao đã đánh chiếm Hoàng Sa 19-1-1974. Đây là lần lấy công lần thứ hai, chiếu theo mật ước trao đổi với ông Hồ hồi 1950- Trần Hoàng]
Cuối cùng, chủ ý sử dụng cuộc đấu tranh quốc tế để phát triển lịch trình chính trị trong nước thường được đặt ở vị trí quan trọng trong các cân nhắc của Mao về Việt Nam. Việc này thể hiện rõ rệt vào năm 1962 khi Mao chỉ trích những đề xướng được xem là xét lại trong chính sách đối ngoại từ nội bộ đảng và nhấn mạnh lần nữa sự cần thiết phải chống lại chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bao gồm cuộc đấu tranh tại Việt Nam.
Sự tái nhấn mạnh việc ủng hộ sự nghiệp phản đế trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã tạo cho Mao một công cụ hữu hiệu để vận động hậu thuẫn từ trong nước cho quá trình “diễn tiến cách mạng” của ông, và để dẹp bỏ những chướng ngại bên trong giới lãnh đạo đảng, vốn đang bị chia rẽ bởi những thảm hoạ của chương trình Bước Đại Nhảy Vọt.
Tương tự, giữa những năm 1965 và 1966 Mao đã dùng nguyên cớ cần thiết phải ủng hộ cuộc chiến tranh của Hà Nội chống lại Hoa Kỳ để phát động một chiến dịch chống đế quốc trong nước, để phục hồi tinh thần cách mạng cấp tiến và để vận động quần chúng đấu tranh chống lại những lãnh đạo “xét lại” trong đảng, những người đang muốn đi theo con đường của Liên Sô nhằm phục hồi chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc. Nói chung, chính sách Đông Dương của Bắc Kinh là kết quả của một tổng thể bao gồm thực tế địa chính trị, niềm tin ý thức hệ, tính cách cá nhân, và các hoàn cảnh chính trị.
Cuốn sách này nhấn mạnh vai trò của khía cạnh con người trong việc làm nên lịch sử. Trước hết là Mao đầy quyền lực với những ý tưởng và tầm nhìn kiến tạo cơ cấu chung cho chính sách về Việt Nam của Trung Quốc.
Ông là người quyết định việc giúp đỡ Hồ Chí Minh, thương thảo với các cường quốc phương Tây, đối đầu với áp lực từ Mỹ, bác bỏ những đề nghị của Liên Sô, hoặc tăng cường quan hệ với Washington trong những thời điểm quan trọng.
Kế đến là những đồng sự thân tín của Mao và những lãnh đạo thứ nhì trong đảng, bao gồm Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Thủ tướng Chu Ân Lai, tổng bí thư đảng Đặng Tiểu Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Trần Nghị, Đại sứ La Quí Ba, các tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh, những nhân vật đã trung thành thực thi những quyết định ngoại giao và quân sự của Mao đối với Việt Nam.
Những chương kế tiếp sẽ liệt kê và đánh giá cụ thể một Mao Trạch Đông đầy lôi cuốn như là một nhà cách mạng nhìn xa trông rộng, một Lưu Thiếu Kỳ cẩn trọng như một nhà tổ chức kỹ lưỡng việc tiếp tế cho Việt Minh, một Chu Ân Lai lão luyện trong vai trò của nhà ngoại giao thông minh tại các hội nghị quốc tế, một Đặng Tiểu Bình cứng rắn khi thương lượng với Bắc Việt, một Trần Nghị thẳng thắn là tiếng nói của Mao trong các vấn đề quốc tế, và Trần Canh cùng Vi Quốc Thanh dày dạn trận mạc trong vai trò cố vấn quân sự trên chiến trường Việt Nam. Họ đã đạt được chiến thắng nhưng cũng mắc phải sai lầm. Tiếng nói của họ làm nên chính sách của Trung Quốc và ứng xử của họ để lại dấu ấn sâu đậm trong mối quan hệ Trung-Việt.
Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội bao gồm cả đồng thuận lẫn mâu thuẫn, hợp tác và đối đầu. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu bản chất và các động lực của mối quan hệ này và đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử phức tạp của chính nó.
Trong suốt lịch sử của mình, người Việt có một thái độ yêu/ghét đối với Trung Quốc. Một mặt, họ có truyền thống hướng về Trung Quốc để tìm kiếm khuôn mẫu và nguồn cảm hứng. Các vua chúa Việt Nam đã bắt chước và vận dụng những phương pháp và tổ chức của Trung Quốc để biến mình thành một lực lượng chính danh. Bày tỏ lòng kính nể đối với triều đình bề trên Trung Quốc là con đường duy nhất để tránh chiến tranh của người Việt, và chấp nhận những định chế văn hoá của Trung Quốc đã trở thành thói quen của giới cầm quyền Việt Nam. Mặt khác, người Việt luôn mong muốn gìn giữ độc lập cũng như truyền thống văn hoá của mình.
Trong những thập niên 1950 và 1960, Cộng sản Việt Nam phải đối diện với những kẻ thù hùng mạnh là người Pháp và người Mỹ khi tìm cách thống nhất đất nước. Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm tham vấn và vũ khí từ Trung Quốc. Nhưng thái độ nghi ngờ vẫn không hề biết mất. Ví dụ Trung Quốc nghi ngờ Hà Nội muốn sát nhập Lào and Cambodia vào với mình thành một “Liên bang Đông Dương” trong khi Bắc Việt cũng dè chừng mối “quan hệ đặc biệt” với Lào khi Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Pathet Lào.
Quan hệ CHNDTQ-VNDCCH bao gồm việc hội nhập và chia sẻ quyền lợi. Hai quốc gia có cùng một triển vọng ý thức hệ và một quan tâm chung về sự can thiệp của người Mỹ vào Đông Dương, nhưng giới lãnh đạo Hà nội muốn tránh xa mối nguy hiểm của việc phải vướng vào mối quan hệ phụ thuộc với Trung Quốc. Một khi giới lãnh đạo Hà Nội và Bắc Kinh vẫn còn có các mục tiêu chung là chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, những quyền lợi riêng rẻ trên sẽ nhượng bộ cho các điểm thoả thuận của hai bên.
Nhưng vào năm 1968 mối quan hệ Trung-Việt đã chuyển nhanh sang chiều hướng xấu khi Washington vừa đưa ra một bước thăm dò trong việc nới lỏng cam kết với Nam Việt. Trong tình hình mới, quyền lợi chiến lược của Bắc kinh bắt đầu có sự khác biệt cơ bản so với Hà Nội. Trong khi lúc này Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là một tiềm năng đối trọng để chống lại Liên Sô, những đồng chí Việt Nam vẫn tiếp tục xem Washington là đối thủ nguy hiểm nhất.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam (1973) và đất nước được thống nhất, những tranh chấp song phương giữa Hà Nội và Bắc Kinh về Cambodia, về bất đồng lãnh thổ trên biển Đông, và việc đối xử với người gốc Trung Quốc tại Việt Nam bắt đầu gia tăng, dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979.
Nghiên cứu này lần đầu tiên vận dụng những nguồn tài liệu do Trung Quốc công bố trong vài năm gần đây. Những tài liệu mới này được xếp vào bốn loại: nguồn hồ sơ lưu trữ, các tuyển tập tài liệu đã được xuất bản, hồi ký và nhật ký, và các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ.

Nguồn Hồ sơ Lưu trữ
Trong khi các nhà nghiên cứu không được truy cập những tài liệu lưu trữ quan trọng như Văn khố Trung ương ĐCSTQ và Văn khố Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh, các văn khố địa phương của đảng tại các tỉnh thì ít nghiêm ngặt hơn và hợp tác hơn với các học giả.
Trong thời gian 1995 và 1996, tôi đã có hai chuyến đi nghiên cứu đến Văn khố Chính quyền Nhân dân tỉnh Giang Tô. Kho tài liệu này bao gồm các chỉ thị do Uỷ ban Trung ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh gửi cho các lãnh đạo tỉnh giải thích vai trò của Trung Quốc trong hàng loạt những vấn đề quốc tế bao gồm Đông Dương.
Từ năm 1958 đến 1966, Văn phòng Đối ngoại của Uỷ ban Nhà nước triệu tập các cuộc họp hàng năm về công tác đối ngoại tại Bắc Kinh, trong đó các cán bộ từ trung ương đảng và các cơ quan chính quyền như Ban Liên lạc Quốc tế ĐCSTQ, Bộ Ngoại giao, và Uỷ ban người Hoa đang sống ở Nước Ngoài báo cáo và giải thích cho các cán bộ chuyên về ngoại giao cấp tỉnh những diễn tiến mới của quan hệ ngoại giao Trung Quốc. Nhiều bài phát biểu và tài liệu nội bộ từ những hội nghị này được lưu giữ tại Văn khố tỉnh Giang Tây. Những tài liệu này trình bày quan điểm và phản ứng của lãnh đạo Trung Quốc đối với những diễn biến trên thế giới nói chung và Đông Dương nói riêng chính xác hơn so với các tường thuật từ báo chí Trung Quốc thời kỳ ấy.
Các Tuyển Tập Tài Liệu Đã Xuất Bản
Trong những năm gần đây Bắc Kinh đã xuất bản nhiều tuyển tập gồm các bản thảo, bài viết, trao đổi và phát biểu của các lãnhđạo như Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Những bộ sách này bao gồm vô số những bức điện tín từ các lãnh đạo trên gửi đến các cố vấn Trung Quốc tại VNDCCH cũng như vô số những ghi chép từ các trao đổi giữa họ và đối tác Việt Nam.
Những bộ sách quan trọng nhất cho cuộc nghiên cứu này gồm Kiến quốc Dĩ lai Mao Trạch Đông Văn cảo (Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi lập nước cho đến nay) gồm 18 bộ (Bắc Kinh XB 1987-98), Mao Trạch Đông Quân sự Văn tập (Tuyển tập các bài viết quân sự của Mao Trạch Đông) 6 bộ (Bắc Kinh XB 1993), Mao Trạch Đông Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Mao Trạch Đông) (Bắc Kinh XB 1994), Chu Ân Lai Niên Phả, 1949-1976 (Biên niên ký của Chu Ân Lai) 3 bộ (Bắc Kinh XB 1997), Chu Ân Lai Ngoại giao Văn tuyển (Tuyển tập các bài viết ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1990), Chu Ân Lai Ngoại giao Hoạt động Đại Sự ký, 1949-1975 (Ký sự những hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai) (Bắc Kinh XB 1993), Lưu Thiếu Kỳ Niên Phả (Biên niên ký của Lưu Thiếu Kỳ), 2 bộ (Bắc Kinh XB 1996).
Hồi Ký Và Nhật Ký
Nhiều quan chức đảng, chỉ huy quân sự, nhà ngoại giao, thư ký và thông dịch viên về hưu đã xất bản những hồi ký và nhật ký cá nhân của mình trong thập niên vừa qua. Trong vài trường hợp, các tác giả nhờ vào những phụ tá trẻ giúp họ đối chứng tài liệu trong các văn khố. Những nhật ký và hồi ký này thường cho thấy những động cơ và tính toán ngầm đằng sau những trường hợp đơn thuần về chính sách.
Không những chúng cung cấp những bằng chứng mới về những lời phát biểu của Mao vốn thường không tìm thấy ở nơi khác, mà còn là một cửa sổ quan trọng cho thấy những gì ông đã đọc. Từ đó ta có thể tự do tìm hiểu mối tương giao trong các hoạt động của Mao với những đồng sự cao cấp và thư ký của mình. Từ những câu chuyện này, ta có thể nhận hiểu được quá trình thảo chính sách cũng như quan điểm của Mao. Những nhật ký và hồ ký cá nhân có ích nhất cho cuộc nghiên cứu này bao gồm Bạc Nhất Ba, Trần Canh, Hu Zhengqing, Lý Việt Nhiên, La Quí Ba, Shi Zhe, Tong Xiaopeng, Vương Bỉnh Nam, Ngũ Tu Quyền, Hùng Hướng Huy, Zeng Sheng, và Zhang Dequn[5].
Những Bài Viết Gián Tiếp
Kể từ giữa thập niên 1980, một số lớn các tài liệu gián tiếp dựa trên các nguồn lưu trữ đã xuất hiện tại Trung Quốc. Chúng bao gồm lịch sử tổng quát về đảng, quân đội, và ngoại giao, các tiểu sử, chuyên khảo và bài viết. Tác giả của chúng đa số từ Bắc Kinh, hoặc là một tập thể các tác giả do đảng tập hợp hoặc các học giả làm việc riêng rẻ được phép truy cập các kho lưu trữ. Những tác phẩm này thường trích dẫn các tài liệu lưu trữ nổi bật. Nhưng vì những cấm đoán của đảng, họ chỉ đề cập đến các nguồn tài liệu này mà không nói rõ nơi lưu trữ chúng.
Khi tìm hiểu những nguồn tài liệu mới đã nói ở trên, tôi đã tránh không để lòng phấn chấn về việc khám phá ra chúng làm ảnh hưởng đến thái độ nghiêm khắc cũng như tính nhạy cảm của mình đối với nội dung vốn vô cùng quan trọng trong việc xem xét bất kỳ bộ phận nào của các thông tin lịch sử.
Khi sử dụng các tuyển tập tài liệu đã xuất bản, tôi hoàn toàn biết rõ rằng chúng đã được giới biên tập viên của đảng lựa chọn, thường là với mục đích chính trị, và chúng có thể không phải là những tài liệu hoàn hảo. Tôi đã cố gắng làm việc một cách cẩn trọng với những bộ văn tuyển này, loại bỏ một lượng lớn những cường điệu và bí ẩn. Tôi cũng đã đối xử với các hồi ký với sự cẩn trọng tương tự, hoàn toàn nhận thức được rằng ký ức của con người thì rời rạc và có thể không đúng sự thật và hồi tưởng của các cá nhân thường là để tự đề cao mình. Mỗi khi có thể, tôi đã đối chiếu và xác nhận các câu chuyện, chỉ ra những dị biệt và mâu thuẫn.
Khi làm việc với các tài liệu gián tiếp dựa trên văn bản lưu trữ, tôi nhận thức rõ rằng mình phải dựa vào sự xét đoán của các tác giả cũng như sự thiếu sót trong các nguồn tài liệu mà các tác giả ấy được phép truy cập.
https://hoangtran204.wordpress.com/2014/01/03/trung-quoc-da-gui-320-nghin-quan-hau-thuan-den-bac-viet-trong-giai-doan-1965-68-trung-quoc-va-nhung-cuoc-chien-tranh-viet-nam-1950-1975/?fbclid=IwAR1X3urU6mGMbtjveddLbk7JOKjivOtmEnOc8Xx9mWjl4c4GyHsmdstTsdk